Luận Văn Thạc Sĩ Luật Học: Khởi Kiện Vụ Án Kinh Doanh Thương Mại Và Thực Tiễn Áp Dụng Tại Tòa Án

Luận văn thạc sĩ luật học phân tích khởi kiện vụ án kinh doanh thương mại và thực tiễn áp dụng tại tòa án, đánh giá hiệu quả pháp lý.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ luật học

2023

91
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu và bối cảnh nghiên cứu

Luận Văn Thạc Sĩ Luật Học với chủ đề Khởi Kiện Vụ Án Kinh Doanh Thương Mại & Thực Tiễn Tại Tòa Án được thực hiện bởi Đỗ Đức Anh dưới sự hướng dẫn của PGS. TS Bùi Thị Huyền tại Trường Đại học Luật Hà Nội. Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích các quy định pháp luật hiện hành về khởi kiện vụ án kinh doanh thương mại (KDTM) và thực tiễn áp dụng tại Tòa án nhân dân. Với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế Việt Nam, số lượng doanh nghiệp và tranh chấp KDTM ngày càng tăng, đòi hỏi sự hoàn thiện các quy định pháp luật để đảm bảo hiệu quả giải quyết tranh chấp.

1.1. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu chính của luận văn là nghiên cứu các quy định pháp luật hiện hành về khởi kiện vụ án KDTM, phân tích thực tiễn áp dụng tại Tòa án nhân dân, và đề xuất các giải pháp hoàn thiện. Nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm: làm rõ các vấn đề lý luận về khởi kiện, đánh giá thực trạng pháp luật, và đề xuất các kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật.

1.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là các quy định pháp luật về khởi kiện vụ án KDTM và thực tiễn áp dụng tại Tòa án nhân dân. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS) năm 2015, so sánh với BLTTDS năm 2011 và thực tiễn áp dụng tại một số Tòa án nhân dân.

II. Khái niệm và đặc điểm của khởi kiện vụ án KDTM

Khởi kiện vụ án KDTM là quá trình cá nhân, pháp nhân nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp phát sinh từ hoạt động kinh doanh, thương mại nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Khái niệm này được phân biệt với khởi kiện vụ án dân sự thông qua các yếu tố đặc thù của hoạt động kinh doanh, thương mại.

2.1. Chủ thể khởi kiện vụ án KDTM

Chủ thể khởi kiện bao gồm các doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh, hộ gia đình sản xuất nông nghiệp, và các cá nhân hoạt động thương mại độc lập. Các chủ thể này tham gia vào hoạt động kinh doanh, thương mại và phát sinh tranh chấp trong quá trình hoạt động.

2.2. Đối tượng khởi kiện vụ án KDTM

Đối tượng khởi kiện là các tranh chấp phát sinh từ hoạt động kinh doanh, thương mại, bao gồm tranh chấp về hợp đồng thương mại, quyền sở hữu trí tuệ, và chuyển giao công nghệ. Các tranh chấp này phải thỏa mãn các điều kiện như phát sinh từ hoạt động kinh doanh, giữa các chủ thể có đăng ký kinh doanh, và vì mục đích lợi nhuận.

III. Thực tiễn áp dụng pháp luật và kiến nghị

Thực tiễn áp dụng các quy định về khởi kiện vụ án KDTM tại Tòa án nhân dân cho thấy nhiều hạn chế, bao gồm việc nộp đơn không đúng thẩm quyền, Tòa án thụ lý sai thẩm quyền, và tỷ lệ bản án bị hủy, sửa do nguyên nhân chủ quan. Luận văn đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp.

3.1. Hạn chế trong thực tiễn áp dụng

Các hạn chế chính bao gồm việc nguyên đơn nộp đơn khởi kiện không đúng thẩm quyền, Tòa án thụ lý sai thẩm quyền, và việc trả lại đơn khởi kiện không đúng quy định. Những hạn chế này dẫn đến sự chậm trễ và thiếu hiệu quả trong việc giải quyết tranh chấp.

3.2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Luận văn đề xuất các giải pháp như hoàn thiện quy định về thẩm quyền của Tòa án, tăng cường đào tạo cho cán bộ Tòa án, và nâng cao nhận thức của các chủ thể về quyền khởi kiện. Những kiến nghị này nhằm khắc phục các hạn chế và đảm bảo hiệu quả giải quyết tranh chấp KDTM.

21/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu yêu cầu tòa án xét xử người khác vì đã làm thiệt hại đến quyền lợi của mình. Bén cạnh đó, khi ban về van đề khởi kiện, việc phân biệt rõ giữa “quyển lsd kiện” và “khởi kiện” cũng là một việc cần thiết. Quyền khởi kiện vụ án dân sự nói chung, hay quyền khởi luật của Việt Nam, trước tiên quyển khởi ki được ghi nhận qua các bản Hiến pháp, hiện nay quyển này tiếp tục được ghỉ nhận, cụ thể tại Hiến pháp năm 2013 đang có hiệu lực, chương II Quyền con người, Đii 14 quy định về quyền và nghĩa vụ cơ bin của công dân như sau: “Ở nước Cộng hỏa xã hội chủ nghĩa Viét Nam, các quyén con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trong, bảo vệ, bảo dim theo Hién pháp và pháp luật” — quyền khỏi kiện được quy định gián tiếp thông qua quy định về quyền dân sự, kinh tế ~ được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiển pháp và pháp luật. Để cụ thể hóa quyền khởi kiện, và đảm bảo quyển khởi kiện được công nhận, tôn trọng, bảo vệ bảo đảm theo Hiển pháp và pháp luật, thì °hplrea sehavn(ieAn.

vuKhf/PI*4BB®40F, wy cập ngày 027/203, Supt soba nfiaden.va/Ki*SI94BB96S7D truy cập nh 02/1/2021 Điều 186 BLTTD§ năm 2015 đã quy định vẻ quyền khởi kiện như sai quan, tổ chức, có nhân có quyền tw mình hoặc thông qua người đại dik pháp khí lên vụ án (sau đây gọi chung là người khỏi kiện) tại Téa án có thẳm quyên dé yêu cầu bảo vệ quyên và lợi ich hợp pháp eủa mình Khi các chủ thể thực hiện “quyên Khoi kiên” trên thực tế, đó chính là *khỏi kiện”. Đó là việc cá nhân, pháp nhân thực hi một trong, những biện pháp được pháp luật cho phép để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của h khi các quyền và lợi ích này bị xâm phạm, bị tranh chap. Cá nhâi pháp nhân có quyên lựa chọn khởi kiện hoặc không kh kiện đến Tòa án, họ có quyền tự. inh đoạt đối với lợi ích cũa mình.

Khi các chủ thể hy nộp đơn khởi kiện đến. tòa án yêu cầu tỏa án giải quyết tranh chấp dân sự nói chung, quyết tranh chấp KDTM nói riêng, thì được gọi là tương ứng là khởi kiện vụ án dan sự và khởi kiện vụ án KDTM. ‘Néu hiểu theo nghĩa hẹp, khởi kiện được. éu là việc các chủ thể gửi don khởi kiện đến Tòa án để yêu cầu Tòa án có thâm quyền “báo vệ công lý, báo vệ quyền con người.

quyền công dân, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyển và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác"5, Tuy nhiên, néu hii theo nghĩa rộng, nội dung vẻ khởi kiện còn bao ham cả việc bị đơn đưa ra yêu cầu phản tố. ối với nguyên đơn, bị đơn đưa ra yêu cầu độc lập với người có quyền và nghĩa. vụ liên quan, người có quyền và nghĩa vụ liên quan đưa ra yêu cầu độc lập đối với nguyên đơn, bị đơn. Vì về bản chat có thể hiểu rằng, phản tổ là việc bị đơn.

đưa ra yêu cầu khởi kiện để chống lại nguyên đơn, đưa ra yêu cầu khởi kiện đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập đổi với minh; còn yêu cầu độc lập có thể được hiểu là việc người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đưa ra yêu cầu khởi kiện đối với nguyên đơn, bị đơn ngay trong cùng, vụ án 48 bảo vệ quyền, lợi ích của mình. Trong phạm vi nghiên cứu Luận văn * Khoân | điều BLTTDS 2015 này, người viết nghiên cứu và trình bảy về khởi kiện theo nghĩa hẹp. V8 khái niệm khởi kiện vụ án KDTM, các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành chưa trực tiếp đặt ra một khái niệm chính thức cho việc khởi kiên vụ án KDTM. Bên cạnh đó, qua nghiên cứu một số giáo trình có liên quan như Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam”, Giáo trình Luật thương mại Việt 'NamÊ, tác giả nhận thấy các giáo trình nảy cũng không trình bay một cách trực tiếp về khái niệm khởi kiện vụ án KDTM.

“Trên co sởnghiên cứu về khởi kiện vụ án dan sự nói chung, về khởi kiện vụ án KDTM nói riêng, tác giả luận văn xin đưa ra khái niệm vẻ khỏi kiện vụ án KDTM như sau: “Khối kiện vụ án KDTM là việc cá nhân, pháp nhân nộp đơn yêu cầu Toà án giải quyết tranh chắp KDTM nhằm bảo vệ quyên, lợi ích hop pháp của mình hay của người kh 1. Đặc điểm cña khỏi kiện vụ án kink doanh, thương mai Thứ nhất, chủ thể khởi kiện vụ án kinh doanh, thương mại Kinh doanh là việc thực hi Tiên tục một, một số hoặc tắt cả công đoạn. của quá trình từ đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận”. Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục dich sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dich vụ, đầu tu, xúc tiễn thương mại và các hoạt động nhằm mục dich sinh lợi khác`9, ‘Chi thé thực hiện các hoạt động KDTM nêu trên là các cá tổ chức kinh.

tẾ được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh. Chủ thể khởi kiện vụ án KDTM là các chủ thé theo quy định của pháp. luật được tham gia vào các hoạt động KDTM và phát sinh tranh chấp trong các ? Tưng Đại học Luật Ha Nội 2019), iáo rin lu dr đn ự Hộ Nam NXD Công an nhân di "Trung Đại họ Luật Hà Nội 2020) Giáo inh lt ương mại Ye am tập 2.NXH Tự phú, "Khoản 21 itu 3 LutDoinh nghiệp nim 2020, '° Khôản| Điu3 Luật Tiươngmại nam 2008, " quan hệ KDTM. "Như vậy, có thể xác định được chủ thể khởi kiện vụ án KDTM bao gồm.

các doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật; những, đối tượng có hoạt động kinh doanh không cin đăng ký kinh doanh như hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối; những người bán hằng rong, quà vặt, buôn chuyển, kinh doanh lưu động, kinh doanh thời vụ, làm địch vụ có thu nhập thấp xhông phải đăng ký hộ kinh doanh trừ trường hợp kinh doanh các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện và những cá nhãn quản lý khác có liên quan đến doanh nghiệp. Thứ hai, déi tượng khởi kiện của vụ án kink đoanh, thương mại Đối tượng khởi kiện là các dạng tranh chấp của mối quan hệ xã hội được. pháp luật điều chinh, Do vậy, đối tượng khởi kiện của vụ án KDTM là những, dang tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại theo quy định của pháp luật. Một số dạng tranh chấp trong hoạt động kinh doanh, thương, mại bao gồm: Một là: xuất phát từ hoạt động KDTM giữa các cá nhân, tổ chức có đăng, ký kinh doanh và đều có mục đích lợi nhuận Đây là nhém đối tượng khỏi kiện chính của vụ án KDTM, theo đó khỏi kiện vụ án KIDTM xuất phát từ các hoạt động KDTM của những cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh, kèm theo điều kiện hoạt động kinh doanh đó, cả hai hoặc các bên đều vì mục đích lợi nhuận.

“Trường hợp một bên mặc dù có đăng ký kinh doanh, tuy nhiên khi tham gia vào giao dịch thương mại không vì mục đích lợi nhuận, khi xảy ra tranh chấp và khỏi kiện vụ án thì vụ án đó không được xác định là vụ án KDTM. Nhu vậy rhöm đổi tượng khởi kiện vụ án KDTM nảy có ba dấu hiệu chính i) tranh chap phát sinh từ các hoạt động KDTM; (ii) tranh chấp giữa các cả nhân, tổ chức có đăng ký kinh đoanh; (iii) các chủ thể tham gia đều có mục đích lợi nhuận. Những tranh chấp không thỏa mãn ba dấu hiệu này thì không được xác định là tranh chấp KDTM. Hai là: xuét phát từ tranh chấp về quyền sở hữu tri tuệ, chuyển giao công.

nghệ giữa các cá nha tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận “Tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ trong quan hệ kinh doanh, thương mại được phân biệt với tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ trong quan hệ dân sự nói chung ở chỗ, không đòi hói dấu hiệu về đăng ký kinh doanh của chủ thể có tranh chấp, đồng thời phân biệt với tranh chấp dân sự ở dấu hiệu mục đích lợi nhuận. Các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa các chủ thé đều có mục đích lợi nhuận thì được coi là tranh chấp về KDTM, nếu không thỏa mãn dấu hiệu này. thì được coi là tranh chấp dân sự. Ba là: tranh chấp giữa những người chưa phải thành viên công ty nhưng, có giao dich về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty.

Quy định này là quy định mở rộng thêm thẩm quyền của Tòa án so với BLTTDS số 24/2004/QH11 ngày 15/06/2004 của Quốc hội, được sửa đổi bd sung năm 2011 (BLTTDS năm 2004). Việc mở rộng này xuất phát từ thực ti tranh chấp về giao dịch chuyển nhượng phần vốn góp giữa người chưa phải là thành viên công ty với công ty, thành viên công ty. "Bắn là: tranh chấp nội bộ công ty Quy định này kế thừa quy định về thẩm quyền của Tòa án tại khoản 3 Điều 29 BLTTDS năm 2004 đổi với các tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; giữa các thanh viên của công ty với nhau liên quan đến việc. thành lập, hoạt động, giải thé, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình.

thức tổ chức của công ty. Xét về thực chất thì đây là những tranh chấp phát sinh trong nội bộ công ty liên quan đến việc thành lập, hoạt động, thé, sáp nhập, hop nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty. l3 BLTTDS năm 2015 đã bổ sung một số loại tranh chấp thuộc thẳm quyền của. Tòa án cho phù hợp với yêu cầu của thực.

Cụ thể so với BLTTDS năm 2004, sửa đổi năm 2011 sắm quyền của Tòa án đối với các tranh chấp có. tính nội bộ của Công ty tại khoản 4 Điều 30 BLTTDS năm 2015 đã được mở. rộng thêm về phạm vi chủ thé có tranh chấp (tranh chấp giữa công ty với người quản lý trong công ty TNHH hoặc thành viên Hội đằng quản trị, giám đắc, tẳng giám đốc trong công ty cổ phan) và loại việc tranh chắp (bàn giao tài sản của công ty).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận Văn Thạc Sĩ Luật Học: Khởi Kiện Vụ Án Kinh Doanh Thương Mại & Thực Tiễn Tại Tòa Án là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào quy trình khởi kiện các vụ án kinh doanh thương mại và thực tiễn xét xử tại tòa án. Tài liệu này cung cấp cái nhìn toàn diện về các quy định pháp lý, thủ tục tố tụng, cũng như những thách thức và giải pháp trong việc giải quyết tranh chấp thương mại. Đọc giả sẽ được trang bị kiến thức pháp lý vững chắc, hiểu rõ hơn về quyền và nghĩa vụ của các bên trong quá trình khởi kiện, đồng thời nắm bắt được các bài học thực tiễn từ các vụ án điển hình.

Để mở rộng hiểu biết về pháp luật liên quan đến kinh doanh, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Pháp luật về hộ kinh doanh ở Việt Nam luận văn ths luật. Tài liệu này đi sâu vào các quy định pháp lý dành cho hộ kinh doanh, giúp bạn nắm rõ hơn về cơ chế quản lý và hoạt động của các mô hình kinh doanh nhỏ lẻ tại Việt Nam.

Cả hai tài liệu đều là nguồn tham khảo quý giá cho những ai đang nghiên cứu hoặc làm việc trong lĩnh vực pháp luật kinh doanh, mang đến cái nhìn đa chiều và sâu sắc về các vấn đề pháp lý thực tiễn.