Chương I KHÁI NIỆM "QUYỀN TỰ ĐỊNH ĐOẠT CUA DUONG SỰTRONG TỐ TUNG DÂN SU" VA VAI NET GIỚI THIỆU VỀ SỰ PHÁT TRIEN CUA NHỮNG QUY ĐỊNH CUA PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN TỰ ĐỊNH ĐOẠT CUA DUONG SU.1 Khái niệm "Quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự”. Quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự là một trong những quyền tố tung quan trọng được quy định trong pháp luật. Luật tố tụng dân sự quy định các đương sự có quyền tự định đoạt để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ trước Toà án. Điều 2 Pháp lệnh 29/11/1989 quy định về quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự như sau: "Người khởi kiện vụ án dân sự có quyền rút đơn khởi kiện; thay đổi nội dung khởi kiện.
Các đương sự có quyền tự hoà giải với nhau”. Quyền tự định đoạt của đương sự đó chính là quyền tự do ý chí của đương sự, trong đó đương sự hoàn toàn có quyền chủ động trong việc giải quyết các mâu thuẫn, các tranh chấp và các việc khác có liên quan đến quyền lợi hợp pháp của họ. Quyền tự định đoạt của đương sự có liên quan chặt chẽ đến những quy định của pháp luật nội dung, và như vậy quyền tự định đoạt của đương sự không những thể hiện ý chí, sự chủ động của đương sự trong việc giải quyết các tranh chấp trước khi khởi kiện vụ án mà còn thể hiện ở các giai đoạn tiếp theo của tố tụng như quyền đưa ra yêu cầu, quyền đưa ra chứng cứ. khi mà đương sự đã khởi kiện và được Toà án có thẩm quyền thụ lý.
Toà án nhân dân với tư cách là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải bảo đảm cho đương sự thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của họ theo quy định của pháp luật. Như vậy, quyền tự định đoạt của các đương sự có mối liên quan mật thiết với nhiệm vụ của Toà án va nó có ảnh hưởng trực tiếp đến những quyết định của Toà án. Quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự là một quyền tố tụng rất quan trọng, nó được thể hiện bởi một số đặc điểm sau: Quyền tự định đoạt của đương sự là một quyền tố tụng được pháp luật quy định. Là chủ thể của quan hệ pháp luật nội dung, đương sự có quyền tự mình giải quyết các mâu thuẫn, các tranh chấp trong quan hệ pháp luật nội dung đó.
Các mâu thuẫn, tranh chấp phát sinh từ các giao dịch dân sự không phải là những hành vi nguy hiểm cho xã hội và không được coi là tội phạm như trong luật hình sự. Trong Luật hình sự ta thấy, các hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện bằng hành vi cố ý hoặc vô ý xâm phạm không những đến lợi ích của người bị hại, mà còn đồng thời xâm hại đến lợi ích và trật tự xã hội, mối quan hệ ở đây là mối quan hệ giữa người bị thiệt hại với người đã gây ra thiệt hại và cũng là mối quan hệ giữa người gây thiệt hại với Nhà nước, xã hội, do đó những hành vi của người vi phạm pháp luật hình sự phải bị nghiêm trị. Còn các mâu thuẫn, tranh chấp giữa các đương sự trong đời sống dàn sự không phải là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, không phải là tội phạm, nên pháp luật quy định và bảo đảm cho đương sự có quyền tự định đoạt trong việc giải quyết các mâu thuẫn, các tranh chấp đó. Quyền tự định đoạt của đương sự là một quyền tố tụng, tuy nhiên mọi hành vi định đoạt của đương sự phải tuân theo các quy định của pháp luật.
Điều 12 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Nhà nướcquản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.", do đó pháp luật đòi hỏi tất cả các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp và pháp luật, tất cả các chủ thể xã hội đều phải hoạt động trong khuôn khổ pháp luật. Như vậy, trong quá trình giải quyết vụ án của Toà án, đương sự có quyền thực hiện quyền tự định đoạt của mình. Tuy nhiên, quyền tự định đoạt đó phải được thực hiện trong khuôn khổ mà pháp luật tố tụng dân sự cho phép, không được thực hiện ý chí của mình một cách tuỳ tiện. Mặt khác, pháp luật luôn thể hiện tính giai cấp sâu sắc.
Giáo sư Nguyễn Duy Thông viết “Trong xã hội có giai cấp các quan hệ xã hội được hình thành chủ yếu là phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị, trên cơ sở các quy phạm và quy tắc hành vi do pháp luật của giai cấp thống trị quy dinh". Do đó, việc thực hiện quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự không những phải phù hợp với pháp luật mà còn phải phù hợp với ý chí của giai cấp thống trị. Điều 4 Hiến pháp năm 1992 khẳng định rõ: “Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành cho quyên lợi của giai cấp công nhân và nhân dân lao động và cua các dân tộc, theo chủ nghĩa Mác- Lê Nin và tu tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Quyền tự định đoạt là một quyền tố tụng của đương sự nhưng việc thực hiện quyền này phải là ý chí tự nguyện thực sự của đương sự.
Đây là một đặc điểm quan trọng của quyền tự định đoạt của đương sự, bởi vì quyền tự định đoạt của đương sự là sự thể hiện ý chí của đương sự, mà ý chí đó được thực hiện bằng những hành vi cụ thể, ý chí đó phải xuất phát từ quá trình suy nghĩ, tính toán, cân nhắc cẩn thận của chính đương sự. Pháp luật tố tụng dân sự không chấp nhận sự ép buộc của bất kỳ chủ thể nào đối với đương sự, buộc họ thực hiện quyền tự định đoạt ngoài ý chí của họ. Từ những phân tích trên đây, có thể đưa ra khái niệm về quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự như sau: Quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự là một quyền tố tụng được quy định trong pháp luật tố tụng dân sự, theo đó đương sự có quyền bằng chính hành vi và ý chí của mình thực hiện những hành vi tố tụng nhằm bdo vệ những quyền và lợi ích hợp pháp tại Toà án theo quy định của pháp luật. th Giáo sư Nguyễn Duy Thông, thuyết "Tam quyền phan lập" và bộ máy Nhà nước Tư sản hiện đại, Viện thông tin khoa học xd hội, Trang 2.1 Vài nét so sánh các quy định về quyền tự định đoạt cua đương sự trong tố tụng dân sự với quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng kinh tê, lao động.
Trong tố tụng kinh tế. Điều 2 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế (được Uỷ ban thường vụ Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá IX thông qua ngày 16/3/1994) quy định: "Người khởi kiện có quyền rút đơn khởi kiện, thay doi nội dung khởi kiện, các đương sự có quyền hoà giải với nhau". Như vậy, cũng giống như việc giải quyết vu án dan sự, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế cũng quy định đương sự có quyền tự định đoạt. Tuy nhiên, liên quan đến quyền này giữa tố tụng kinh tế và tố tụng dân sự cũng có những sự khác nhau, đó là: Tố tụng kinh tế ghi nhận quyền này một cách triệt để hơn, phạm vi quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng kinh tế rộng hơn.
Trong Luật tố tụng dân sự ngoài các chủ thể là cá nhân, pháp nhân có quyền lợi bị vi phạm hay tranh chấp có quyền khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ những quyền và lợi ích hợp pháp đó. Ngoài ra, các chủ thể khác như Viện kiểm sát nhân dân, tổ chức xã hội cũng có quyền khởi kiện, khởi tố vụ án dân sự vì lợi ích chung. Như vậy, trong tố tụng dân sự chủ thể của quyền khởi kiện, khởi tố là rất rộng, nhưng đối với tố tụng kinh tế luật chỉ quy định cá nhân, pháp nhân mới có quyền khởi kiện vụ án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, Viện kiểm sát nhân dân, tổ chức xã hội không có quyền khởi kiện, khởi tố vì lợi ích chung như trong tố tụng dân sự. Như vậy, ta thấy quy định của luật về quyền tự định đoạt của đương sự mà cụ thể ở đây là quyền khởi kiện trong tố tụng kinh tế có tính chặt chẽ, tuyệt đối hơn so với tố tụng dân sự.
Mặt khác, trong nền kinh tế thị trường có nhiều hình thức giải quyết tranh chấp kinh tế khác nhau như hoạt động tư vấn hoà giải của luật sư; của những người có kinh nghiệm trong kinh doanh; giải quyết tranh chấp thông qua các cơ quan trọng tài; giải quyết tranh chấp theo thủ tục tố tụng trước Toà án. Đối với 10 việc giải quyết vụ án kinh tế của Toà án, thì Toà án chỉ giải quyết tranh chấp trên cơ sở có đơn khởi kiện của đương sự với điều kiện là: nếu sự việc không được các bên thoả thuận trước là phải giải quyết theo thủ tục trọng tài và nếu các bên không thể hoà giải, thương lượng được với nhau. Quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự còn bị hạn chế bởi phạm vi các loại việc mà pháp luật quy định không được hoà giải (Điều 43 Pháp lệnh 29/11/1989), còn trong tố tụng kinh tế thì không bị hạn chế bởi các loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án, do đó phạm vi hoà giải trong tố tụng kinh tế rộng hơn, bảo đảm cho đương sự thực hiện quyền này một cách triệt để hơn. Ngoài những điểm khác biệt trên, chúng ta thấy rằng nội dung quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng kinh tế và tố tụng dân sự có nhiều điểm tương đồng voi nhau, như đều quy định nguyên đơn có quyền thay đổi yêu cầu, các đương sự có quyền đưa ra chứng cứ, có quyền yêu cầu Toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Đối với tố tụng giải quyết các tranh chấp lao động; Khoản 2 Điều | Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động quy định: "Nguoi khởi kiện vụ án lao động có quyền rút đơn kiện, thay đổi nội dung đơn kiện. Các đương sự có quyền hoà giải”.