CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VE NGUYÊN TAC TUDO. GIAO KẾT HỢP DONG. Khái niệm nguyên tắc tự do giao kết hợp đẳng.11 Nguén gốc của nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng “Tie do” là một danh từ vin đã rat quen thuộc trong ngôn ngữ hing ngày cứng như xuất hiện thường xuyên trong các văn bản hảnh chính; trong cum từ. ôc lập ~ Tự do ~ Hạnh phúc”.
Vay medo là gì? Xét trên nhiều lĩnh vực và đa góc nhìn, thi “tự do” được giải thích ở nhiễu phương điện khác nhau. ‘Theo Oxford English Dictionary, fự đo ia “thực tê của việc Rhông bị kiểm soát bỗi một thé lực đốt với số phận; ÿ chi tự do”? Trong chính tri, tự do bao vate cdo chỉnh trị mà tắt cả các thành viên công đồng. xãi hội được hưởng và là tự do dân sue Trong thân học, tự do là te do Kot những ảnh hưởng của "tôi lỗi, tâm If nô 18, hoặc mỗi quan lễ rằng buộc với thé gian® Tu do được đặt ở từng hoàn cảnh cụ thé va thời điểm khác nhau cũng sé mang ý nghĩa khác nhau. Tự do có thể hiểu là danh tử chỉ trạng thái một dân tộc, một xã hội và các thành viên không bi cắm đoán, han ch vô lý trong các hoạt động xã hội - chính trị.
Hay là trang thái của đất nước không bị giam cầm hoặc không bi làm nô lệ. "Trong lịch sử phát triển của nhân loại, Phương Tây là mảnh đất đâu tiên có tự do, ở đó khát vọng tự do cia con người được đáp ứng va chính sự gặp gỡ của cơn người với tu do đã tạo ra trang thai phát triển rực rỡ. Quan điểm về tự do của phương Tây có thể được tóm tắt như sau: tự do được coi la quyền tự nhiên của con người, là không gian vốn có của mỗi con người. Con người sinh ra đã có tự do, tự do như tài sản hay vốn tự có của mỗi người Quan điểm về tự do của phương Đông thi có nhiễu điểm khác so với phương Tây, tự do là cái cho phép hay là cái được ban phát từ trên zuỗng, như.
là một ân sing của đẳng tối cao trao cho con người. Những nhân thức lệch lạc và mo hỗ như thé về tự do đã lam hạn ché rat nhiéu năng lực phát triển của mỗi cá nhân cũng như của cả công đồng Hay nói cach khác, phương Đông lac hậu vi "Doe fact of at bing convoled by o sujet fete;freedom of wi Oxford Sngih Dictonery Rah of ae soi and police redo winch ae conscered to be the in ofa member of@ comnts: acil tery” Bk rong sb bong apie ds hổi vàcTônhtrnày đc cơilàgm đnđiợc aang lia ea cde Dinh tiên ciamét công đồng: nd ins Orford Engh Dinonry "Freedom from de Bondage or doug fluence of sn 0A serine, worldly te.” Oord Bgl Dienonay. chưa bao giờ xem tư do như đối tượng chính hay linh hôn cia tiền trình phát triển xã hội Vay “Tiedo” là khái niệm đùng trong triết học chính trị mô ta tinh trang khi cá nhân không chiu sự ép buộc, có cơ hội dé lựa chon và hành động theo đúng với ý chí nguyên vong của chính mình. Nó la tién dé sinh ra chủ nghifa tự do theo hướng ý thức hệ ‘Theo quan điểm của hoc viên, qua những quan điểm nêu trên, có thể đưa ra khải niêm về tự do một cách cơ ban như sau: “Tee đo la ý chi cũa ¡ cơn người, không bị Mễm soát hay rằng buộc bởi bắt cứ ai, bắt cứ điều gi để phh hop với lỗi sống xã hội ” Tựu chung lại có thể hiểu tự do theo rất nhiều cách khác nhau dua theo từng hoàn cảnh cụ thé.
Tu do chính la quyền lựa chon của mỗi cá cơn người. Mic điểm của “fự do giao kết hợp đông” Chúng ta sinh ra ai cũng muôn có tự do, vi tự do là những giá tri cơ bản, cốt lỗi, nhưng tự do trong mỗi ca thé chúng ta déu chi có tính trong đối Trong quan hệ giữa con người với tự nhiên, con người không có tự do tuyệt đối vi con người không thé nhân thức hết được hoản toàn tính tắt yêu cũa tự nhiền. Trong quan hệ giữa con người với con người, con người cũng không có tư do tuyệt đối. Su từ do trong zã hội có nhà nước (kể cả trong zã hội có nha nước dân chủ nhất) hạn chế hơn so với sự tự do trong xẽ hội không có nha nước.
Trong xã hội đủ có nhà nước hay không có nha nước, dù có nhà nước dân chủ hay không có nha nước dân chủ, thì mỗi người vẫn bude phải hy sinh một phan tự do của mình. Có loại tự do ma mọi người cân phải được hưỡng ngay, nhưng cũng có loại tự do mà mọi người chưa thể được hưởng ngay. Có quan niệm cho rang, nhu cầu tự do của mọi. người cân phải được nhà nước và xã hội đáp ứng một cách đẩy đủ và vô điều kiện.
Quan niêm này là sai lâm vì không thừa nhân tinh tương đối của tự do. Nếu không thừa nhân tinh tương đối của tư do, thi chúng ta sẽ la người không thực tế 1. Quyên tự đo con người "Tự do không là một ý chỉ mơ hồ, nó đã được gắn với một quyền - điều mả ai cũng phi tôn trọng, Quyển tư do của con người là quyển quan trọng nhất, do đó, khi có mâu thuẫn xảy ra trong những quốc gia bi đồ hộ, mắt tự do thì quyền. fur do dân tộc Vồ cũng quan trọng, "Trong bản tuyên ngôn độc lập của Mỹ khẳng định con người có 3 quyền: Sống (Life) — Tw do (Liberty) — Mint cần hạnh phúc (Pursuit ofhappiness).
Như có thể thay, tư do vừa là quyén lợi của mỗi con người và là sự lựa chon của mỗi con người. Bởi vì mỗi chúng ta ngay từ khi sinh ra, chúng ta không thé lựa chon cha me, giờ sinh, noi sinh hay giới tính. Kể cả trong cuộc sống hang ngày, có những chuyện mả bản thân chúng ta không thé tư quyết định được va tự thực hiện được. Do đó, quyên tự do của mỗi con người về suy nghĩ va hanh đông la tất quan trong Đây là một cá thể độc lập, có suy nghĩ, từ tưởng riêng và có quyền ưa chọn, quyết đính cách sống của minh phù hợp, lâm cho minh vui vẽ, hài lòng với cuộc sống.
Tuy nhiên, việc tư quyết định, lựa chon cia các người phải dựa trên những quy định pháp luật, chuẩn mực dao đức xã hội, phong tục tập quan. Từ do cũng không có nghĩa là cá nhân làm tốn hại tới sự tư do của những người khác, tự do cũng không phải lá việc lâm tréi những quy định pháp luật Mỗi quốc gia đều có dé chế của riêng mình, đưa ra những chính sách để quản lý đắt nước, đầm bao Gn định phát triển kinh té x4 hội, lo cho cuộc sống hanh phúc của nhân dân Do đó, không một quốc gia nảo có quyển xâm phạm hoặc chiêm đoạt sự tư do của quốc gia khác. Một quốc gia tự do có thể hiểu là một quốc. gia không bị xâm chiết bởi các nước khác, một quốc gia hòa bình vả yến âm Bên.
canh đó, trong quốc gia đó, những dân tộc, thành viên của quốc gia đó không bi cắm hoặc han chế thực hiện những hoạt động 24 hồi, chính tì một cách vô ý. Một đất nước để phát triển thì các quyển tự do cơ bản của công dân đều được ghi nhận trong Hiền pháp va trong các luật liên quan Các quyền tư do cơ bản của công dân cân phải được quy định trong Hiển pháp - Văn bản pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất, vì đây là các quyên liên quan đến con người va để bão đâm. sự thông nhất trong việc áp dung. Nhìn vào các quyên tự do cơ bản của công dân hi nhận trong Hiển pháp vả pháp luật, chúng ta có thé đánh giá mức độ dân chỉ nhân đạo, tiên bộ va mdi quan hé giữa nhà nước, xẽ hội và công dân ở mỗi nước.
O Việt Nam, từ khi thành lập cho đến nay, Nha nước luôn luôn tôn trong các quyển tự do cơ bản của công dân va coi đó là một trong những nguyên tắc xây dựng pháp luật của Nha nước. Nha nước ta đã ghỉ nhân các quyển tư do cơ ‘ban của công dân trong Hiền pháp va pháp luật. Mỗi công dân được quyển tự trình lựa chọn và thực hiện các quyển tự do cơ ban của minh trong khuôn khổ của pháp luật mà không có sự ngăn căn, hạn ché nào. Các quyển con người, quyền tự do của công dân Việt Nam do pháp luật quy định gồm có: Quyển bình đẳng trước pháp luật, quyển có nơi ở hợp pháp, quyển tự do cư trú, tự do kinh doanh, tự do đi lại, tư do tin ngưỡng, tự do ngôn luận vả báo chí, tiép cận thông tin, hồi họp, lập hội, biểu tỉnh tự do nghiên cứu, sing tác, tự do lựa chọn nghề nghiệp mưu sinh, tự do hôn nhân.
'Việc để cao các quyển tự do cơ bản của công dân xuất phát tử muc dich hoạt động của Nhà nước ta luôn vì con người, để cao nhân tổ con người trong quả trình xây đựng và phát triển Nha nước va xã hội. Đặc biết, hiện nay, nước ta dang trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyển xã hội chủ nghĩa ma một trong những nội dung quan trong của Nha nước pháp quyền là khẳng định cội nguồn quyển lực nhà nước là 6 nhân dân, trong đó nha nước lả của nhân dân, Điều 2 Hiển pháp năm 2013 khẳng định: “Wha medic Cộng hoà Xã, nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyén xã hội chai ngiữa của nhân dân, đo nhân dân vì nhân dân "Trong nhà nước pháp quyền, một mat, pháp luật bao đầm cho sựphát triển fu do tôi đa của nhân dân, mặt khác pháp luật xây dựng và duy tr xã hội trật tư, dn định, trong đó không chỉ mỗi công dân, mỗi cả nhân, ma bản thân aba nước và những người đứng đâu chính quyển cũng phải tôn trọng pháp luật. Hai mặt dân chủ v pháp luật trong Nhà nước pháp quyén gắn bó hữu cơ, làm tiên để tân tai cho nhau va tạo nên ban chat của Nhà nước pháp quyển trong lich sử nhân loại đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ. "Wha nước báo aden quyén tự do dân chủ cho công dân niung nghiêm cẩm lợi dung các quyền tự do dân chủ để xâm phạm.
đến lợi ich của Nhà nước, của nhân dân ‘Vay qua những phân tích trên, học viên có thể khái quát được cơ bản.