Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Nhà nước và Pháp luật (mã số: 9 38 01 06) với đề tài "Lý luận về vật quyền và sự vận dụng trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam" do nghiên cứu sinh Lê Thị Hoàng Thanh thực hiện tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh năm 2022, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Đinh Trung Tụng và PGS.TS. Đặng Vũ Huân.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong khoa học pháp lý dân sự, vật quyền là một phạm trù lý luận nền tảng, giữ vai trò định hướng cho việc thiết kế chế định quyền sở hữu và các quyền khác đối với tài sản. Việc vận dụng lý luận vật quyền đã được nhiều quốc gia thuộc truyền thống pháp luật thành văn như Cộng hòa Liên bang Đức, Cộng hòa Pháp, Nhật Bản, Liên bang Nga và Trung Quốc áp dụng nhằm bảo đảm tính logic, minh bạch trong cấu trúc lập pháp cũng như hiệu quả thực thi.
Tại Việt Nam, quá trình xây dựng Bộ luật Dân sự (BLDS) qua các thời kỳ (năm 1995, 2005 và 2015) đã từng bước tiếp cận các nguyên lý về vật quyền. BLDS năm 2015 đã đạt được những bước chuyển biến quan trọng: sắp xếp lại chế định quyền chiếm hữu tách rời khỏi nội dung quyền sở hữu; hoàn thiện quy định về quyền đối với bất động sản liền kề; bổ sung quyền hưởng dụng, quyền bề mặt; ghi nhận các biện pháp bảo đảm mang tính chất vật quyền (cầm giữ tài sản, bảo lưu quyền sở hữu, quyền truy đòi của bên nhận bảo đảm). Tuy nhiên, nền tảng lý luận khoa học trong nước về vật quyền chưa thực sự theo kịp nhu cầu thực tiễn. Trước khi luận án được thực hiện, các tài liệu trong nước mới dừng lại ở mức giới thiệu sơ lược từng khía cạnh riêng lẻ, chưa có công trình nào nhận diện một cách toàn diện, hệ thống lý thuyết vật quyền cũng như đánh giá đầy đủ mức độ tiếp thu của hệ thống pháp luật Việt Nam.
Hệ thống pháp luật hiện hành vẫn bộc lộ những hạn chế:
- Số lượng vật quyền hạn chế được ghi nhận còn ít (mới chính thức có 03 quyền: quyền đối với bất động sản liền kề, quyền hưởng dụng, quyền bề mặt; chưa ghi nhận quyền thuê đất dài hạn, quyền ưu tiên, nợ điền địa...).
- Còn tồn tại các khoảng trống pháp lý, chưa bảo đảm tài sản được khai thác tối đa giá trị trong nền kinh tế thị trường.
- Chưa bóc tách rõ ràng các tầng lớp quyền đối với tài sản giữa chủ sở hữu và người không phải là chủ sở hữu khi cùng tồn tại vật quyền trên một đối tượng tài sản.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là nhận diện đầy đủ nội dung lý luận về vật quyền; đánh giá sự vận dụng lý luận này trong hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam; từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật dân sự về quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản.
Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 04 nhiệm vụ nghiên cứu:
- Phân tích, làm rõ và hệ thống hóa một cách tổng thể lý luận về vật quyền (khái niệm, đặc điểm, phân loại, nguyên tắc, nội dung) trong các học thuyết và pháp luật dân sự quốc tế.
- Rút ra các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam từ việc nghiên cứu pháp luật của các nước theo hệ thống pháp luật thành văn.
- Đánh giá thực trạng vận dụng lý luận vật quyền trong hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam, chỉ rõ các kết quả đạt được, bất cập, hạn chế và nguyên nhân.
- Đề xuất các quan điểm, giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam từ góc độ lý luận về vật quyền.
Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
Luận án giải quyết 03 câu hỏi nghiên cứu cụ thể:
- Nội dung chính của lý luận vật quyền là gì?
- Pháp luật về quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản của Việt Nam đã vận dụng lý luận vật quyền như thế nào, có những bất cập và hạn chế gì?
- Các giải pháp nào để khắc phục hạn chế và tiếp tục vận dụng lý luận vật quyền trong hệ thống pháp luật Việt Nam?
Giả thuyết nghiên cứu: Việt Nam đã có các quy định về quyền sở hữu và quyền khác đối với tài sản, song các quy định này vẫn còn những điểm bất cập, chưa tiếp cận triệt để các nguyên lý vật quyền và thiếu sự đồng bộ trong toàn bộ hệ thống pháp luật; do đó, cần làm rõ các hạn chế lý luận và thực tiễn để đề xuất các giải pháp lập pháp và thực thi phù hợp.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các nội dung cơ bản của lý luận về vật quyền dưới góc độ lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật; sự vận dụng, tiếp thu lý luận này trong hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam.
- Phạm vi thời gian: Tập trung vào hệ thống pháp luật thực định hiện hành tại Việt Nam và các nước; khảo cứu pháp luật La Mã cổ đại với tư cách là nguồn gốc lịch sử của lý luận vật quyền.
- Phạm vi không gian: Hệ thống pháp luật Việt Nam và một số quốc gia tiêu biểu thuộc truyền thống pháp luật thành văn gồm CHLB Đức, CH Pháp, Liên bang Nga, Nhật Bản và Trung Quốc. Do giới hạn về dung lượng và nguồn tài liệu, luận án chưa nghiên cứu sâu hệ thống pháp luật án lệ (Common Law).
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào các vấn đề lý luận nền tảng (khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc, phân loại, nội dung các loại vật quyền); đánh giá mức độ thể chế hóa vào BLDS và các luật chuyên ngành liên quan; đề xuất giải pháp lập pháp.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả đã điểm lại các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan trực tiếp đến đề tài:
Các công trình nghiên cứu quốc tế
- Về lý luận tài sản và quyền đối vật: Sách chuyên khảo A Theory of Property của Abraham Bell và Gideon Parchomovsky (2005) xây dựng lý thuyết thống nhất về tài sản xoay quanh 04 câu hỏi pháp lý về quyền tài sản; tác phẩm Principles of Property Law của Alison Clarke phân tích bản chất quyền đối với vật ("Property is about the rights we have in things"); công trình Legalism: Property and Ownership của Georgy Kantor, Tom Lambert và Hannah Skoda (2014) làm rõ tài sản dưới góc độ quan hệ pháp lý giữa người với vật; bài viết của Maria Tereza Leopardi Melloa (2016) tiếp cận quyền tài sản từ góc độ liên ngành Kinh tế - Luật.
- Về lịch sử và các loại vật quyền: R. Melville trong cuốn A manual of the principles of Roman Law relating to persons, property, and obligations đã phân tích 04 loại quyền đối với tài sản của người khác trong luật La Mã cổ đại (địa dịch, quyền bề mặt, quyền canh tác, quyền cầm cố/thế chấp); Alf Ross trong On Law and Justice (1958) phân tích sự phân tách giữa quyền đối vật (jus in rem) và quyền đối nhân (jus in personam); Kaupo Paal (2012) làm rõ nguyên tắc vật quyền luật định (numerus clausus) và nguyên tắc hạn chế quyền trong luật tài sản.
- Về đăng ký tài sản: Báo cáo Making the Law work for everybody của Ủy ban trao quyền pháp lý cho người nghèo (2008); ấn phẩm Registration of real estates của Ngân hàng Thế giới (WB) và Công ty Tài chính Quốc tế (IFC); các nghiên cứu của Matsumoto Tsuneo (2000) về đăng ký bất động sản tại Nhật Bản và Olivier Goussard (2013) về hệ thống đăng ký tại CH Pháp.
Các công trình nghiên cứu trong nước
- Luận án và đề tài khoa học: Luận án tiến sĩ của Lê Đăng Khoa (2017) về Hệ thống các vật quyền trong pháp luật dân sự Việt Nam; Luận án tiến sĩ của Vũ Thị Hồng Yến (2016) về Tài sản thế chấp và xử lý tài sản thế chấp...; Luận án tiến sĩ của Hồ Quang Huy (2018) về Thực hiện pháp luật về đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất...; Đề tài cấp Bộ của Lê Hồng Hạnh (2008) so sánh chế định sở hữu và hợp đồng giữa Việt Nam và Trung Quốc; Đề tài cấp Bộ của Nguyễn Thanh Tú (2016) nghiên cứu hoàn thiện thể chế quyền sở hữu tài sản theo Hiến pháp năm 2013.
- Sách chuyên khảo và bài viết học thuật: Sách chuyên khảo Vật quyền trong pháp luật dân sự Việt Nam hiện đại của Nguyễn Minh Oanh (chủ biên, 2021); các công trình bình luận khoa học BLDS năm 2015 của Đỗ Văn Đại (2015, 2016), Đinh Trung Tụng (2015, 2016), Nguyễn Minh Tuấn (2016), Nguyễn Văn Cừ và Trần Thị Huệ (2017); các bài báo khoa học của Nguyễn Thị Quế Anh (2013), Nguyễn Ngọc Điện (2014), Dương Đăng Huệ (2015), Ngô Huy Cương (2015), Bùi Thị Thanh Hằng và Đỗ Giang Nam (2013, 2014), Nguyễn Hồng Hải (2017).
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Các công trình trước đây chủ yếu tập trung vào việc phân tích quy định của BLDS năm 2015 hoặc đi sâu vào từng quyền năng cụ thể (chiếm hữu, thế chấp, đăng ký quyền sử dụng đất). Luận án này giải quyết khoảng trống mang tính toàn diện:
- Hệ thống hóa đầy đủ cơ sở lý luận về toàn bộ hệ thống vật quyền (bao gồm quyền sở hữu, các vật quyền hạn chế và vật quyền bảo đảm).
- Đánh giá sự vận dụng lý luận vật quyền không chỉ trong BLDS mà còn trong tính đồng bộ với các luật chuyên ngành như Luật Đất đai, Luật Xây dựng, Luật Nhà ở và Luật Doanh nghiệp.
- Xác định các bài học kinh nghiệm từ pháp luật thành văn của các nước để đề xuất định hướng tiếp tục hoàn thiện thể chế pháp luật dân sự tại Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Cơ sở phương pháp luận: Luận án dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, cùng quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Các khái niệm và học thuyết pháp lý nòng cốt:
- Học thuyết về sự phân chia quyền đối vật (jus in rem) và quyền đối nhân (jus in personam).
- Học thuyết vật quyền luật định (numerus clausus doctrine).
- Khái niệm "vật" (res/things) và "tài sản" (property).
- Khung cấu trúc quyền sở hữu truyền thống và hiện đại (quyền sử dụng, quyền hưởng hoa lợi, quyền định đoạt, quyền chiếm hữu, tố quyền đòi lại tài sản).
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu pháp lý chuyên ngành:
- Phương pháp luật học truyền thống (legal dogmatics): Sử dụng các thao tác mô tả, giải thích, phân tích quy phạm, đánh giá logic nội tại và dự đoán xu hướng phát triển của các chế định pháp luật về tài sản và quyền sở hữu (áp dụng chủ yếu tại Chương 2 và Chương 3).
- Phương pháp so sánh luật (comparative law): Đối chiếu các mô hình lập pháp về vật quyền giữa các nước thuộc truyền thống pháp luật thành văn (Đức, Pháp, Nga, Nhật Bản, Trung Quốc) với Việt Nam để rút ra kinh nghiệm (áp dụng chủ yếu tại Chương 2).
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng xuyên suốt 04 chương nhằm hệ thống hóa lý luận, tổng kết thực trạng và đề xuất giải pháp.
- Phương pháp phân tích tài liệu:
- Tài liệu sơ cấp: Văn kiện Đại hội Đảng, các đạo luật của Việt Nam qua các thời kỳ, BLDS và đạo luật chuyên ngành của các nước khảo sát, văn bản La Mã cổ đại (Corpus Iuris Civilis).
- Tài liệu thứ cấp: Sách chuyên khảo, bài báo khoa học, báo cáo đánh giá của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), Ngân hàng Thế giới (WB).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Luận án và cơ sở lý thuyết nghiên cứu
Chương này điểm lại toàn diện lịch sử nghiên cứu lý luận vật quyền từ pháp luật La Mã đến các công trình đương đại tại Việt Nam và quốc tế. Tác giả phân nhóm các hướng nghiên cứu:
- Nhóm nghiên cứu về khái niệm tài sản và đối tượng của vật quyền.
- Nhóm nghiên cứu về các loại vật quyền cụ thể và nguyên tắc vật quyền luật định (numerus clausus).
- Nhóm nghiên cứu về cơ chế đăng ký tài sản và bảo vệ quyền sở hữu.
- Nhóm công trình bình luận pháp luật thực định Việt Nam xung quanh BLDS năm 2015.
Từ việc chỉ ra những vấn đề mà các công trình trước chưa giải quyết trọn vẹn, chương 1 xác lập tính cấp thiết, mục tiêu, nhiệm vụ, câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu của đề tài.
Chương 2: Lý luận về vật quyền và vận dụng lý luận về vật quyền trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật dân sự
Chương 2 tập trung phân tích các vấn đề lý luận nền tảng:
- Khái niệm "vật" và "tài sản": Trong luật La Mã, "vật" (res) là thực thể vật chất cụ thể. Theo nghĩa hẹp hiện đại (như Điều 90 BLDS Đức, Điều 85 BLDS Nhật Bản), vật chỉ bao gồm các vật thể hữu hình. Theo nghĩa rộng (như Điều 128 BLDS Nga, Điều 448 BLDS bang Louisiana), tài sản bao gồm cả tài sản hữu hình, vô hình, quyền tài sản và các lợi ích kinh tế trị giá được bằng tiền.
- Khái niệm và đặc điểm của vật quyền: Vật quyền là quyền năng trực tiếp của chủ thể tác động lên vật mà không cần thông qua hành vi trung gian của chủ thể khác. Vật quyền mang các đặc tính: tính trực tiếp, tính tuyệt đối (có hiệu lực đối kháng với mọi người - erga omnes), tính ưu tiên và quyền truy đòi tài sản (jus persequendi).
- Phân loại vật quyền:
- Dựa vào quan hệ với chủ sở hữu: Quyền sở hữu (jus in re propria) và các quyền khác đối với tài sản / vật quyền hạn chế (jus in re aliena). Quyền khác đối với tài sản được chia thành: dịch quyền thuộc người (personal servitudes - gồm quyền hưởng dụng, quyền sử dụng, quyền ngụ cư, quyền bề mặt) và dịch quyền thuộc vật (real servitudes - địa dịch).
- Dựa vào tính chất: Vật quyền chính (cho phép trực tiếp khai thác công năng, tiện ích vật chất như quyền sở hữu, quyền hưởng dụng, địa dịch) và vật quyền phụ / vật quyền bảo đảm (tạo quyền năng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ như cầm cố, thế chấp, cầm giữ, bảo lưu quyền sở hữu).
- Dựa vào cơ sở phát sinh: Vật quyền luật định (pháp định) và vật quyền ước định (hình thành từ hợp đồng, giao dịch nhưng nội dung do luật quy định).
- Vật quyền nội dung và vật quyền hình thức (thủ tục đăng ký).
- Các nguyên tắc cơ bản của vật quyền:
- Nguyên tắc vật quyền luật định: Các loại vật quyền và nội dung của chúng phải do luật quy định; các bên tham gia giao dịch không thể tự ý thỏa thuận tạo ra loại vật quyền mới (numerus clausus).
- Nguyên tắc vật quyền tuyệt đối: Người có quyền có thể thực hiện quyền độc lập và chống lại mọi hành vi xâm phạm từ bất kỳ người thứ ba nào.
- Nguyên tắc công khai: Vật quyền phải được công khai qua hành vi chiếm hữu hoặc đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
- Nguyên tắc tin cậy (hiệu lực công tín): Sự xác nhận của cơ quan đăng ký có giá trị pháp lý bảo vệ người thứ ba ngay tình (mô hình của Đức áp dụng hiệu lực công tín tuyệt đối; mô hình Pháp, Nhật Bản coi đăng ký là điều kiện đối kháng người thứ ba).
- Nội dung quyền sở hữu: So sánh mô hình cấu thành quyền sở hữu:
- Luật La Mã gồm 05 nhóm quyền: sử dụng (usus), hưởng hoa lợi (fructus), định đoạt (abusus), chiếm hữu (jus possidendi) và đòi lại tài sản (jus vindicandi).
- Truyền thống Civil Law Tây Âu phân tách quyền sở hữu thành quyền sử dụng, hưởng dụng và định đoạt; chiếm hữu được coi là tình trạng pháp lý thực tế.
- Pháp luật Liên bang Nga (Điều 209) và Trung Quốc (Điều 240) coi chiếm hữu là một quyền năng cấu thành trực tiếp của quyền sở hữu.
Chương 3: Sự vận dụng lý luận về vật quyền trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam
Chương này đánh giá toàn diện mức độ tiếp thu lý luận vật quyền tại Việt Nam:
- Kết quả đạt được:
- BLDS năm 2015 đã bước đầu tiếp cận các nguyên lý hiện đại: tách quy định chiếm hữu thành một mục riêng với tư cách tình trạng pháp lý độc lập; ghi nhận danh mục quyền khác đối với tài sản (địa dịch, quyền hưởng dụng, quyền bề mặt); xác lập tính chất vật quyền bảo đảm cho quyền cầm giữ tài sản, quyền bảo lưu quyền sở hữu và quyền truy đòi tài sản thế chấp.
- Những bất cập, hạn chế:
- Danh mục vật quyền hạn chế còn hạn chế về số lượng so với thông lệ quốc tế; chưa nghiên cứu quy định các quyền như quyền thuê đất dài hạn, quyền ưu tiên, nợ điền địa.
- Khái niệm và bản chất pháp lý của "quyền sử dụng đất" chưa được giải quyết triệt để dưới góc độ lý luận vật quyền (vật quyền trên đất đai thuộc sở hữu toàn dân).
- Mối quan hệ giữa chủ sở hữu và người nắm giữ vật quyền hạn chế chưa được phân định rõ ràng về thứ bậc ưu tiên và giới hạn thực hiện quyền.
- Pháp luật đăng ký bất động sản còn phân tán, thiếu cơ chế công tín để bảo vệ người thứ ba ngay tình.
- Thiếu sự thống nhất, đồng bộ giữa BLDS với các luật chuyên ngành (Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Xây dựng, Luật Doanh nghiệp).
Dưới đây là bảng tổng hợp số liệu về chỉ số bảo vệ quyền sở hữu tài sản được tác giả trích dẫn từ nguồn dữ liệu WEF trong danh mục bảng biểu của luận án:
| STT |
Tên bảng / Biểu đồ trong luận án |
Nội dung số liệu phản ánh |
Nguồn dẫn trong luận án |
| 1 |
Biểu đồ 4.1 |
Chỉ số quyền sở hữu tài sản của Việt Nam, Thái Lan, Trung Quốc, Indonesia và Malaysia giai đoạn 1995-2020 |
Báo cáo quốc tế / Luận án tổng hợp |
| 2 |
Biểu đồ 4.2 |
Chỉ số quyền sở hữu tài sản năm 2019 theo xếp hạng của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) |
Báo cáo Năng lực cạnh tranh toàn cầu (WEF 2019) |
| 3 |
Bảng 4.1 |
Bảng điểm về chỉ số quyền sở hữu của các quốc gia từ năm 2015 đến 2019 |
Báo cáo WEF (2015 - 2019) |
| 4 |
Bảng 4.3 |
Bảng thứ hạng các quốc gia về chỉ số quyền sở hữu từ năm 2015 đến 2019 |
Báo cáo WEF (2015 - 2019) |
Chương 4: Kiến nghị về việc tiếp tục vận dụng lý luận về vật quyền trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật dân sự Việt Nam
Chương 4 đưa ra các định hướng và giải pháp cụ thể:
- Bối cảnh và định hướng: Căn cứ vào các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, trọng tâm là hoàn thiện pháp luật về quyền sở hữu và quyền tài sản; xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN.
- Các nhóm giải pháp hoàn thiện:
- Hoàn thiện quy định chung trong BLDS: Bổ sung đầy đủ các nguyên tắc vật quyền (đặc biệt là nguyên tắc vật quyền luật định và nguyên tắc công tín); làm rõ địa vị pháp lý của vật quyền bảo đảm; hoàn thiện cơ chế bảo vệ vật quyền thông qua tố quyền trực tiếp.
- Bổ sung, hoàn thiện các vật quyền hạn chế: Mở rộng phạm vi và làm rõ nội hàm của quyền bề mặt, quyền hưởng dụng; nghiên cứu bổ sung quy định về quyền thuê đất dài hạn, quyền ưu tiên.
- Bảo đảm tính đồng bộ giữa BLDS và pháp luật chuyên ngành: Sửa đổi Luật Đất đai, Luật Xây dựng, Luật Nhà ở theo hướng nhìn nhận quyền sử dụng đất là một loại vật quyền cụ thể; xác lập ranh giới rõ ràng giữa quyền bề mặt và quyền của người sử dụng đất.
- Cải cách hệ thống đăng ký tài sản: Xây dựng mô hình cơ quan đăng ký bất động sản thống nhất, hiện đại hóa dữ liệu đăng ký; từng bước áp dụng nguyên tắc hiệu lực công tín nhằm bảo vệ sự an toàn của các giao dịch dân sự.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Hệ thống hóa một cách toàn diện và logic lý luận về vật quyền trong khoa học pháp lý dân sự, làm rõ các khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc cốt lõi và tiêu chí phân loại vật quyền.
- Phân tích và nhận diện khoảng 10 loại vật quyền đang tồn tại trong học thuyết pháp lý và thực tiễn lập pháp các nước (từ các quyền phổ biến như quyền sở hữu, địa dịch, quyền hưởng dụng, quyền bề mặt đến các quyền như quyền thuê đất dài hạn, quyền ưu tiên, nợ điền địa, các vật quyền bảo đảm).
- Khái quát mô hình cấu trúc lập pháp và mức độ tiếp thu chế định vật quyền của các quốc gia theo truyền thống pháp luật thành văn (Đức, Pháp, Nga, Nhật Bản, Trung Quốc), cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện pháp luật Việt Nam.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Đánh giá có hệ thống thực trạng thể chế hóa lý luận vật quyền trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành, chỉ rõ các điểm tiến bộ và những điểm còn bất cập, chồng chéo giữa BLDS năm 2015 và các luật chuyên ngành.
- Đề xuất các nhóm giải pháp lập pháp cụ thể nhằm sửa đổi, bổ sung BLDS, Luật Đất đai, Luật Xây dựng, Luật Nhà ở, Luật Doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN theo tinh thần Văn kiện Đại hội XIII của Đảng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án tập trung chủ yếu vào hệ thống pháp luật thành văn (Civil Law) của một số quốc gia tiêu biểu (Đức, Pháp, Nga, Nhật Bản, Trung Quốc). Do giới hạn về dung lượng và nguồn tài liệu tiếp cận, luận án chưa có điều kiện nghiên cứu sâu hệ thống pháp luật án lệ (Common Law) cũng như chưa phân tích sâu toàn bộ thực tiễn giải quyết tranh chấp tại Tòa án liên quan đến từng vật quyền cụ thể.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Nghiên cứu cơ chế vận hành của quyền tài sản trong hệ thống Common Law để so sánh đa chiều.
- Đi sâu phân tích thực tiễn áp dụng án lệ và các bản án của Tòa án nhân dân tại Việt Nam đối với các tranh chấp phát sinh từ quyền bề mặt, quyền hưởng dụng và quyền đối với bất động sản liền kề.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo khoa học có giá trị đối với:
- Cơ quan xây dựng chính sách, pháp luật: Cung cấp cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế cho Ban soạn thảo, Tổ biên tập sửa đổi, bổ sung các dự án luật như BLDS, Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Xây dựng, Luật Kinh doanh bất động sản.
- Cơ quan thực thi pháp luật và tư pháp: Hỗ trợ Thẩm phán, Thẩm tra viên, Luật sư, Công chứng viên trong việc nhận diện đúng bản chất của các quyền đối với tài sản và phương thức bảo vệ quyền của các chủ thể.
- Cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học: Là tài liệu tham khảo chuyên khảo cho nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên các chuyên ngành Luật Dân sự, Lý luận và Lịch sử Nhà nước và Pháp luật.
Câu hỏi thường gặp
1. Nguyên tắc vật quyền luật định (numerus clausus) là gì và có ý nghĩa như thế nào trong pháp luật dân sự?
Nguyên tắc vật quyền luật định quy định rằng các loại vật quyền và nội dung của từng vật quyền phải do luật định rõ. Các bên tham gia quan hệ dân sự không được tự ý thỏa thuận để tạo ra các loại vật quyền mới hoặc tự ý thay đổi nội dung của vật quyền đã được pháp luật quy định. Ý nghĩa của nguyên tắc này là ngăn chặn việc chủ sở hữu phân tán quyền sở hữu một cách vô hạn, bảo đảm tính minh bạch của các quyền tài sản và bảo vệ người thứ ba trong giao dịch.
2. Sự khác biệt cơ bản giữa vật quyền chính và vật quyền phụ (vật quyền bảo đảm) là gì?
- Vật quyền chính (như quyền sở hữu, quyền hưởng dụng, địa dịch) cho phép người có quyền trực tiếp nắm giữ, kiểm soát và khai thác các tiện ích, công năng vật chất hoặc giá trị kinh tế của tài sản.
- Vật quyền phụ / vật quyền bảo đảm (như thế chấp, cầm cố, cầm giữ, bảo lưu quyền sở hữu) không trao quyền khai thác, sử dụng tài sản cho chủ thể nắm quyền mà chỉ trao các quyền năng cần thiết (như quyền lưu giữ, quyền truy đòi, quyền thanh toán ưu tiên) nhằm bảo đảm nghĩa vụ được thực hiện hoặc xử lý tài sản để thu hồi nợ.
3. Theo phân tích lịch sử của luận án, quyền sở hữu trong luật La Mã cổ đại gồm những nhóm quyền năng nào?
Trong luật La Mã, quyền sở hữu được cấu thành từ 05 nhóm quyền năng:
- Usus: Quyền sử dụng, khai thác công năng tài sản.
- Fructus: Quyền hưởng hoa lợi, lợi ích phát sinh từ tài sản.
- Abusus: Quyền định đoạt số phận vật chất và số phận pháp lý của tài sản.
- Jus possidendi: Quyền chiếm hữu thực tế đối với tài sản.
- Jus vindicandi: Quyền đòi lại tài sản (tố quyền đòi lại tài sản từ người chiếm giữ bất hợp pháp).
4. Nguyên tắc hiệu lực công tín trong đăng ký tài sản được thể hiện khác nhau như thế nào giữa mô hình của CHLB Đức và mô hình của CH Pháp, Nhật Bản?
- Mô hình CHLB Đức: Áp dụng nguyên tắc hiệu lực công tín tuyệt đối; việc đăng ký tại sổ đăng ký bất động sản có giá trị xác lập quyền và bảo vệ tuyệt đối người thứ ba ngay tình tin vào thông tin đăng ký, kể cả khi việc đăng ký có sai sót.
- Mô hình CH Pháp và Nhật Bản: Việc chuyển dịch quyền có hiệu lực ngay khi các bên giao kết thỏa thuận; việc đăng ký tài sản chỉ mang ý nghĩa công khai nhằm xác lập giá trị đối kháng với người thứ ba (cơ chế đăng ký đối kháng/cảnh báo).
5. BLDS năm 2015 của Việt Nam đã chính thức ghi nhận những loại vật quyền hạn chế nào?
BLDS năm 2015 đã chính thức ghi nhận 03 loại quyền khác đối với tài sản (vật quyền hạn chế), bao gồm:
- Quyền đối với bất động sản liền kề (địa dịch).
- Quyền hưởng dụng.
- Quyền bề mặt.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Lê Thị Hoàng Thanh là công trình khoa học chuyên khảo nghiên cứu có hệ thống và toàn diện về lý luận vật quyền dưới góc độ chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Nhà nước và Pháp luật. Bằng việc kết hợp phương pháp luật học truyền thống và so sánh luật học, tác giả đã làm rõ cấu trúc lý luận của vật quyền, phân tích kinh nghiệm lập pháp của các quốc gia theo hệ thống pháp luật thành văn tiêu biểu, và đánh giá sâu sắc thực trạng pháp luật dân sự Việt Nam qua các thời kỳ. Các kết quả nghiên cứu và nhóm giải pháp hoàn thiện được đề xuất trong luận án đóng góp cơ sở khoa học quan trọng cho công tác lập pháp và hoàn thiện thể chế pháp luật về quyền sở hữu, quyền tài sản tại Việt Nam trong giai đoạn phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.