CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE HOAT DONG DAU TƯ TÀI CHINH CUA NHA NUOC, PHAP LUAT VE HOAT DONG DAU TU TAI CHINH CUA NHA NUOC 1. Những van đề lý luận về hoạt động dau tư tài chính của Nha nước 1. Khái niệm và vai trò hoạt động đầu tư tài chính cúa Nhà nước a) Khái niệm và đặc điểm hoạt động đầu tư tài chính của Nhà nước Trong nền kinh tế, đặc biệt trong nên kinh tế thị trường, “đầu tư” là khái niệm phô biến. Có thê hiéu đầu tu theo nghĩa rộng: là quá trình bỏ vốn (bao gồm tiền, nguồn lực và công nghệ) đề đạt được một mục đích (hay mục tiêu) nhất định trong chính trị.
đầu tư còn được sử dụng trong những phạm vi cụ thể như dau tư chứng khoán, dau tư bất động sán. Dưới góc độ kinh tế, đầu tư được quan niệm là hoạt động sử dụng các nguồn lực hiện tại nhăm đem lại cho nên kinh tế, xã hội những kết quả trong tương lai lớn hơn các nguôn lực đã su dụng hoặc các mục tiêu phát triển khác. đầu tư là việc bỏ vốn, tài san theo các hình thức và cách thức do pháp luật quy định để thực hiện hoạt động nhằm mục đích lợi nhuận hoặc lợi ích kinh tế. Hoạt động đầu tư có thê được thực hiện bởi nhiều chủ thê khác nhau: tô chức, cá nhân trong nước và ngoài nước có đủ điều kiện và có nhu cầu đầu tư.
Nhu vay, hoạt động đầu tư nói chung có thé được hiểu trên hai phương diện. Thứ nhát: có thê hiéu đầu tu là việc đưa một lượng vốn nhất định và quá trình hoạt động kinh tế nhằm thu lại được một lượng lớn hơn sau một khoản thời gian nhất định. Với cách hiéu này. hoạt động dau tư sẽ được phân biệt với các hoạt động mua sắm, tiêu dùng cũng như các hoạt động nhân đạo khác, hoặc các hoạt động bỏ tiền nhằm duy trì hoạt động thường xuyên của các tổ chức.
Day là cách hiéu phổ biến về khái niệm dau tư trong khoa học pháp lí cũng như thực tiễn xây dựng chính sách - pháp luật về đầu tư, hoạt động đầu tư chủ yếu được đề cập là hoạt động đầu tư kinh doanh. với bản chat là “su chi phí của cải vật chất nhằm mục dich làm tăng giá trị tài san hay tìm kiếm lợi nhuận” [58]. Thi hai: có thể hiểu đầu tư theo quan điểm tái san xuất mở rộng. dau tư thực tế là quá trình chuyên hóa vốn thành các yếu tổ can thiết cho việc tạo ra năng lực san xuất.
tạo ra những yếu tế cơ bản. tiền quyết cho quá trình phát triên sản xuất. Đây là hoạt động mang tính chất thường xuyên của mọi nên kinh tế và là cơ sở của sự phát triển tăng trưởng kinh tế. Từ khái niệm về hoạt động đầu tư nói chung, hoạt động đầu tư tài chính của Nha nước được hiéu là hoạt động đưa một lượng tài chính vào quá trình hoạt động kinh tế do Nhà nước trực tiếp hoặc ủy quyền.
giao cho cơ quan, tô chức thực hiện. Cùng với quan niệm khác nhau về đầu tư. hoạt động đầu tư tài chính của Nhà nước cũng được hiểu ở hai phạm vi khác nhau: 7 nhất: hoạt động đầu tư tài chính của Nha nước nhằm tạo lập ra một lượng giá trị với mục đích kinh doanh tức là hoạt động đầu tư vốn tài sản nhằm tìm kiếm lợi nhuận. tạo ra một lượng giá tri lớn hon lượng giá trị bỏ ra ban đầu.
7# hai: hoạt động dau tư tài chính của Nhà nước được hiểu là các hoạt động của Nhà nước có sử dụng đến nguồn tài chính nhằm mục đích duy trì và mở rộng hoạt động của cả nền kinh tế. Theo quan điểm nay, hoạt động dau tư tài chính của Nhà nước sẽ bao gồm ca hoạt động chi dau tư phát triên gồm xây dựng mới. cải tạo, mở rộng, nâng cấp cơ sở hạ tang, công trình công cộng. đầu tư kinh doanh: chi thường xuyên cho hoạt động sự nghiệp nham vận hành, duy trì khai thác các công trinh,.va các hoạt động đầu tư khác của Nhà nước.
Tùy thuộc vào cách nhìn nhận hoạt động dau tư tài chính trong mỗi quan điêm khác nhau mà việc xác định phương thức thực hiện hoạt động đầu tư và quy phạm pháp luật điều chinh hoạt động đâu tư tài chính của Nhà nước cũng không đông nhất. Ví dụ theo quan diém thứ nhất về dau tư tài chính của Nhà nước thì văn bản điều chỉnh trực tiếp của Luật Đầu tư do là hoạt động đầu tư vào mục đích kinh doanh. tiếp đó là Luật Ngân sách nhà nước (NSNN) đối với các nguén tài chính từ ngân sách và các văn bản liên quan. Hoạt động đầu tư được thực hiện chủ yêu dưới hình thức đầu tư vào các DNNN nhằm mục đích kinh doanh và các dự án thu lợi nhuận.
Trong khi đó với quan điêm thứ hai, vai trò điều chỉnh của Luật NSNN đối với hoạt động dau tư tài chính thé hiện rõ rang hơn, không chi ở những hoạt động dau tư phát triển mà còn cả nguồn chi thường xuyên cho quản lý hành chính. chi hỗ trợ cho các doanh nghiệp.Phương thức thực hiện đầu tư không chỉ bao gồm đầu tư vào dự an, vào các DNNN nhăm tìm kiếm lợi nhuận mà bao gồm cả hoạt động chi cho tin dụng đầu tư phát triển, chỉ cho các DNNN hoạt động công ích như sản xuất sản phâm. cung cap dịch vụ an ninh, quốc phòng, chi theo hình thức cấp phat tài chính cho các cơ quan. đơn vị của Nha nước nhằm vận hành bộ máy.
Trong phạm vi của luận van, hoạt động đâu tư tai chính của Nhà nước sé không giới hạn trong quan diém thứ nhất hay thứ hai ma được nghiên cứu trên cách nhìn nhận hoạt động đầu tư tài chính với chú thể thực hiện là Nhà nước hoặc các tổ chức. cá nhân được Nhà nước ủy quyền thực hiện với kết qua là một lượng giá trị được tạo ra mới xác định được (là tài sản hữu hình như các công trình kết cấu hạ tầng. lượng vốn, hoặc lợi ích kinh tế khác) nhằm mục đích kinh doanh hoặc không kinh doanh (tức không bao gồm các khoản chi thường xuyên mang tính chất vận hành của Nhà nước). Trước đây, kinh tế Việt Nam được xây dựng theo cơ chế bao cấp, một chủ sở hữu, mọi hoạt động kinh tế đều do Nhà nước tiến hành.
việc xác định hoạt động đầu tư tài chính của Nha nước không khó khăn. Từ sau cải cach, Việt Nam xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. thừa nhận sự tổn tại nhiều thành phan kinh tế, hoạt động đầu tư được tiến hành bởi nhiều chủ thê khác nhau và ngày càng phong phú, da dang ca về tính chất và mục đích. một hoạt động dau tư có thé do một chu thê, nhóm chu thê thuộc các thành phan kinh tế khác nhau thực hiện hoặc có sự kết hợp giữa các thành phần (trong nước.
ngoài nước, tư nhân. việc xác định phạm vi đầu tư tài chính của Nhà nước không còn đơn giản như trước. Dé xác định rõ ràng hoạt động dau tư tài chính của Nhà nước. không chi xác định phạm vi mà cân xác định gốc của hoạt động đâu tư.
tức là nguôn tài chính hình thành cho hoạt động đầu tư đó. Những hoạt động đầu tư tạo lập ra lượng giá trị mới có nguồn vốn từ vốn của Nhà nước sẽ được xác định là hoạt động đầu tư tài chính của Nhà nước. Câu hỏi đặt ra: đâu là nguồn vốn Nhà nước? Nếu hiểu một cách thông thường. theo nghĩa hẹp thì nguồn vốn của nhà nước chủ yếu được huy động từ ngân sách.
nghĩa là đầu tư tài chính của Nhà nước sẽ là hoạt động đầu tư từ nguồn vốn NSNN, tuy nhiên cách hiéu như vậy chưa thực sự đầy đủ. Tại Luật Đầu tư năm 2005, Nghị định số 108/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư với đối tượng điều chỉnh là các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức thực hiện và quan lý hoạt động dau tư kinh doanh. Luật Đầu thầu năm 2005 và một số văn bản. đã xác định các loại vốn được coi là vốn nhà nước dành cho đầu tư theo phương pháp liệt kê như sau: vốn Nhà nước bao gồm vốn NSNN; vốn tín dụng dau tư phát trién của Nhà nước: vốn tín dụng do Nha nước bảo lãnh: vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước: vốn dau tư cua Tông công ty Đâu tư kinh doanh von nhà nước.
vôn khác do Nhà nước quan ly. Như vậy theo quy định nay vốn từ NSNN là một bộ phận trong cơ cấu vốn Nhà nước. Luật Đầu tư và Nghị định 108/2006/NĐ-CP ngày 22/9/2006 hướng dẫn thi hành Luật Đầu tu đã liệt kê nguồn vốn Nhà nước dé thực hiện hoạt động đầu tư, tuy nhiên các văn bản này hướng đến hoạt động đầu tư nhằm mục đích kinh doanh (theo quan điểm thứ nhất về đầu tư), chưa thê hiện day đủ phạm vi của hoạt động đầu tư tài chính của Nhà nước nói chung. Hoạt động đầu tư tài chính của Nhà nước còn một bộ phận rất quan trọng đó là hoạt động đầu tư nhằm mục đích xã hội, không vì mục tiêu kinh doanh.
Bên cạnh việc tạo ra lợi ích mới từ hoạt động đầu tư (đầu tư vào kinh doanh theo Luật Đầu tư) thi với vai trò chủ thê lớn nhất của nền kinh tế. Nhà nước còn thực hiện trọng trách xã hội khác mang tính chất công. Trong hoạt động đầu tư nay, lợi nhuận không phải là tiêu chí được quan tâm hàng đầu như các hoạt động xây dựng trường hoc, bệnh viện, đường xá. kết cầu hạ tang, san phâm dịch vu công ích nhằm mục tiêu phát triên kinh tế - xã hội.
và đây chính là khía cạnh thứ hai cua hoạt động đầu tư tài chính của Nhà nước. có thê nhận thay rõ ràng nguồn vén cho hoạt động đầu tư mang tính chất công được huy động chủ yếu từ vốn NSNN. một số nguôn khác (việc tro, đóng góp.v), và nhiệm vụ xã hội cua hoạt động đâu tư này không hoàn toàn tách biệt mà được thê hiện. dan xen trong hoạt động dau tư nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Ví dụ nguôn vốn tín dụng đầu tư phát triên của Nhà nước, đối tượng cấp tín dụng là các doanh nghiệp, tô chức kinh tế có dự án thuộc diện vay vốn đầu tư trong các ngành nghề, lĩnh vực được quy định. những lĩnh vực. ngành nghề này bao gồm các công trình kết cau hạ tầng — xã hội như đường xá. công trình cấp nước sạch.
y tế, giáo dục.