MỞ ĐẦU BAO CAO TONG QUAN VA TONG HOP KET QUA NGHIEN CUU DE TAI KHOA HOC CAP CO SO “THUC TIEN THI HANH PHAP LUAT VE HOAT DONG DAU TU RA NUOC NGOAI VA KIEN NGHI HOAN THIEN” PHAN I: BAO CAO TONG QUAN DE TAI NGHIEN CUU CAP CO SO “Thực tiễn thi hành pháp luật về hoạt động dau tư ra nước ngoài va kiến nghị hoàn thiện” 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong thời đại toàn cầu hoá hiện nay, đầu tư ra nước ngoài đang là xu thế chung của hau hết các quốc gia trên thế giới. Thông qua hoạt động này, các nhà đầu tư có thê khai thác được những lợi thế so sánh của nước tiếp nhận đầu tư, tiếp cận khoa học kỹ thuật, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, tránh được các hàng rào thuế quan và phi thuế quan của nước tiếp nhận đầu tư. Bên cạnh đó, đầu tư ra nước ngoài cũng mang về cho đất nước một lượng ngoại tệ đáng kế góp phần vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.
Nhận thức được tầm quan trọng đó, các quốc gia trên thé giới nói chung và các quốc gia trong khu vực nói riêng như Nhật Bản, Hàn Quốc đã chú trọng vào hoạt động đầu tư ra nước ngoài từ rất lâu va sở hữu rất nhiều thương hiệu nổi tiếng toàn cầu trong các lĩnh vực khác nhau như Toyota, Honda, Hyundai,. Trong khi đó, tại Việt Nam hoạt động đầu tư ra nước ngoài chỉ mới được bắt đầu trong những năm 90 và trong những năm gần đây mới có xu hướng phát triển mạnh. Vì vậy, việc có một công trình nghiên cứu toàn diện về pháp luật đầu tư ra nước ngoài dưới góc độ lý luận và thực tiễn là điều rat cần thiết. Việc nhóm tác giả lựa chọn đề tài “Thực tiễn thi hành pháp luật về hoạt động đầu tư ra nước ngoài và kiến nghị hoàn thiện” đề nghiên cứu xuất phát từ hai lý do sau: Thứ nhất, thực tiễn hoạt động đầu tư ra nước ngoài đang phát triển và có xu hướng tăng mạnh trong giai đoạn sắp tới.
Trong những năm gần đây, các nhà đầu tư tại Việt Nam đã và đang chú trọng đến việc đầu tư ra nước ngoài. Thực tế cho thấy, hoạt động đầu tư ra nước ngoài của các nhà đầu tư tại Việt Nam có xu hướng gia tang và đạt được nhiêu kết quả tích cực với sô dự án và von đăng ky Z năm sau luôn cao hơn năm trước. Theo số liệu thống kê từ Cục Đầu tư nước ngoài, trong năm 2017, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài cho 130 dự án với tổng vốn đăng ky dau tư là 268,5 triệu USD; có 25 dự án điều chỉnh vốn với tổng số vốn đầu tư tăng thêm 81,5 triệu USD. Tính tông số vốn cấp mới và tăng thêm là 350 triệu USD'.
Tính đến hết tháng 11 năm 2018, cả nước có 125 dự án được cấp mới Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài, VỚI tổng von đầu tư là 303,5 triệu USD; có 30 lượt dự án điều chỉnh vốn với tổng vốn dau tư tăng thêm 54 triệu USD. Tính tông vốn đầu tư cấp mới và tăng thêm đạt 357,5 triệu USD“. Tính chung trong năm 2019, tổng vốn đầu tư Việt Nam ra nước ngoài cấp mới và tăng thêm đạt 508,14 triệu USD. Trong đó có 164 dự án được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư mới, với tổng vốn đầu tư bên Việt Nam đạt 403,15 triệu USD.
Có 29 lượt dự án điều chỉnh vốn đầu tư với vốn đầu tư Việt Nam tăng thêm gần 105 triệu USDỶ. Trong 5 tháng đầu năm 2020, tổng vốn đâu tư Việt Nam ra nước ngoài cấp mới và tăng thêm đạt 180,7 triệu USD. Trong đó có 60 dự án được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư mới, với tong vốn đăng ký đạt gần 161,9 triệu USD và 11 lượt dự án điều chỉnh vốn đầu tư với tổng vốn tăng thêm là 18,8 triệu USD”. Những con số trên cho thấy nhu cầu cũng như dòng vốn đầu tư ra nước ngoài của các nhà đầu tư tại Việt Nam ngày càng tăng.
Theo kết quả khảo sát Top 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam năm 2016 của Vietnam Report, có khoảng 45% doanh nghiệp “khát khao” đầu tư ra nước ngoài trong 5 năm tới”. Thứ hai, dé hoạt động đầu tư ra nước ngoài đạt hiệu quả thì khung pháp lý cho hoạt động này phải hoàn thiện, thống nhất, là công cụ hỗ trợ đắc lực cho các nhà đầu tư. Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động đầu tư ra nước ngoài, trong thời gian qua, Nhà nước Việt Nam đã ban hành một loạt văn bản quy phạm 'https://nhadautu.vn/nam-2017-hau-het-cac-du-an-dau-tu-ra-nuoc-ngoai-khong-su-dung-von-nha-nuoc- đ10163.html ? Số liệu thống kê của Cục Dau tư nước ngoài. Nguồn: https://dautunuocngoai.vn/tinbai/6092/Tinh-hinh-thu- hut-Dau-tu-nuoc-ngoai-Í I-thang-nam-2018 = https://dautunuocngoai.vn/TinBai/63 18/Tinh-hinh-thu-hut-dau-tu-nuoc-ngoai-nam-2019 M https://dautunuocngoai.vn/tinbai/6357/Tinh-hinh-thu-hut-dau-tu-nuoc-ngoai-5-thang-dau-nam-2020 * http://fia.vn/tinbai/5283/Dau-tu-ra-nuoc-ngoai-Be-phong-va-su-bung-no 5 pháp luật điều chỉnh về hoạt động đầu tư ra nước ngoài nhằm quản lý và thúc đây hoạt động này.
Đặc biệt, Luật Đầu tư năm 2014 được ban hành với mục tiêu tạo cơ sở pháp lý vững chắc, bảo đảm cho hoạt động đầu tư ra nước ngoài đạt hiệu quả. Tuy nhiên, trên thực tế, các nhà đầu tư tại Việt Nam vẫn còn gặp không ít khó khăn khi tiến hành hoạt động đầu tư ra nước ngoài, khung pháp lý cho hoạt động đầu tư ra nước ngoài còn bộc lộ một số hạn chế, bất cập, chưa thực sự tạo điều kiện thuận lợi dé hoạt động đầu tư này có thê phát triển mạnh mẽ. Chính vì vậy, tập thể tác giả đã lựa chọn nghiên cứu về hoạt động đầu tư ra nước ngoài, pháp luật về hoạt động đầu tư ra nước ngoài và thực tiễn thi hành pháp luật về hoạt động dau tư ra nước ngoài nhằm đánh giá những mặt ưu điểm cũng như những hạn ché, tồn tại của pháp luật về hoạt động đầu tư ra nước ngoài trong quá trình triển khai trên thực tiễn, từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về hoạt động đầu tư ra nước ngoài. Do đó, đề tài: “Thực tiễn thi hành pháp luật về hoạt động dau tư ra nước ngoài và kiến nghị hoàn thiện” sẽ là công trình khoa học pháp lý có ý nghĩa lý luận và thực tiễn.
Tình hình nghiên cứu đề tài 2. Tình hình nghién cứu trong nước 1. Sach: Dinh Trọng Thịnh, “Thúc day doanh nghiép Viét Nam dau tu truc tiếp ra nước ngoài”, Nxb. Tài chính, Hà Nội, 2006.
Công trình đã hệ thống hóa lý luận việc đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp các nước đang phát triển, đồng thời xem xét, giới thiệu và đánh giá các chính sách của Việt Nam, các kinh nghiệm của một số quốc gia trong khu vực đối với lĩnh vực khuyến khích dau tư trực tiếp ra nước ngoài. Thêm vào đó, công trình cũng xem xét, đánh giá thực trạng đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian qua, đưa ra những giải pháp thiết thực nhằm thúc day mạnh mẽ hơn nữa hoạt động đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam. Luận văn thạc sĩ: Bùi Thị Thu Hiền, “Điều chỉnh bằng pháp luật hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam”, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2007. Luận văn trình bày một số vấn đề lý luận về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp và khái quát pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư ra nước ngoài.
Đồng thời, luận văn đã nêu kinh nghiệm điều chỉnh bằng pháp luật đối với hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của một số quốc gia như: Hàn Quốc, Singapore, Trung Quốc. Bên cạnh đó, luận văn đã đánh giá thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam và thực tiễn áp dụng. Trên cơ sở đó, luận văn đã đề ra các phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và khuyến khích đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam. Luận văn thạc sĩ: Đỗ Thị Phương, “Pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn”, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2013.
Luận văn trình bày một số van dé ly luận về pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam. Đồng thời, luận văn có nghiên cứu pháp luật của một số nước về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp như: Hàn Quốc, Thái Lan, Ấn Độ và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Bên cạnh đó, luận văn đã đánh gia thực trạng pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam. Từ đó, đề ra các phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam.
Luận văn thạc sĩ: Nguyễn Xuân Trường, “Pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài ở Việt Nam”, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2017. Luận văn đã trình bày một số vẫn đề lý luận về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài và pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài. Đồng thời, luận văn có nghiên cứu pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của một số nước trên thế giới gôm: Trung Quôc, Han Quôc và Thái Lan. Bên cạnh đó, luận văn đã phân 5 tích những nội dung cơ bản của pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài ở Việt Nam, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài ở Việt Nam.
Luận văn thạc sĩ: Nguyễn Lê Trúc Anh, “Thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ky đầu tư ra nước ngoài theo Luật Dau tu năm 2014 — Thực tiễn thi hành”, Trường Dai học Luật Ha Nội, năm 2019. Luận văn đã trình bày tổng quan về đầu tư ra nước ngoài và pháp luật về thủ tục đầu tư từ Việt Nam ra nước ngoài. Bên cạnh đó, luận văn đã phân tích, đánh giá thực tiễn thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài tại Việt Nam. Từ đó chỉ ra những yêu cầu của việc hoàn thiện pháp luật về thủ tục đầu tư ra nước ngoài tại Việt Nam và đề xuất một số kiến nghị nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về thủ tục đầu tư từ Việt Nam ra nước ngoài.