CHƯƠNG 1 SỰ PHAT TRIEN CUA CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VE BAO DAM ĐẦU TƯ Ở LÀO. SỰ THAM KHẢO KINH NGHIỆM CỦA VIỆT NAM NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT CỦA LÀO VE BAO DAM ĐẦU TU 1. Khái quát về pháp luật bảo đảm đầu tư ở Cộng hòa Dan chủ Nhân dân Lào Pháp luật về bảo đảm đầu tư là hệ thống những quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực bảo đảm đầu tư. Hệ thống các văn bản pháp luật của Lào hiện nay về đầu tư đã có những quy định về bảo đảm dau tư như: Hiến pháp sửa đổi, b6 sung năm 2003; Luật khuyến khích đầu tư nước ngoài tại Lào năm 2004; Nghị định số 301/TTG ngày 12/10/2005 tô chức thi hành Luật Khuyến khích đầu tư nước ngoài tạ CHDCND Lào; Bản hướng dẫn số 331/CTUKĐ Ngày 29/03/2008 của Chủ tịch Ủy ban Kế hoạch và Đầu tư về một số biện pháp khuyến khích và bảo hộ hoạt động đầu tư nước ngoài tại Lào và Luật Đầu tư năm 2009.
Những văn bản pháp luật chủ yếu này thê hiện chính sách bảo đảm đầu tư nước ngoài tại CHDCND Lào thông qua những điểm sau: e Chính phủ Lào đảm bảo thực hiện 6n định, lâu dài chính sách đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Lào; đồng thời sửa đôi, bố sung chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài theo nguyên tắc tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư. e Chính phủ Lào khuyến khích và dành ưu đãi đặc biệt với các dự án đầu tư sản xuất hàng xuất khâu, sử dụng công nghệ cao, dự án đầu tư thuộc danh mục các dự án đặc biệt khuyến khích đầu tư và danh mục các địa bàn khuyến khích đầu tư. e Chính phủ Lào công nhận và bảo hộ quyền sở hữu tài sản, vốn đầu tư, lợi nhuận, các quyên và lợi ich hợp pháp khác của chủ dau tư, các tài sản này không bị quốc hữu hoá, không bị trưng dụng. e Trường hợp các quy định mới của pháp luật làm thiệt hại đến lợi ích của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các hợp đồng hợp tác kinh doanh đã được quy định tại giấy phép đầu tư thì các quy định đó sẽ không áp dụng đối với các dự án đã được cấp giấy phép đầu tư.
Cơ quan cấp phép đầu tư sẽ điều chỉnh lại cho doanh nghiệp được hưởng những ưu đãi từ những quy định mới. Có thể thấy pháp luật bảo đảm đầu tư của Lào đảm bảo tính thống nhất giữa các văn bản pháp luật có liên quan như: Luật Doanh nghiệp, Luật Phá sản, Luật Thuế. Trong đó, Luật Doanh nghiệp quy định việc thành lập công ty, hình thức, loại hình, kế cả việc góp vốn của người dau tư. Pháp luật bảo đảm dau tư có thé được hiểu theo hai nghĩa: theo nghĩa rộng, pháp luật bảo đảm đầu tư bao gồm các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành va bảo đảm thực hiện dé: (i) Bảo toàn vốn dau tư và các tài sản khác của nhà dau tư; (ii)Tao một môi trường thuận lợi cho nhà đầu tu; (iii) Thừa nhận quyền sở hữu hợp pháp của nhà đầu tư đối với các lợi nhuận sinh ra tư hoạt động sản xuất kinh doanh của họ, bảo đảm công băng và thỏa đáng giữa bên đầu tư và bên nhận đầu tư, bảo đảm giải quyết kịp thời, thỏa đáng và đúng pháp luật các tranh chấp phát sinh trong quá trình đầu tư.
Theo nghĩa hẹp, pháp luật bảo đảm đầu tư là sự bảo đảm bằng pháp luật von các tài sản khác được các nhà đầu tư đưa vào sản xuất, đưa vào kinh doanh. Vốn là van dé được quan tâm hơn cả nên yêu cầu bảo đảm vốn được đặt lên hàng đầu. Nhà đầu tư không thể bỏ vốn ra và yên tâm sản xuất, kinh doanh nếu thiếu các biện pháp bảo toàn vốn đầu tư và các tài sản khác của họ. Nhà nước Lào đã thừa nhận và bảo hộ quyền sở hữu của nhà đầu tư về vốn và tài sản của họ, bat ké họ đầu tư vốn dưới hình thức nào.
Trong lĩnh vực bảo toàn vốn và các tài sản khác của nhà đầu tư, pháp luật bảo đảm vốn và các tài sản khác của nhà đầu tư sẽ không bị trưng dụng, trưng thu hoặc bị tịch thu băng các biện pháp hành chính; doanh nghiệp có vốn đâu tư nước ngoài không bị quôc hữu hóa. Pháp luật bảo đảm đầu tư phải tạo môi trường đầu tư thuận lợi cho nhà đầu tư, bao gồm môi trường chính trị, kinh tế, xã hội, pháp lý. mà môi trường pháp lý là quan trọng nhất. Pháp luật bảo đảm đầu tư đặc biệt quan trọng khi thu hút vốn đầu tư nước ngoài, vì trước khi quyết định đầu tư vào một nước, nhà dau tư thường xem xét đến mức độ ồn định của tình hình chính trị, tiềm năng phát triển của nền kinh tế và môi trường đầu tư của nước đó.
Họ chỉ thực sự yên tâm đầu tư khi tin tưởng răng hoạt động đầu tư của họ bảo đảm sẽ sinh lợi. Theo tư duy mới, đầu tư nói chung, nhất là đầu tư trực tiếp của nước ngoài là một loại hình thị trường, bên cạnh các thị trường hàng hóa, thị trường lao động. Trên thị trường này, mọi hoạt động diễn ra theo cơ chế cạnh tranh, theo quy luật cung - cầu, theo so sánh lực lượng giữa đầu tư công nghệ và tiềm năng kinh tế. Sự điều tiết của nhà nước được thể hiện trong các quy định của pháp luật về đầu tư, tạo ra một hành lang pháp lý, trong đó nhà đầu tư có tòan quyền quyết định hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình.
Vấn đề lời hay lỗ, tồn tại hay phá sản, mở rộng hay thu hẹp phạm vi kinh doanh trong phạm vi giấy phép kinh doanh của mình, trước hết và chủ yếu thuộc về quyền hạn và trách nhiệm của chủ đầu tư. Do đó, nếu môi trường pháp lý không tốt cho hoạt động đầu tư nước ngoài thì lợi ích đầu tư khó được bảo đảm. Khi xem xét pháp luật này cần phân biệt giữa bảo đảm đầu tư với khuyến khích đầu tư. Cả hai biện pháp này đều nhằm tới mục đích là thu hút vốn đầu tư, nhưng bảo đảm đầu tư được các nhà đầu tư xem xét đầu tiên.
Bảo đảm đầu tư là những quy định tối thiểu được pháp luật dành cho nhà đầu tư mà căn cứ vào đó, họ lựa chọn hình thức kinh doanh. Khi đó, nhà nước mới áp dụng biện pháp khuyến khích đầu tư, mà chủ yếu là thuế. Như vậy, bảo đảm đầu tư được áp dụng cho mọi nhà đầu tư, nó như một nền tảng, cơ sở mà dựa trên nó, khuyến khích đầu tư được áp dụng chỉ cho một số nhà đầu tư trong một sô lĩnh vực được nhà nước đặc biệt quan tâm, chú trọng. Tóm lại, pháp luật bảo đảm đầu tư của Lào bao hàm tất cả những nội dung trên.
Pháp luật bảo đảm đầu tư được thé hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật thuộc nhiều ngành luật như: Hiến pháp. Luật Đầu tư, luật liên quan đến lĩnh vực đầu tư cũng như các văn bản pháp quy khác, trong các điều ước quốc tế về bảo đảm đầu tư nước ngoài do các bên hữu quan ký kết. Nhờ sự phát triển của khoa học pháp lý, của kỹ thuật xây dựng pháp luật cũng như nhờ sự tham khảo kinh nghiệm của các nước khác và kinh nghiệm áp dụng luật đầu tư trong thực tế mà các quy định của pháp luật về đầu tư ở nước CHDCND Lào ngày càng phát triển theo chiều sâu, ngày càng được chính xác hóa, chọn lọc và đúc rút được kinh nghiệm của các nước khác trên thế giới và ngày càng phù hợp hơn với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước Lào. Quá trình hình thành và phát triển của các quy định pháp luật về bảo đảm đầu tư ở Lào * Giai đoạn từ năm 1975 đến năm 1991 Sau khi cách mạng giải phóng dân tộc dân chủ nhân dân kết thúc (1975), Đảng NDCM Lào lãnh đạo đất nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa.
Đảng nhân Dân cách Mạng Lào lãnh đạo mọi lĩnh vực, mọi mặt hoạt động của đất nước. Nhà nước Lao đi thé chế hóa, cụ thé hóa các đường lối, chính sách của Đảng. Ngày 1/2/ 1975 Nhà nước CHDCND Lào đã tổ chức kỳ họp lớn nhất của Quốc hội tại Thủ đô Viêng Chăn. Kỳ họp đã nêu nhiều vấn dé cần được giải quyết và bổ sung, với kế hoạch sáng tạo dé phát triển đường lỗi chính trị, kinh tế - xã hội, quản lý nhà nước, về việc cải thiện đời sống của nhân dân trong nước cũng như ngoài nước, làm thế nào để nâng cao cuộc sống ngày càng tốt lên, dé thoát khỏi khỏi sự nghèo nan và lạc hậu và nhanh chóng đạt được mục tiêu “dân giàu nước mạnh” Vào thời gian đó, đất nước mới vừa được giải phóng, các chương trình công tác, cách thức quản lý đất nước chủ yếu được điều hành theo Nghị quyết, Nghị định của Chính phủ cũng như lệnh mệnh trực tiếp của Chủ tịch nước; Nhà nước Lào chưa ban hành các văn bản pháp luật đê áp dụng vào 10 việc điều chỉnh các mối quan hệ hàng ngày.
Dé điều hành đất nước cũng chưa có hiễn pháp va văn bản pháp luật, chỉ có Nghị quyết, Nghị định của Chính phủ và mệnh lệnh của Chủ tịch nước. Các cơ sở kinh tế vẫn còn yếu kém, cuộc sống của người dân phan lớn là dựa vào thiên nhiên. Công nghệ sản xuất, kinh doanh còn lạc hậu; kinh tế thị trường và thương mại chưa phát triển, chưa được mở rộng ra nước ngoài. Cho nên, việc phát triển đất nước gặp rất nhiều vấn đề khó khăn.
Trên thế giới có một số nước có đường lối, chính sách tương tự Lào và tương trợ, giúp đỡ nhau trong nhiều lĩnh vực, như: Việt Nam, Trung Quốc, Nga, Cu Ba. đặc biệt là nước Việt Nam. Việt Nam và Lào là nước láng giềng đã từng cùng nhau đứng lên đấu tranh giành độc lập dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Đông Dương và giành thăng lợi trong sự nghiệp giải phóng dân tộc. Hai quốc gia đã có quan hệ rất khăng khít trên nhiều lĩnh vực, CÓ Sự tương đồng về nhiều mặt như: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội.
Hai nước ký hiệp ước hữu nghị và hợp tác ngày 18/7/1977, cùng nhau đồng lòng coi trọng phát triển trên tất cả các lĩnh vực, với tinh than hữu nghị truyền thống, tình đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện. Đó là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp xây dựng đất nước của mỗi nước.