chương 1, tác giả trình bày một số van đề khái quát chung về chuyền đổi giới tính như khái niệm chuyền đổi giới tính, thực trạng về chuyên đổi giới tính trên thé giới, thực trạng về chuyền đổi giới tính ở Việt Nam. Tại chương 2, tác giả phân tích thực trang pháp luật về chuyên đổi giới tính trên thế giới và Việt Nam, trong đó dẫn chiếu các quan điểm pháp lý của Liên hợp quốc và của một số quốc gia cũng như Việt Nam về chuyên đổi giới tính. Trên cơ sở những phân tích, đánh giá các van dé lý luận và thực trạng pháp luật, tác giả đề xuất một số kiến nghị về xây dựng và hoàn thiện pháp luật về van đề chuyển đổi giới tính ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. * Bài tạp chí (1) Bai viết của Trương Hồng Quang (2013) về “Các vấn dé xã hội và ` A pháp lý về cộng dong người đông tính, song tinh và chuyển giới tại Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 6, tr.
Bài viết được tác giả nghiên cứu các nội dung chủ yếu sau: (i) phân tích một số van dé xã hội của cộng đồng người đồng tính, song tính và chuyền giới; (ii) phân tích các vấn đề pháp lý của cộng đồng người đồng tính, song tính và chuyên giới. Trong phan nghiên cứu các van đề pháp lý, tác giả có tập trung vào một số nội dung lớn sau: Một là, khăng định pháp luật hiện hành không cam hiện tượng người đồng tinh, song tính va quy định cắm người chuyền đổi giới tính đối với những người đã hoàn thiện về giới tính; hai là, phân tích sự bình đăng giới; ba là, xác định thuật ngữ pháp ly “gia đình” — một trong những yếu tổ quan trọng ảnh hưởng tới các chủ thể này; bốn là, chính sách bảo vệ đối tượng trẻ em là LGBT; năm là, quy định pháp luật về việc cắm việc kết hôn giữa những người cùng giới tính. (2) Bài viết của Trương Hồng Quang (2013) về “Người chuyển giới tại N ^ Việt Nam dưới góc nhìn pháp lý”, tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 12, tr. Bài viết được tác giả triển khai từ việc xác định như thế nào là nguoi chuyền giới, đặc điểm về người chuyền giới; thực trạng xã hội và pháp lý liên quan đến người chuyền giới tới kết luận của riêng mình về việc cải thiện tinh trạng chưa phù hợp ở góc độ xã hội và pháp lý đối với nguyền chuyền giới.
(3) Bài viết của Thái Thị Tuyết Dung và Vũ Thị Thúy (2013) về “Bao đảm quyên của người dong tính, người chuyển giới trong tư pháp hình sự”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 9. Bài viết được các tác giả triển khai một số nội dung như: (i) Nêu các khái niệm liên quan đến người đồng tính và người chuyên giới; (ii) phân tích các quy định của pháp luật liên quan đến người đồng tính và người chuyên giới; (iii) bảo vệ quyền của người đồng tính và người chuyên giới trong pháp luật hình sự; (iv) bảo vệ quyền của người đông tính và người chuyền giới trong pháp luật tố tụng hình sự và thi hành án hình sự. Với những nội dung chủ yếu trên, các tác giả đã hoàn thiện phần kiến thức nghiên cứu về người đồng tính, người chuyển giới nhìn từ góc độ tư pháp hình sự - một trong những công cụ nhằm bảo vệ quyền con người nói chung và người đông tính, chuyên giới nói riêng. (4) Bài viết của Nguyễn Thị Lan (2014) về “Quyên làm cha mẹ của những người thuộc nhóm đồng tính, song tính và chuyển giới”, tạp chí Dân chủ Pháp luật, số chuyên đề.
Bài viết được tác giả triển khai thành 04 phan, cụ thé: Phần 1, khái lược chung về nhóm LGBT; phần 2, quyền làm mẹ của người đồng tính nữ, người song tính và người chuyền giới; phần 3, quyền làm cha của người đồng tinh nam, người song tính và người chuyên giới; phần 4, một số giải pháp bảo đảm hơn nữa quyền làm cha, mẹ của người đồng tính, người song tính và chuyển ĐIỚI. (5) Bài viết của Nguyễn Văn Nguyên (2014) về “Cẩn quy định về chuyển đổi giới tính trong Bộ luật Dân sự (sửa đổi), Tạp chí Viện Kiểm sát, số 19. Bài viết được tác giả nghiên cứu theo hướng bình luận, đánh giá lồng ghép quan điểm, góc nhìn của cá nhân về việc ghi nhận van đề chuyền giới trong Bộ luật Dân sự 2005 (sửa đổi). Theo tác giả, việc ghi nhận nội dung mới này là điểm tiến bộ khi xem xét điều chỉnh các hiện tượng, quan hệ xã hội bang quy phạm pháp luật.
Tuy nhiên, bài viết mới chi dừng lại ở việc thể hiện quan điểm, đưa ra hướng bình luận, trao đôi cho mốc thời điểm dự án các phiên của Bộ luật Dân sự năm 2015 mà chưa nghiên cứu sâu các van đề pháp lý khác của chuyền đổi giới tính. Vì vậy, với sự khởi đầu này, chúng tôi cho rằng đây cũng là một trong những quan điểm quan trọng hỗ trợ cho việc nghiên cứu chuyên sâu van dé chuyên đổi giới tính của chúng tôi. (6) Bài viết của Trương Hồng Quang (2014) về “Quyền kết hôn của người dong tính”,Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 4, tr 27-36. Bài viết được tác giả thực hiện vào thời điểm Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 dang trong quá trình rà soát sửa đôi, bố sung.
Nhiều nội dung được đưa ra tranh bàn như độ tuôi kết hôn, chế định ly thân, hôn nhân thực tế và quan hệ chung sống của người đồng tính nhận được sự quan tâm của khá nhiều từ dư luận. Tác giả phân tích các khía cạnh khác nhau khi nghiên cứu bài viết này, cụ thé: Từ việc bình xét bối cảnh trên thé giới và Việt Nam đến thực tiễn đòi hỏi sự ghi nhận mối quan hệ đồng giới tại Việt Nam là nhu cầu thiết thực. Tác giả cũng bình luận nhiều quan điểm khác nhau về việc ghi nhận hoặc không ghi nhận nhu cầu này của người đồng tính tại Việt Nam. Trên cơ sở đó, tác giả đã đưa ra các quan điểm cá nhân về việc nên ghi nhận loại quyền năng cơ bản này cho người đồng tính tại Việt Nam.
(7) Bài viết của Trương Hồng Quang (2014) về “Về quyén xác định lại giới tính và quyền phẫu thuật chuyển đổi giới tính tại Việt Nam”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 5, tr 32 — 39. Bài viết được tác giả triển khai nghiên cứu ở 3 mục, cụ thể: Mục đầu tiên, tác giả nghiên cứu khái quát về quyền xác định giới tính và quyền chuyên đôi giới tính; mục thứ hai, tác giả tập trung nghiên cứu quyền xác định giới tính và quyền chuyên đổi giới tính trong pháp luật Dân sự Việt Nam; mục thứ ba, một vài kiến nghị được tác giả đưa ra để định hướng hoàn thiện quy định của pháp luật về xác định lại giới tính và các thủ tục hành chính có liên quan. Đồng thời, tác giả kiến nghị pháp luật cần thừa nhận người chuyền giới, cho phép người chuyên giới được phẫu thuật chuyên đổi giới tính. (8) Bài viết của Ngô Thi Hường (2015) về “Chuyển đổi giới tính và vấn dé kết hôn của người chuyển doi giới tinh”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 12.
Bài viết được tác giả tập trung vào hai nội dung lớn là sơ lược về chuyển đổi giới tính và van đề kết hôn của người chuyên đổi giới tính. Nội dung bài viết phản ánh được một khía cạnh quyền nhân thân lớn ảnh hưởng sâu rộng tới cộng đồng người chuyển đổi giới tính. Công trình là nguồn tài liệu tham khảo khi chúng tôi thực hiện nghiên cứu sâu rộng và toàn diện về người chuyền đổi giới tính tại Việt Nam, đặc biệt là mối liên hệ giữa các quyền nhân thân khác trước và sau khi chuyền đổi giới tính với quyền chuyền đổi giới tinh của cá nhân. (9) Bài viết của Nguyễn Nam Hưng và Phạm Thị An Mây (2015) về “Bàn về vấn dé chuyển đổi giới tính trong Dự án Bộ luật Dân sự”, tạp chí Kiểm sát, Viện Kiêm sát nhân dân tôi cao, sô 6.
Bài viết được xem xét như một ý kiến trao đồi, định hướng quan điểm xây dựng pháp lý về người chuyền đổi giới tính trong bối cảnh Bộ luật Dân sự Việt Nam dang sửa đôi, bố sung. Tác giả đồng tình với việc ghi nhận van dé này tại Bộ luật Dân sự Việt Nam và khẳng định rằng “Việc lần đầu tiên được ghi nhận quyền của người chuyển giới vào một bộ luật tư có ý nghĩa là xương sống cho việc ghi nhận ở một số các đạo luật hay ngành luật khác như: Luật bình đăng giới, Luật hôn nhân và gia đình. sẽ mở ra cánh cửa góp phần đảm bảo quyền con người, góp phân bảo vệ quyên yêu thê trong xã hội”. (10) Bài viết của Đỗ Văn Đại và Ngô Thị Vân Anh (2016) về “Diéu kiện và hệ quả của chuyển đổi giới tính trong pháp luật Việt Nam”, tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 6.
Bài viết được nghiên cứu vào thời điểm Bộ luật dân sự năm 2015 đã được Quốc hội Khoa XIII thông qua, theo đó quy định về van đề chuyền giới đã được ghi nhận tại Điều 37 của Bộ luật này. Tác giả đã triển khai bài viết theo hướng nghiên cứu các nội dung sau: Thứ nhất, các tác giả đã làm rõ điều kiện để chuyên đổi giới tính. Trong đó, những vấn dé sau được tác giả khai thác: (i) quyền có điều kiện; (ii) vấn đề phẫu thuật; (ii) điều kiện về tâm lý; (iv) điều kiện về độ tuổi; (v) số lượng lần chuyển đổi giới tinh; (vi) khả năng sinh đẻ. Thứ hai, hệ qua của việc chuyên đổi giới tính, trong đó các van dé sau được nhân mạnh: (i) thay đổi giấy tờ tùy than; (ii) quyền nhân thân với giới tinh mới; (iii) quan hệ vợ chồng đã có; (iv) quan hệ với con và hệ quả khác.
Bài viết đã nghiên cứu một cách khá sâu sắc quy định tại Điều 37 (van đề chuyên đổi giới tính) của Bộ luật Dân sự năm 2015. Tuy vậy, dung lượng trang viết có hạn nên còn khá 8 nhiêu khía cạnh khác nhau liên quan tới chuyên đôi giới tính chưa được tác giả đê cập. Do đó, sự tiép nôi két quả này của tác giả sẽ là điêm sáng cho đê tài nghiên cứu khoa học của chúng tôi. (11) Bài viết của Lê Thị Giang (2016) về “Quyên chuyển đổi giới tính - quyên nhân thân trong Bộ luật Dân sự năm 2015”, Tạp chí Kiểm sát, số 14, tr.
Bài viết đi vào tìm hiểu khái niệm và đặc điểm của quyền chuyền đổi giới tính. Bàn luận về quyền chuyên đổi giới tính trong Bộ luật Dân sự năm 2015.