CHƯƠNG I MOT SỐ VAN DE CHUNG VE BẢO LÃNH THEO BOLUAT DÂN SỰ 2015 1. Khái niệm, đặc điểm của bảo lãnh. LLL Khái niệm về bảo lãnh: Bao lãnh có thể hiểu là “Một biện pháp bao đâm truyền thông trong đó. các thia thuận được một người có nghĩa vụ bảo dim cho việc thực hiện một ghia vụ và chiu trách nhiệm cho một người khác đối với người thir ba” Nhu vay, bảo lãnh lâm phát sinh nên một loại ngiĩa vụ dên sự.
Nghia vụ, được định ngiấa tại Điều 274 BLDS năm 2015 (BLDS 2015), "là việc ma theo đó, một hoặc nhiều chi thé (san đây got chung là bên có nghia vu) phải ciuyễn giao vat, cimyễn giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá, thực hiện công việc hoặc Không được thực hiên công việc nhất định vi lợi ích cũa một hoặc nhiều chủ thé khác (san đập gọi chung la bên có quyền)” >. trong bão lãnh là cơ sở phát sinh các nghĩa vu khác, bao gồm, nghĩa vụ hoàn. Jai giữa những người cùng bao lãnh cho người bão lãnh đã hoàn tất ngiấa vụ. hoặc nghĩa vụ hoàn trả của người được bao lãnh đối với người bảo lãnh đã hoán thành nghĩa vụ bão lãnh.
Theo BLDS 2015 định nghĩa. "Báo lãnh 1a việc người tnt ba (sau đập got là bên bảo lãnh) cam két với bên có quyền (san day gọi là bên nhãn bảo lãnh) sẽ thưc hiện ngiữa vu thay cho bên có ngiữa vụ (san day gọi là bên được bảo iãnh), nếu khi đến han thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thc hiên không đăng ngiữa vu"? Khi một quan hệ nghĩa vụ được phat sinh thi trong đó thi ít nhất có một bên phải thực hiện một nghĩa vụ nhất định của mình vì lợi ich của bên. Dinan mm Điền 335 Bộ hút Dân 2015 kia. Van dé quan trong la néu bến có nghĩa vụ không tự minh thực hiện ngiấa vụ đó khi đến han thì quyên lợi của bên kia được bão đảm bằng phương thức nao.
Thông thường, bên có nghĩa vu sử dụng một tải sản thuộc sở hữu của minh để đem ra bảo dim cho việc thực hiện nghĩa vụ đối với bên kia thông qua các biên pháp cu thể như cam có, thé chap, đặt cọc, ký cược, ký quỹ. Tuy nhiên, trong rất nhiễu trường hợp, khi bên có nghĩa vụ không có tải sản để đem ra bao dim cho việc thực hiện ngiĩa vụ thi ho bude phải có người thứ ba để người nay đứng ra bão dim thực hiện nghĩa vụ của họ trước bén cỏ quyền. ‘Vi vậy, có thé thay rằng bão lãnh là một biện pháp bao đâm thực hiện nghĩa ‘vu thường sé được áp dụng trong các trường hợp bên có nghĩa vụ trong quan hệ nghĩa vụ chính không có tải sin riêng dé dim bảo thực hiện nghĩa vụ. Như ‘vay, người thứ ba đứng để ra cam kết trước bên có quyền vẻ việc sé đứng ra dam bảo thực hiện nghĩa vu thay thé cho bến cé nghĩa vụ, nếu khi đến thời hạn của việc thực hiện ngiĩa vụ mà bên có nghĩa vụ không thể thực hiện hoặc không thực hiện đúng nghĩa vụ mà minh cam kết Biện pháp bảo lãnh sẽ được hình thành nhờ có sự liên quan giữa ba chủ thé là bên bảo lãnh, bên nhân bảo lãnh và bên được bảo lãnh.
Thực chất, quan hệ bio lãnh là quan hệ được ác lêp giữa bên thứ ba với bên có quyển trong quan hệ nghĩa vụ chính nên chủ thể của quan hệ bão lãnh bao gồm ba "bên là bên bảo lãnh, bên được bao lãnh va bên nhận bão lãnh. bảo lãnh sẽ luôn là người thứ ba, bên nhận bao lãnh luôn là bên có quyển trong quan hệ ngiĩa vụ được bao đảm bởi biển pháp bảo lãnh Koi sử dụng biển pháp bão lãnh, người không có tai sin vẫn được đảm. ‘bao để có thé vay ở một người khác một số tién nhất định nếu người thứ ba đứng ra cam kết cho việc trả nơ thay. Bảo lãnh 1a một trong những biện pháp bảo đâm thực hiện ngiữa vụ dân sự được ra đời từ rất sóm va tiếp tục được kế thửa, phát triển trong pháp luật hiện nay của các quốc gia trên thé giới.
10 Bảo lãnh là một trong các biện pháp nhằm bảo dam thực hiện các nghĩa vụ dân sự hay được áp dung cho các trường hợp bên có nghĩa vụ trong quan hệ nghĩa vụ chính không có hoặc không di tài sản dé đăm bảo thực hiện nghĩa vụ va cũng có thể chưa đủ độ tin cây với bên có quyển. Quan hệ bảo lãnh được thực hiện giữa bên thứ ba (được goi la bên bảo lãnh) với bên có quyền trong quan hệ nghĩa vụ chính (được goi là bén nhận bao lãnh), Biện pháp bao lãnh đã xuất hiện dưới thời Luật La Mã và tiếp tục được xây dựng, phát triển trong pháp luật hiện đại của các quốc gia trên thể giới. Nhằm đâm bảo việc thực hiến nghĩa vụ dân sự của các bên tham gia Ban chất của biến pháp bao lãnh phụ thuộc vào kinh tế, trình độ phát triển của mỗi quốc gia. Trong luật La Mã bảo lãnh được quy định nhưng chưa thể hiện sự khác biệt như các chế định liên đới về nghĩa vụ tài sẵn, mã ở đó chua phát sinh: khái niêm nợ của cá nhân là thảnh viên của gia đính - nợ của từng thành viên trong gia đình thì chi thanh viên đó phải tra.
Ở thời kỳ này, bảo lãnh 1a một nghĩa vụ gắn liên với quyển nhân thân và chấm đút ngay khi người bảo lãnh. Cùng với sự phát triển của luật, bảo lãnh phát triển và luật đã cho phép: “người bdo lãnh đã trả xong nợ thực hiện quyén yêu câu của người được bảo lãnh (và cả những người được bão lãnh khác) hoàn lại cho mình số nợ đã rã đồng thời công nhận nguyên tắc phân chia nợ về mặt ngiữa vụ trong trường hop có nhiễu người bảo lãnh cũng một món no” * Bao lãnh đã được tiếp tục 'phát triển, hoàn thiện trong luật hiện hành va đã áp dụng quy chế nhiều người bảo lãnh cho một nghĩa vụ. Khi La Mã tiên đền giai đoạn Công hoà, bất đâu. sau khi Auguste chính thức phân chia chính quyển với Viên Nguyên lão thi bão lãnh đã được tach than hai loại riêng cụ thể bao gồm: i “MGt là.
Pdgjusso, Người bảo lãnh bảo đâm việc thực hiện ngiữa vụ của người được bảo lãnh và cam Rết số tự mình thực hiện, néu người duoc bảo lãnh vì If do nào đó ma Không thực hiện Hat là ty mình người bảo lãnh up quyén cho người nhận bảo lãnh thục hiện việc cho vay đối với người được bảo lãnh. Quan hệ giữa người bảo lãnh với người nhận bảo lãnh giỗng nine quan hệ giita người up quyển và người được ủy quyền: người nhậm báo lãnh có quyền yêu câu người bảo lãnh Toàn trả tài sẵn đã giao cho người có nghĩa vụ; người bảo lãnh có quyén yên cẩu người có nghia vụ trực tiếp thực hiên nghĩa vụ với minh”®. Các quy định vẻ bao lãnh, đặc biệt là bão lãnh Fidejusso được các nhà lâm luật hiện nay áp dụng gần như tắt cả trong quy định vẻ bao lãnh của pháp luật hiện đại, pháp luật Việt Nam cũng được xây dựng trên nên ting cia những quy định trên Biện pháp bao lãnh đã được các nha làm luật đưa vao hệ thông pháp luật Việt Nam từ rất sớm. Bắt đầu tử thời ky phong kiến nha Lê đã được quy định trong Quốc tiểu Hình luật, đã có viết vẻ biện pháp bao lãnh: "Người mắc nợ trỗn mắt, thi người đứng bdo lãnh phải hoàn trả tiền gốc mà thôi; nếu trong văn tự có gì rõ người sẽ trả thay, thi người ấy phải trả như người mac nơ, trải inật, thi bị xứ phạt 80 trượng; nễu người mắc nợ có con.
thi được đòi ở con Co thể nói khái niệm bảo lãnh cho dù có được nhìn nhân dưới nhiều góc đô khắc nhau (đưới góc đô ngôn ngữ hay luật học, khái quất hay chi tiét) thi cũng có những đặc điểm cơ bản sau: - Bảo lãnh là việc người thứ ba cam kết sẽ thực hiến ngiấa vu thay cho người được bão lãnh nêu như người sau này không thực hiện, thực hiên án 3 hạng 23 ° Đầu 500 Quốc tru hàn iit 12 không đúng hoặc thực hiện không đẩy di. Người thứ ba ở đây có thể là cá nhân, pháp nhân, thông thường người thứ ba, nếu là cá nhân thi phải la người có uy tin và có khả năng kinh tế cũng như là người có quan hệ thân thiết với người được bảo lãnh. ‘Vi đụ: Cha mẹ đứng ra bảo lãnh cho con, con cái cũng có thé bảo lãnh. cho cha me, anh chi em đứng ra bao lãnh cho nhau, ban bè thân hữu bảo lãnh cho nhau.
Tóm lại, trên thực tế thông thường người đứng ra bảo lãnh với người đươc bảo lãnh thưởng có các quan hệ đặc biệt. Do vậy, bao lãnh loại nay thường là không có thù lao Đối với bên bảo lãnh là pháp nhân: pháp nhân có thé đứng ra bao lãnh. cho pháp nhân khác trong việc thực hiện nghĩa vụ, cũng có thể bảo lãnh cho cả nhân Thông thường thì một pháp nhân nêu không phải lả mét tổ chức tín dụng, có hoạt đông bảo lãnh chuyên nghiệp thì cũng phải là doanh nghiệp có Tiên quan mất thiết đối với người được bao lãnh. Ví du: Công ty me bao lãnh cho một hợp đồng tin dụng của Công ty con, Công ty mẹ đứng ra bảo lãnh cho một hợp đẳng sản xuất của một Công ty con với các tổ chức tin dung có hoạt động bao lãnh chuyên nghiệp thì bảo lãnh là một nghiệp vụ, một loại dich vụ và có thù lao, Hiện nay, cùng với sự phat triển cũa nên kinh tế, số lượng các giao dich dân sự ngày cảng gia tăng ‘va nhu cân được bảo dim cho các giao dich đó cũng tăng theo, điều nay dẫn đến việc gia tăng đối với dich vụ bão lãnh của các tổ chức tín dung.
Quy đính này đã thể hiện các đặc trưng của bảo lãnh: Thứ nhất, bao lãnh được hình thanh từ sự thöa thuận của các bên. chủ thể Thứ hai, biên pháp bảo lãnh chỉ được áp dung khi bên mắc nợ lẫn tránh trách nhiệm trã nợ, có những hảnh vi cổ ý không thực hiên nghĩa vụ trả nợ của minh; 13 Thứ ba, chi bảo lãnh phin nợ gốc, không bảo lãnh phan lãi phát sinh từng gốc; Thứ tu, người bảo lãnh là người được thể hiện trong văn bản vay ng có thể có mối quan hệ hoặc không có liên quan tới người được bảo lãnh.