CHƯƠNG 1 BAN CHAT CUA TON THAT TINH THAN 1. Khái niệm, đặc điểm va hình thức biểu hiện của ton that tinh than 1. Khái niệm ton thất tinh than Quyên đối với tinh mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín của công dân là những quyền nhân thân bất khả xâm phạm, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Điều 50 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thê hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật”.
Dé cụ thể hóa các quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp, BLDS đã quy định về các quyền nhân thân và trách nhiệm BTTH của người có hành vi trái pháp luật. Khoản 1 Điều 604 BLDS 2005 quy định: “Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyên, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”. Như vậy, trách nhiệm BTTH là một loại trách nhiệm pháp lý, theo đó một người có lỗi, có hành vi trái pháp luật phải BTTH do hành vi của mình gây ra khi hành vi đó xâm phạm tới tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyên, lợi ích hợp pháp của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thê khác. Một điều cần lưu ý trong mối quan hệ này là giữa người gây thiệt hại và người bị thiệt hại không có giao kết hợp đồng (ví dụ một người điều khiển phương tiện giao thông vi phạm các quy tắc an toàn giao thông như phóng nhanh, vượt âu, lạng lách hoặc do gặp những tình huống, sự cô đột xuất, do bất cần, vô ý.
gây ra thiệt hại cho người khác). Tuy nhiên, trong thực tế, mặc dù các bên có quan hệ hợp đồng, chăng hạn như hợp đồng vận chuyên hành khách “nhưng trong quá trình áp dụng riêng với loại hợp đồng này các Tòa án nhân dân thường áp dụng trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng mà không áp dụng trách nhiệm do vi phạm hợp đồng” [4, tr. Điều 307, 609, 610, 611, 628 BLDS 2005 khi quy định về trách nhiệm BTTH và việc xác định thiệt hai trong các trường hợp xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, thi thể có đề cập đến hai loại trách nhiệm: trách nhiệm BTTH về vật chất và trách nhiệm bù dap tôn thất về tinh than. Trach nhiệm BTTH về vật chat được quy định rất cụ thé, đó là “trách nhiệm bù dap ton thất vật chất thực tế, tính được thành tiền do bên vi phạm gây ra, bao gồm tôn thất về tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút” (khoản 2 Điều 307).
Ngược lại, trách nhiệm bù đắp tôn thất về tinh thần được quy định rất chung chung “người gây thiệt hại về tinh thần cho người khác do xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người đó thì ngoài việc cham dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai còn phải bồi thường một khoản tiền đề bù đắp ton thất về tinh thần cho người bị thiệt hại” (khoản 3 Điều 307). “Tinh thần” là một thuật ngữ có nội hàm rất rộng, được nhìn nhận dưới rất nhiều khía cạnh khác nhau. Theo nghĩa chung nhất, đó là “tổng thể nói chung những ý nghĩ, tình cảm. những hoạt động thuộc về đời sống nội tâm của con người” [35, tr.
Do đó, những tổn thất về tinh thần cũng rất trừu tượng và được biểu hiện dưới nhiều hình thái khác nhau. Việc đưa ra được khái niệm day đủ và chính xác về tốn thất tinh than không hé đơn giản. - Sự khác biệt giữa hai thuật ngữ “ton thất” và “thiệt hại” Trong các văn bản pháp luật và trong thực tiễn không có sự phân định rõ ràng về mặt ý nghĩa giữa thuật ngữ “tổn thất” với “thiệt hại”, hai thuật ngữ này trong nhiều trường hợp được dùng chung và thay thế cho nhau. Điều 609, 610, 611, 628 BLDS 2005 có sự phân biệt khi sử dụng hai thuật ngữ “ton thất” - tinh than và “thiệt hại” - vật chất.
Tuy nhiên khi đối chiếu với quy định chung tại Điều 307 BLDS 2005 về trách nhiệm BTTH thi dé dang nhận thay thuật ngữ “tôn that” và “thiệt hại” được lặp lại nhiều lần nhưng các lần lặp lại có sự nhầm lẫn và không thống nhất về ý nghĩa giữa hai thuật ngữ này. Trong nhiều cuốn từ điển, “tồn that” cũng được định nghĩa là “thiệt hại” hoặc ngược lại và hai thuật ngữ này đều nói đến sự mat mát [15. Cụ thể hơn, thiệt hại không chỉ là về vật chất mà còn bao hàm cả thiệt hại về tinh thần, đó là “bị mat mát về người, về của cải vật chất hoặc tinh thần” [35, tr. Liên quan đến thuật ngữ “tôn that” và “thiệt hại”, có quan điểm cho rang “sẽ là vô ích khi phức tạp hóa van đề bằng cách phân biệt ton thất và thiệt hại, dù chúng ta có làm được việc đó thì điều này không đem lại một hệ quả bản chất và rõ rệt” [20, tr.
Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng chính sự không phân biệt rõ ràng hai thuật ngữ này đã dẫn đến những quy định và khái niệm không thống nhất như đã phân tích ở trên và mang lại nhiều sự lúng túng trong áp dụng pháp luật. Việc phân biệt này không chỉ có ý nghĩa học thuật ma còn có tầm quan trọng đặc biệt trong lĩnh vực lập pháp. Khái niệm tôn thất rộng hơn thiệt hại. Thiệt hại mang ý nghĩa chắc chắn đã xảy ra và hoàn toàn định lượng được, vi vậy chỉ có thé được sử dụng với những thiệt hại về vật chất.
Còn ton thất bao hàm cả những trường hợp trừu tượng, khó định lượng được toàn bộ mà từ thiệt hai không dùng dé thay thé được. - Khái niệm ton thất tinh than Tổn that tinh than là một khái niệm rộng, các văn bản khác nhau có mức độ công nhận khác nhau về tôn thất này. Theo bình luận số 5 tại Điều 7.2 Bộ nguyên tắc của UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế, thiệt hại phi vật chất “là những nỗi đau về thể xác và tinh thần (pretium doloris), ton hại đến danh dự nhân phẩm, thiệt hại về hình thé. cũng như những xúc phạm đến danh dự hoặc uy tín”.
Ngoài ra còn có rất nhiều sự liệt kê về các loại tốn thất tinh thần: Sự dau đớn hay khó chịu là hậu quả của một thiệt hại về thân thể, sự thất vọng hay nỗi buồn phiền, các tôn hại 10 đến nhân cách, thanh danh hay danh dự hay là cái chết của vợ/chồng hay một người thân thuộc; bị rối loan tâm lý hay tình cảm nghiêm trọng do những ton hại về thân thé, trường hợp gây ảnh hưởng đến các giá trị tinh thần, trường hợp xúc phạm đến hình ảnh của người vợ/chồng đã quá cố, trường hợp đau đớn về thé xác ngay cả khi không có những tốn hại về bệnh ly hay về các cơ quan chức năng của cơ thé hay trường hợp gây ton hại cho sức khỏe [20, tr. 472]; cũng có thê là sự giảm sút về khả năng sinh lý, thiệt hại về thâm mỹ, thiệt hại về sự vui thích, ton thất về tình cảm hay cả những thiệt hại về tinh dục [20, tr. Nhu vậy, tôn thất tinh thần dù được biểu đạt qua nhiều từ ngữ khác nhau, nhưng tat cả các sự liệt kê đều cho thấy tốn thất tinh thần là sự tác động, ảnh hưởng tới tâm lý, tình cảm, sinh lý. mà người bị thiệt hại phải gánh chịu khi quyền nhân thân bị xâm phạm.
Trong pháp luật Việt Nam, BLDS 2005 mới chỉ dừng ở việc liệt kê các trường hợp được bù đắp và mức bù đắp tốn thất về tinh thần. Thông qua các quy định này và hướng dẫn tại Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP ngày 08 tháng 07 năm 2006 của Hội đồng Thâm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLDS 2005 về BTTH ngoài hợp đồng (NQ số 03), có thể hiểu, ton thất về tinh thần của cá nhân là tôn thất cho chính ban thân người bị xâm phạm về sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín hoặc tốn thất cho những người thân thích của người bị xâm phạm tính mạng (phải chịu đau thương, buồn phiền, mat mát về tinh cảm, bị giảm sút hoặc mất uy tín, bị bạn bè xa lánh do bị hiểu nham. Đối với pháp nhân và các chủ thể khác, tôn thất về tinh thần được hiểu là sự giảm sút hoặc mắt đi sự tín nhiệm, lòng tin. vì bị hiểu nhằm do danh dự, uy tín bị xâm phạm.
Tuy nhiên, theo chúng tôi, quy định này chưa chính xác. Chủ thể bị ton thất về tinh thần chỉ có thé là cá nhân. Pháp nhân và các chủ thé khác không phải là pháp nhân là những chủ thể trừu tượng, không có những đặc trưng riêng thuộc về con người. Bên cạnh đó, thiệt hại do danh dự, uy tín của pháp nhân bị xâm phạm hoàn toàn có thê định giá được.
lãi Theo tinh than của NQ số 03, trong mọi trường hợp xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, uy tín, người bị thiệt hại đều được hưởng khoản tiền bù đắp ton thất về tinh thần. Nếu chỉ đừng lại ở những quy định này thì tôn thất tinh thần chưa bao quát hết các trường hop. Hơn nữa, NQ số 03 chưa hướng dan cụ thể về các tốn thất tinh than và mức bù dap cụ thé trong các trường hợp khác nhau dẫn đến cách hiểu và áp dụng không thống nhất đối với những vụ việc có tính chất tương tự nhau. Điều 26 đến Điều 51, Điều 738 BLDS 2005 liệt kê tương đối đầy đủ các quyên nhân thân của cá nhân.
Điều 9 và Điều 25 BLDS 2005 quy định cách thức bảo vệ quyền dân sự nói chung và quyền nhân thân nói riêng, trong đó quy định chủ thê bị xâm phạm có quyền tự bảo vệ hoặc yêu cầu cơ quan, tô chức có thâm quyền buộc người vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi; cải chính công khai; buộc BTTH.