CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VE CÁC TOI XÂM PHAM TINH DUC TRONG LUAT HÌNH SỰ 1. Khái quát về tình dục và quyền tình dục 1. Khái niệm về tình dục Tình dục là một chủ để được quan tâm nghiên cứu ngày một nhiều hơn, bắt đầu từ thế kỷ 18, bởi tình dục vừa mạnh mẽ, vừa đặc biệt với bản chất riêng tư và công khai. Từ thế kỷ 20, khoa học về tình dục ra đời.
Tình dục học (human sexuality studies) là một môn khoa học xã hội bao gom nhiều bộ môn khoa hoc khác nhau như: xã hội học, văn hóa học, nhân học, lịch sử, phụ nữ học, giới học, triết học, sinh học. Khoa học tình dục nghiên cứu hành vi tinh dục của loài người nhằm giải thích cho nhiều hiện tượng, hành vi tình dục khác nhau, chang hạn như nhận dang, định hướng, sở thích tình dục dưới khía cạnh cua những phân tích văn hóa, các định kiến xã hội, quyền lực, bất bình đăng giới, phân biệt chủng tộc, nhằm hướng tới sự công bằng xã hội. Các nhà tình dục học khẳng định rằng, tình dục là khía cạnh trung tâm trong cuộc sống con người, bao gồm giới tính, nhận dạng và vai trò giới, định hướng tình dục, gợi tình, khoái cảm, âu yếm và sinh sản. Tình dục được trải nghiệm và thé hiện thông qua suy nghĩ, tưởng tượng, ham muốn, niềm tin, thái độ, giá tri, hành vi, vai trò và các mối quan hệ.
Tình dục có thé bao gồm tất cả những khía cạnh trên nhưng không phải ai cũng trải nghiệm hay thé hiện được tất cả. Tình duc bị ảnh hưởng bởi mối tương tác giữa các yếu tô sinh học, tâm lý, xã hội, giới tính, kinh tế, chính trị, văn hoá, đạo đức, luật pháp, lịch sử, tôn giáo, tín ngưỡng và tâm linh (Cihp, 2004). Dưới góc độ tâm lý học, theo đánh giá của Kaplan (1964), trước đây, tình dục là một thuật ngữ được định nghĩa là khoái cảm hay những gì có thê quan sắt được. Tình dục được định nghĩa một cách chung chung, rất it tác giả tìm ra các thành phan/thuéc tính của nó.
Có thé phân tích một vài định nghĩa dưới đây: "Tinh duc là khả năng đạt được khoái cam từ các hoạt động và hành vi tình duc ? khác nhau, đặc biệt là từ quan hệ tình duc; Các khía cạnh của hành vi tình duc bao gom: ban sắc giới tinh, xu hướng tình duc, thái độ và hoạt động tình dục ”! Theo Goettsch (1989), tình dục được định nghĩa là năng lực cá nhân dap ung với những trải nghiệm thể chất tạo ra sự kích thích ở bộ phận sinh dục và các cấu trúc nhận thức (những trải nghiệm mới hoặc phản ánh với những trải nghiệm trong quá khứ mà không phụ thuộc vào quá trình trải nghiệm thể chất). Khi phân tích về các thuộc tính của khái niệm tình dục, tác giả chỉ ra bốn khía cạnh của tình dục gồm: (1) Tình duc là một năng lực bên trong của cá nhân (không phụ thuộc vào những nguồn lực bên ngoài như chuẩn mực, giá tri, văn hóa); (2) Tình dục là những trải nghiệm tự nhiên hoặc từ quá trình học hỏi (chăng hạn như trong các mối quan hệ với bạn tình) mà cá nhân trải qua trong cuộc đời; (3) Tình dục là sự kích thích của toàn bộ cơ thể, là phản ứng về mặt thể chất đối với các kích thích lên cơ thể; (4) Tình dục là sự kích thích của bộ phận sinh dục. Mặc dù, cả cơ thé đều tham gia vào hoạt động tình dục nhưng bộ phận sinh dục là trọng tâm của hoạt động tình dục mang lại cho con người trải nghiệm khoái cảm mạnh mẽ nhât. Theo quan niệm của y học: tình dục là sự ham muốn nhục dục?.
Khái niệm này đã gắn van dé tình dục với những ham muốn bản năng sinh học của con người mà chưa thể hiện được đặc trưng mang tính xã hội, mang tính "người" trong quan niệm về tình dục ở người. Có quan niệm cho rằng, tình dục là sự phát triển tự nhiên tất yếu của giới tính con người. Tình dục là nhu cầu tự nhiên của con người khi bước vào tuổi dậy thì. Mối quan hệ tình dục nảy sinh trên cơ sở tình cảm tốt đẹp và tình yêu trong sáng giữa nam và nữ.
Tình dục là một phần bản năng dé duy tri nòi giống.3 Khái niệm này phan nào thể hiện được những vai trò cơ bản quan trọng của tinh dục và cũng thé hiện được bản chất người trong quan hệ tình dục. ! Từ điển của Hiệp hội các nhà tâm lí Hoa Ki APA. Truy cập tại: https://dictionary.org/sexuality ? Nguyễn Như Ý (1999), Đại từ điển Tiếng Việt, NXB Văn hóa thông tin Hà Nội, Hà Nội. 3 Trần Thị Minh Ngọc (2005), Nghiên cứu nhận thức của sinh viên đại học sư phạm về SKSS, Luận án tiễn sĩ Tâm lý học, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
8 Theo ông Bùi Văn Khánh (2017), khi nhắc đến tình duc cần quan tâm đến hai khía cạnh là sinh học và xã hội. Khía cạnh sinh học: Nam giới có khả năng tạo ra tinh trùng, còn phụ nữ tạo ra trứng. Khi quan hệ tình dục xảy ra tinh trùng có thể kết hợp với trứng tạo thành một cá thê sống mới. Khia cạnh xã hội: Giữa nam và nữ có thé xuất hiện cuốn hút rất mạnh mẽ về mặt sinh lý (cuốn hút giới tính) hoặc về tình cảm (tình yêu).
Sự cuốn hút này có thể dẫn đến hôn nhân bền chặt và hình thành nên một gia đình”. Trong quan niệm trên, tinh dục đã được phân định rõ hai khía cạnh sinh học và xã hội gan chặt với việc hình thành một gia đình và nuôi dưỡng những cá thé mới. Bởi xét cho cùng tinh dục nhằm hai mục đích: Sinh sản và thỏa mãn nhu cầu sinh lý. Nó chịu ảnh hưởng của hệ thần kinh, hệ nội tiết và các chuẩn mực xã hội, các quan niệm về giới tính, tình yêu, HN&GD phổ biến trong cộng đồng từng tộc người.
Tình dục có trách nhiệm là khi cá nhân phải tự kiểm soát được hành vi tình dục của minh và của bạn tình khi có quan hệ tình dục. Với quan niệm này, tình dục được nhấn mạnh trên phương diện ý thức con người. Tình dục an toàn và có trách nhiệm tránh được việc mang thai ngoài ý muốn và các bệnh lây truyền qua đường tình dục. Tình dục có ý thức, có trách nhiệm mang lại niêm vui và hạnh phúc cho con người.
Có thê thây hiện nay có nhiêu khái niệm khác nhau về tình dục, có những khái niệm tình dục có nội hàm rộng và có những khái niệm có nội hàm hẹp chỉ thê hiện được một mặt của đời sông tình dục con người. Trong phạm vi hạn hẹp của dé tài nghiên cứu chúng tôi thống nhất hiểu: Tình duc là một hiện tượng tâm sinh ly điên ra trong đời sông con người. Do là ban năng tính duc (hành vi tìm kiêm khoái cảm hoặc sinh sản) đã được con người xã hội hóa găn liên với những tình cảm đặc trưng mang bản chát văn hóa, xã hội. Theo đó, khái niệm quan hệ tình dục được hiéu là quá trình gân gũi, tiêp xúc giữa con người nhăm thỏa mãn nhu câu tình dục, tình cảm của con người.
* Trần Quốc Thành, Nguyễn Thi Mùi & CS (2004), Tài liệu giáo dục dân số SKSS (Dành cho sinh viên ngành Tâm lý —Gido dục của các trường DHSP), UNFPA, Bộ giáo dục và đào tạo, Hà Nội. Quyén tình duc Quyền tình dục, xuất phat từ quyền con người, sé cần được bảo đảm đối với mọi cá nhân trong xã hội. Hiện nay, có rất nhiều các định nghĩa khác nhau về quyên tình dục. Theo IPPF thì “Quyển tinh duc là một tập hop các quyền dang được củng cố liên quan đến tình duc mà góp phan vào tự do, bình dang va nhân phẩm của tất cả mọi người ”6.
Theo một dé xuât được đưa ra thảo luận bởi Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) thì “guyên về tình duc là những quyển con người được thừa nhận trong pháp luật của các quốc gia, các văn kiện nhân quyên quốc tế và các tuyên bố đồng thuận khác. Nó bao gôm quyên của tat cả mọi người, một cách tự do không bị cưỡng bức, phán biệt đối xử và bạo lực, được: (i) hưởng tiêu chuẩn cao nhất có thể về sức khoẻ tình duc, bao gôm việc tiếp cận với các dich vu cham sóc sức khoẻ sinh sản và tình dục; (ii) tim kiếm, tiếp nhận và phổ biến thông tin liên quan đến tình duc; (iii) hưởng giáo duc tình duc; (iv) tôn trọng sự toàn vẹn về thân thể, (v) lựa chon bạn tình: (vi) quyết định có tham gia hoạt động tình duc hay không; (vii) có các quan hệ dong thuận về tinh duc; (viii) kết hôn dựa trên sự dong thuận; (ix) quyết định có con hay không và vào khi nào; (x) theo đuôi một đời sông tình duc thỏa mãn, an toàn và thi vị. ”” Hiện nay, quyên tình dục đã được cụ thé hóa qua Tuyên ngôn toàn cầu quyền tình dục (được thông qua tại Hội nghị thế giới lần thứ 14 về tình dục, tổ chức tại Hồng Kông, Trung Quốc, năm 1999). Theo văn kiện này, quyên tình dục bao gồm: "Quyên tự do tình dục (right to sexual freedom); quyền tự chủ về tình dục, toàn vẹn về tình dục, và được an toàn thân thê trong hoạt động tình duc (right to sexual autonomy, sexual integrity, safety of the sexual body); quyền về sự riêng tư trong tình dục (right to sexual privacy); quyền được công băng trong tình dục (right to sexual equity); quyền được hưởng khoái lạc tình dục (right to sexual pleasure); quyền được bày tỏ xúc cảm tình dục (the right to emotional 5 Liên đoàn làm cha mẹ có kế hoạch quốc tế (IPPF ) là một tổ chức phi chính phủ toàn cầu với mục đích rộng rãi là thúc day sức khỏe tình dục va sinh sản và ủng hộ quyền của các cá nhân dé đưa ra lựa chọn của riêng họ trong kế hoạch hóa gia đình 5 http://ippf.org/resources/publications/sexual-rights-ippf-declaration/ , truy cập: 22/2/2022.int/reproductivehealth/topics/gender_rights/sexual_health/en/ , truy cập: 22/2/2022.
10 sexual expression); quyền được tự do kết hợp về tình dục (the right to sexually associate freely); quyén duoc tu do quyét định một cách có trách nhiệm về việc sinh đẻ (the right to make free and responsible reproductive choices); quyền được tiếp nhận những thông tin khoa học về tình dục (the right to sexual information based upon scientific inquiry); quyền được giáo dục tình dục toàn diện (the right to comprehensive: sexuality education); quyền được chăm sóc sức khỏe tình dục (the right to sexual health care) ”. Như vậy, có thể thấy định nghĩa về quyền tình dục trong Tuyên ngôn toàn cầu quyên tình duc và định nghĩa về quyền tình dục của tổ chức Y tế thé giới (WHO) có một sự tương đồng khá lớn.