Chương 1: Lý luận về pháp luật đăng ký biện pháp bao đảm đáp ứng yêu cầu quản tri quốc gia hiện đại - Chương 2: Thực trạng pháp luật và thi hành pháp luật về đăng ký biện pháp bảo đảm tại Việt Nam - Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về đăng ký biện pháp bảo đảm đáp ứng yêu cầu quản trị quốc gia hiện đại 5 CHUONG 1: LÝ LUẬN VE PHÁP LUAT ĐĂNG KÝ BIEN PHÁP BAO DAM ĐÁP UNG YÊU CÂU QUAN TRI QUOC GIA HIỆN ĐẠI 1. Khái niệm về đăng ky biện pháp bảo đảm va pháp luật về dang ký biện pháp bảo đảm Trong thời gian qua, tại Việt Nam, Nhà nước đã có nhiều đưa ra nhiều giải pháp để đa dạng hóa các kênh và hình thức động viên nguồn lực nhằm phát triển cho kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, để có được một nguồn lực về vốn được bền vững thì giải pháp cơ bản và lâu dài là phải thực hiện được việc phát triển cũng như hoản thiện các công cụ tạo lập ra vốn thông qua hoạt động của thị trường vốn. Vì lẽ đó, việc hoàn thiện khung pháp lý về ĐKBPBĐ có ý nghĩa rất quan trọng, cần thiết trong việc mở rộng tín dụng một cách an toàn và hiệu quả.
Trong thời gian qua, trước những yêu cầu của thực tiễn, pháp luật Việt Nam về ĐKBPBĐ đã ngày càng được hoàn thiện, tạo tiền đề quan trọng cho các cá nhân, doanh nghiệp thuận lợi trong việc tiếp cận với các nguồn tín dụng và an toàn pháp lý trong giao dịch dân sự, kinh tế. Theo quy định của pháp luật của các quốc gia theo hệ thống án lệ như Mỹ, Canada, khái niệm giao dịch bảo đảm được hiểu là toàn bộ các giao dịch, không phụ thuộc vào hình thức và tên gọi, có mục đích tạo lập một quyền lợi được bảo đảm đối với các tài sản riêng hoặc tải sản cô định, chang hạn như hang hóa, giấy tờ có giá hoặc các tài sản vô hình khác,.; là giao dịch được thiết lập thông qua một thỏa thuận bảo đảm (là thỏa thuận trong đó quy định về hoặc tạo lập nên một lợi ích bảo đảm giữa chủ nợ và bên bảo đảm). Chính vì thế giao dịch bảo đảm theo khái niệm trong luật án lệ không bị giới hạn về loại hình của giao dịch mà được xác định căn cứ vào mục đích của việc thiết lập giao dịch. Do đó, các giao dịch bảo đảm không chỉ gồm những biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ theo luật dân 6 sự truyền thống, mà còn bao gồm cả các giao dịch khác như: bảo lưu quyền sở hữu trong mua trả chậm, trả dần; chuyên nhượng quyên đòi nợ; quyền cầm giữ; thuê tài sản.
Đối tượng của các giao dịch này là các động sản, bao gồm tài sản hữu hình và tài sản vô hình. Ở các nước theo trường phái pháp luật thành văn như Pháp, Đức, Nhật Bản lại không có khái niệm giao dịch bảo đảm như nêu trên, mà giao dịch bảo đảm được hiểu là các biện pháp bảo đảm cụ thé như cam có, thế chấp, bảo lãnh. Các nội dung nay được quy định tập trung chủ yếu trong BLDS và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành. Hiện nay, trong khoa học pháp lý khái niệm về ĐKBPBĐ chủ yếu được hiểu là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong các giao dịch về dân sự - kinh tế.
Mặc dù thiết chế ĐKBPBĐ tại Việt Nam ngày càng phát triển, tuy nhiên từ góc nhìn của pháp lý thì vẫn chưa có một khái niệm cụ thé có thể định nghĩa cụ thể về ĐKBPBĐ. Tại Điều 292 BLDS năm 2015 đã bỏ điều khoản về định nghĩa “giao dich bảo đảm” và bổ sung thêm hai biện pháp bảo đảm mới là “cầm giữ tài sản”, “bảo lưu quyền sở hữu tải sản”. Tuy nhiên, chế định ĐKBPBĐ không phải là chế định mới mà đã được quy định tại BLDS năm 2005, nhưng không phải ở góc độ là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ về dân sự. Ngoài ra, BLDS năm 2015 cũng đã quy định DKBPBD là một thiết chế đăng ký về “quyền” chứ không chỉ là hình thức ghi nhận và thé hiện sự thỏa thuận của các chủ thé trong giao dịch dân sự có bảo đảm như BLDS năm 2005.
Về lý luận, có nhiều cách hiểu cũng như định nghĩa khác nhau đối với thuật ngữ “đăng ký”. Trong Từ điển Tiếng Việt thì đăng ký được hiểu là ghỉ vào số của cơ quan quản lý để chính thức công nhận cho hưởng quyên lợi hay làm nghĩa vụ [26, Tr34]. Theo cuốn Từ điển Luật học, đăng ký việc cam có là (cơ quan nhà nước có thẩm quyền) công nhận và chứng thực về phương diện pháp lý quan hệ dân sự được đảm bảo bằng tài sản cẩm cố. 7 Đăng ký việc cẩm cố là một thủ tục được pháp luật quy định.
Đối với tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyên sở hữu, thì việc dùng tài sản đó cam cô dé bảo đảm thực hiện nghĩa vụ sẽ phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền là thủ tục bắt buộc [27, Tr235]. Còn trong cuốn Từ điển Giải thích thuật ngữ hành chính của Nhà xuất bản Lao động (xuất bản năm 2002) lại đưa ra định nghĩa khác: “Đăng ký: Thể thức ghi chép vào số sách nhà nước đặt ra như: đăng ký kết hôn, đăng kỷ kinh doanh, đăng kỷ chứng khoan,. Những sự kiện được ghi chép vào số là không thé chối cãi được” [24. Hiện nay, BLDS năm 2015 không còn khái niệm cụ thé về giao dịch bảo đảm, tuy nhiên có thể hiểu giao dịch bảo đảm là giao dịch dân sự được các bên thỏa thuận hoặc pháp luật quy định về việc thực hiện BPBĐ thực hiện nghĩa vụ gồm: thế chấp tài sản, cầm cố tài sản, ký cược, ký quỹ, bảo lưu quyền sở hữu, bảo lãnh, đặt cọc, tín chấp và cam giữ tài sản.
Như vậy, có thể thay BPBD là một phương thức dé đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ đã thỏa thuận giữa các bên trong giao kết hợp đồng. Ngoài ra, trong hướng dẫn của Ủy ban Liên hợp quốc về thương mại quốc tế (UNCITRAL) thì: “Giao dich bảo đảm được hiểu là giao dịch xác lập các lợi ích bảo đảm. Mặc dù việc chuyển nhượng tuyệt đối khoản phải thu không bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ, tuy nhiên dé thuận tiện cho việc dẫn chiếu các giao dịch bảo đảm sẽ bao gom cả việc chuyển nhượng các khoản phải thu ” [51]. Theo tác giả Hồ Quang Huy thì: “Đăng ký giao dịch bảo đảm là thủ tục pháp ly được thực hiện theo quy định của pháp luật về đăng ký giao dịch bảo dam.
Giao dich bảo đảm đã đăng ký có giá trị pháp lý đối với người thứ ba, kể từ thời điểm đăng ký. Việc đăng ký là điều kiện dé giao dịch bảo dam có hiệu lực chỉ trong trường hợp pháp luật quy định và thông tin về giao dịch bảo đảm được cơ quan đăng ký có thẩm quyên cung cấp là chứng cứ chứng minh quyển, lợi ích hợp pháp của bên nhận bảo dam đối với tài sản bảo dam” [23]. 8 Tại khoản 1 Điều 3 Nghị định số 99/2022/NĐ-CP ngày 30/11/2022 của Chính phủ về đăng ký biện pháp bảo đảm (sau đây gọi là Nghị định số 99/2022/NĐ-CP) quy định về khái niệm PKBPBD là việc cơ quan đăng ky ghi, cập nhật vào Số đăng kỷ hoặc vào Cơ sở dit liệu về biện pháp bảo đảm về việc bên bảo đảm dùng tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của mình hoặc của người khác hoặc đồng thời bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của mình và của người khác đối với bên nhận bảo đảm. Các định nghĩa nêu trên dù được diễn đạt theo nhiều cách thức khác nhau, nhưng có thé thấy nội hàm của hoạt động DKBPBD có đặc điểm như sau: (i) Đăng ký là hành vi ghi vào số của cơ quan nhà nước có thầm quyền; (ii) Dang ký làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của người thực hiện đăng ký và (iii) Những thông tin được ghi vào số của cơ quan đăng ký có thâm quyên là chứng cứ khách quan, không thê chối cãi.
Từ phân tích nêu trên, có thê hiéu DKBPBD là một thủ tục về pháp lý, được thực hiện theo trình tự và thủ tục do pháp luật quy định. Tuy nhiên, việc đăng ký sẽ chỉ là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng trong một số trường hop nhất định do pháp luật quy định và việc ĐKBPBĐ sẽ có giá trị pháp lý đối kháng với bên thứ ba kế từ thời điểm việc đăng ký được thực hiện. Trong khoa học pháp lý, đã có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm pháp luật.Lé Minh Tâm, “Khái niệm pháp luật có thể được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp tùy theo yêu câu tiếp cận và giải quyết vấn dé. Theo nghĩa hẹp, pháp luật là tổng thé các quy tắc xử sự do các cơ quan nhà nước có thẩm quyén ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí nhà nước và phản ảnh những nhu cau xã hội khách quan, điển hình, pho biến dé điều chỉnh các quan hệ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội” [37,Tr10], nghĩa là pháp luật chi bao gồm hệ thống quy phạm pháp luật thực định nên còn được gọi là pháp luật thực định.
Theo nghĩa rộng, “Pháp luật là tổng thể các quy tắc xử sự và các nguyên tắc, định hướng, mục đích pháp 9 luật, do các cơ quan nhà nước có thẩm quyên ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện y chí nhà nước và phản ảnh những nhu cẩu xã hội khách quan, điển hình, phổ biến để điều chính các quan hệ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội ” [37,Tr11]. Theo đó, khái niệm pháp luật bao gồm cả những van dé có tính khái quát, trừu tượng hơn thể hiện bản chất của pháp luật và có tính định hướng cho sự tồn tại cũng như phát triển của pháp luật. Trong đó, nguyên tắc pháp luật là những nguyên lý, tư tưởng chỉ đạo việc xây dựng, hoàn thiện và thực hiện pháp luật; định hướng pháp luật là yếu tố trung gian giữa nguyên tắc pháp luật và quy phạm pháp luật, thể hiện các chính sách, giải pháp lớn, quan trọng trong một thời gian tương đối dài. Còn mục đích pháp luật thé hiện tính hợp ly và hợp pháp của pháp luật trong phản ánh những nhu cầu khách quan, điển hình, phổ biến, có tính công lý và điều chỉnh một cách hài hòa, hiệu quả các quan hệ xã hội nhằm hướng tới những giá trị xã hội lớn: dân chủ, công bằng, bình đăng, minh bạch, công khai, tiền bộ.