chương Il của Bộ Iuật tổ tụng hình sự năm 2003 những nguyên tắc không còn phù hợp. Trong khi đó, BO Inj 6 tụng hình sự năm 2003 còn thiểu một số nguyên ắc quan trọng và phổ biến của 16 tụng hình sự đã được thừa nhận trên thé giới, đã được ghi nhận trong các công ước quốc tế về quyền con người (Che nghị quyết của Ding và Hiến pháp năm 2015 đạt r nhiều yên cầu mới, quan trọng, bổ sung nhiều nguyên tắc tr phấp tiến bộ nhằm bảo đảm tốt hơn quyễ: con người, quyỄn công din, Những yêu cầu này đồi hồi phải được uặtổ tung hình sự lung và những điểm mới của một số nguyên tắc cơ bản trong Bộ luật Tổ tụng hình sự năm 2015 Bộ luật tố tung hình sự năm 2015 được xây dựng công phụ, tiếp thu những tiến. bộ và rút kinh nghiệm thực tiễn áp dụng trong đời sống xã hội, bảo dim tính kế thừa. và phát triển.
Bộ hụt tổ tung bình sự năm 2015 đã thể chế hóa chủ trương cải cách tư pháp của Đảng ta; thé chế hóa Hiến pháp năm 2013; tăng cường trách nhiệm của cơ quan tiến hành 16 tụng, người tiền hành tổ tụng; kế thùa và pháp huy những mat tích cục của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003. "Những nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự được hình thành và phát triển xuất "hát từ đồi hỏi khách quan của xã hội, của yêu cần đầu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ quyền con người và là điều cần thiết không thể thiếu của hoạt động tổ tụng hình. Việc xác định đúng các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự có ý nghĩa quan trọng, định hướng quá trình xây dựng và thực hiện Bộ luật tố tụng hình sự. “Chương 11 Bộ luật tổ tụng hình sự năm 2015 - những nguyên tắc cơ bản đã thể hiện được diy đủ tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của Đăng và Nhà nước ta đối với cải cách tr pháp, là tư tưởng về dân chủ hóa hoạt động tố tụng hình sự, bảo đảm công ‘bing trong quá trình xét xử vụ án hình sự.
“Trong tổng số 30 điều luật được quy định tại chương II “Những nguyên tắc cơ. "bản" của Bộ luật tổ tụng hình sự năm 2003 thi chỉ giữ lại 27 điều luật để sữa đổi, bỗ sau và quy định thành 25 điều luật (ghép Điều 29 với Điều 30 thành Điều 31 mới và ghép Điều 21 với Điều 32 thành Điều 33 mới) và loại bỏ những quy định không phải tắc ra khỏi chương này, cụ thể là các điều 25, 26 và 27. là nguyên 'Như vậy, Chương II Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 bao gồm 27 điểu, từ itu 7 đến Điều 33. Nhìn chung, những nguyên tắc cơ bản quy định trong Bộ luật tố ‘tung hình sự năm 2015 vẫn được kế thừa các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm.
2003 để sửa đổi thành 25 điều luật và bỗ sung 02 điều luật mới (Điều 14 và Điều 19 BLTTHS năm 2015)'. cũng có quanđiểm cho rằng, Tuy nhiên, Bộ luật tổ tang hình sự năm 2015 đã quy định 4 nguyên tắc hoàn toàn mới như nguyên tắc suy đoán vô tội (Điều 13); nguyên tắc không ai bị xét xử hai lần vì một tội phạm (Điều 14); nguyên tắc ` Xem: PGS, FS. Nguyễn Hoa Binh (Chủ big), “So nh Bộ lust TỔ ơn hn sự nấm 2003 và Bộ ut TẾ ng Hình nụ năm 2013”, Những nội đun mới vong Bộ lật Tổ ng hình sự nam 2015, Neb, Chính tị quốc gia, Ha Nội -201ó 4 ‘Tea án Xét xử kịp thời, công bằng, công khai (Điều 25); nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm (Điều 26). tắc cơ ban của Bộ và những điểm mới của một số nguyên Dưới day là nội dung Thật tổ tụng hình sự năm 2015.
Nguyên tắc suy đoán vô tội (Điều 13) “Trong lịch sử pháp luật, suy đoán vô tội lần đầu tiên được thể hiện và quy định tại Điều 9 Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cộng bòa Pháp ngày 26/8/1789 v6 tội cho ‘trong thời gian cách mạng tư sản Pháp như sau: “Moi người đều được coi là đến khi bị tuyên bd phạm tội; nếu xét thấy cần thiết phải bắt giữ thi mọi sự cưỡng bike vượt quá mức cần thidt cho việc bắt giữ đều bị luật pháp xử phạt. “Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cộng hòa Pháp được coi là mốc son trong lịch sử hình thành và phát triển nguyên tắc suy đoán vô tội. Trong những văn bản quốc tế suy đoán vô tội được thể hiện trong Tuyên bể chung về quyển con người được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 10/12/1948: “Mỗi bj cáo dù đã bị buộc tội có quyền được coi là vô tội cho đến khỉ được chứng minh là phạm tội theo luật pháp tại một phiên toa xét xử công khai với mọi đâm bảo biện hộ cần thiết" (Điều 11 khoản 1). Một cách điễn đạt ngắn gon hơn.
của suy đoán vô tội được ghi nhận trong Công ước quốc tẾ về các quyền dân sự và chính trị được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 16/12/1966: “Người bị có quyền được coi là võ tội cho tới kh tội của người đó buộc là phạm một tôi hình sự được chứng minh theo pháp luật” (Điều 14 khoản 2). Trong Bình luận số 32 (đoạn 30) Ủy ban nhân quyền (HRC) đã giải thích như. sau: “mol người bị buộc tội hành sự có quyền được coi là vô tội cho đến Bhi dược chứng minh có tội theo pháp luật. Giả định võ tội là yếu tổ cơ bản cho việc bảo vệ qn con người, yêu cầu Mới tổ phải có bằng chứng pham tôi, đảm bảo không c dt tội ndu không chứng minh được những nghỉ ngờ đối với người đồ và đâm bảo rằng bị cáo có quyền được coi là vô tội và vụ án hình sự cần được xử lý theo nguyên tắc Theo nội dung của Bình luận trên, trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về 'sười bị cáo buộc phạm tội không có trách nhiệm chứng minh sự võ tội 48 này Điều 66 (khoản 2,3) Quy chế Rome quy định rõ hơn: “Trách: 2Xem: PGS, T3.
Ngyễn Hoa Binh 8a, lêm chứng mình bị cáo có tội thuộc về công tổ viên. Dé két tội, Téa án phải tin về tội của bị cáo mã không côn sự nghỉ ngờ hợp lý nà “Trong Điều 14 (khoản 3 điểm g) Công ước quốc tế về các quyển dân sự và chính. trị còn ghi nhận quyền “không bj ép buộc đưa ra lời khai chống lai chính mình hoặc ‘bude phải nhận là mình cổ tội" "Nguyên tắc suy đoán vô tội đã được quy định trong pháp luật hầu hết các nước. trên thé giới.
Tuy nhiên, nội dung của nguyên tắc này được ghi nhận ở mức độ khác nhan thy theo từng nước. Pháp luật tổ tụng hình sự hầu hết các nước trên thé giới chỉ hi nhận nguyên tắc suy đoán vô tội với hai nội dung là người bị buộc tội được coi la không có tội cho tới khi có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về bên buộc tội. Bộ luật tố tụng hình sự của Liên bang Nga năm 2001 được cho là quy định tương đối đẦy đã nội dung của nguyên the suy đoán v6 tội trong một điều luật (Điều 14 - Suy đoán vô tội) cụ thể như sau: “1, Bi can (người bị buộc tôi) được coi là không có tôi, chừng nào tội của họ không được chứng mình theo đúng trinh tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và không. bị Toà ăn tuyên phat bằng bản án dacóhiệu lực phúp luật.
Người bị tình nghỉ hoặc bị can (hgười bị buộc tôi) không có nghĩa vụ ching minh sự vô tội của mình. Vấn đề chứng mình tội phạm và bác bỏ những chứng cứ nhằm bảo vệ cho người bị tình nghỉ hoặc bị can thuộc trách nhiệm của bên buậc tội. Mọi nghĩ ngờ về tội phạm của bị can, nếu không được loại trừ theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thi phải được giải thích có lợi cho bị can. Bản dn lết tội không được dựa trên những giả định ”.
6 Việt Nam, trong Thông tư số 2225 - HCTP ngày 24/10/1956 của Bộ Tư pháp chấn chỉnh việc thực hiện quyền bao chữa đã đề cập đến nội dung cơ bản của nguyên tắc suy đoán vô tội như sau: “Khéng nên có định kiến rằng hễ người bị tray t6 là nhất định có tội mà đối xử như với người có tội; bị can trước khi tuyên án được coi như vôi tôi dé tòa án có thái độ hoàn toàn khách quan". Suy đoán vô tội trong lịch sử pháp luật của nước ta lẫn đầu tiên được ghỉ nhận là nguyên tắc tổ tụng bình sự và quy định trong Bộ luật tố tung hình sự năm 1988 như và chịu hình phạt, khi chưa có bản án kết tội của. sau: “Không ai có thé bị coi là có tội 2 Viện khoa họ Km sắt, Viện kiểm st nhân dân ỗ cao, “BS ade TÍ ng linh sự Liên bang Ngo”, Phụ trưng ‘Thing tín Khoa bọc pháp lý, Năm 2002 * Bộ Te phép, Tập lu ệ về pháp, Hà Nội, 1957, r 38,39, 6 Toà án đã có hiệu lực pháp luật” (Điều 10). Nguyên tắc này đã được Hiến pháp năm.
1992 ghỉ nhận và thể hiện như sau: “Không ai bị coi là có tội va phat chịu hình phot, hi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật” (Điều 72). Bộ luật tổ tụng hình sự năm 2003 về cơ bản vẫn giữ nguyên nội dung nguyên tắc suy đoán vô tội của Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 và chỉ bỏ cụm từ “có thể”, cụ thể như sau: “Không at bị coi là có tôi và chiu hình phạt, khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật” (Điều 9). Theo nguyên tắc suy đoán vô tội, một người không được coi là có tội cho đến khi tội của người đó chưa được xác định bằng bản án của Toà án có hiệu lực pháp luật. Không có một cơ quan, người có chức vụ nao có quyền xác nhận một người có tội trong việc thực hiện tội phạm.
Chỉ có Toa án mới có quyển xét xử vụ án hình sự và Xác nhận người có tội. Suy đoán vô tội, một nguyên tắc dân chủ trong tổ tụng hình sự nhằm bảo đâm tự do và bit khả xâm phạm về thân thể của công dân, bảo vệ cho công dân không bị truy cứu trách nhiệm hình sự vô căn cứ, báo đảm cho bị can, bị cáo thực hiện quyền bảo.