Những điểm mới nổi bật trong Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 - Kỷ yếu hội thảo khoa học

Tài liệu nghiên cứu Kỷ yếu hội thảo khoa học những điểm mới của bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về luật học.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Kỷ Yếu

2015

224
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

1. DANH MỤC CHUYÊN ĐỀ

1.1. Những nguyên tắc cơ bản trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

1.2. Những nội dung mới về người tham gia tố tụng trong BLTTHS năm 2015

1.3. Những quy định mới về người bị buộc tội trong BLTTHS năm 2015

1.4. Những điểm mới trong quy định của BLTTHS năm 2015 về người bào chữa, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự, người bị tổn hại, người bị kiến nghị khởi tố

1.5. Những điểm mới trong BLTTHS năm 2015 về thu thập chứng cứ

1.6. Những điểm mới của BLTTHS năm 2015 về tạm giữ, tạm giam

1.7. Quy định của BLTTHS năm 2015 về biện pháp cưỡng chế

1.8. Những thay đổi, bổ sung cơ bản trong quy định của BLTTHS năm 2015 về khởi tố vụ án hình sự

1.9. Những điểm mới của BLTTHS năm 2015 về điều tra vụ án hình sự

1.10. Biện pháp điều tra tố tụng đặc biệt

1.11. Những điểm mới trong quy định của BLTTHS năm 2015 về truy tố

1.12. Những điểm mới trong quy định của BLTTHS năm 2015 về xét xử sơ thẩm

1.13. Giới hạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự

1.14. Tham quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm đối với bản án sơ thẩm theo quy định của BLTTHS năm 2015

1.15. Thủ tục xét tha tà trước thời hạn có điều kiện theo quy định của BLTTHS năm 2015

1.16. Những điểm mới cơ bản trong quy định của BLTTHS năm 2015 về giám đốc thẩm

1.17. Thủ tục đặc biệt xem xét lại quyết định của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

1.18. Những điểm mới trong BLTTHS năm 2015 về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi

1.19. Thủ tục tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân

1.20. Bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác trong tố tụng hình sự

2. NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN TRONG BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2015

2.1. Đặt vấn đề

2.2. Nguyên tắc suy đoán vô tội

Tóm tắt

I. Những nguyên tắc cơ bản trong Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015

Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 đã kế thừa và phát triển các nguyên tắc cơ bản từ phiên bản trước, đồng thời bổ sung những quy định mới nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp. Các nguyên tắc này được xây dựng dựa trên tư tưởng dân chủ hóa hoạt động tố tụng, bảo đảm công bằng và quyền con người. Nguyên tắc suy đoán vô tội (Điều 13) là một trong những điểm mới nổi bật, khẳng định người bị buộc tội được coi là vô tội cho đến khi có bản án kết tội có hiệu lực pháp luật. Điều này thể hiện sự tiến bộ trong việc bảo vệ quyền lợi của người bị buộc tội.

1.1. Nguyên tắc suy đoán vô tội

Nguyên tắc suy đoán vô tội được quy định tại Điều 13 của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, là một bước tiến quan trọng trong việc bảo vệ quyền con người. Nguyên tắc này khẳng định rằng người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục luật định và có bản án kết tội của Tòa án. Điều này đảm bảo rằng trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng, người bị buộc tội không có nghĩa vụ chứng minh sự vô tội của mình. Nguyên tắc này cũng yêu cầu mọi nghi ngờ phải được giải thích có lợi cho người bị buộc tội, đảm bảo tính công bằng trong quá trình tố tụng.

1.2. Nguyên tắc không ai bị xét xử hai lần vì một tội phạm

Nguyên tắc không ai bị xét xử hai lần vì một tội phạm (Điều 14) là một điểm mới quan trọng trong Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015. Nguyên tắc này nhằm ngăn chặn tình trạng một người bị truy cứu trách nhiệm hình sự nhiều lần cho cùng một hành vi phạm tội, đảm bảo quyền lợi của người bị buộc tội. Điều này phù hợp với các công ước quốc tế về quyền con người và thể hiện sự tiến bộ trong hệ thống pháp luật Việt Nam.

II. Những quy định mới về người tham gia tố tụng

Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 đã bổ sung nhiều quy định mới liên quan đến người tham gia tố tụng, nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ. Các quy định này bao gồm việc mở rộng quyền của người bị buộc tội, người bị hại, và người làm chứng. Đặc biệt, quyền bào chữa của người bị buộc tội được tăng cường, đảm bảo họ có thể tự bảo vệ mình một cách hiệu quả trong quá trình tố tụng.

2.1. Quyền bào chữa của người bị buộc tội

Quyền bào chữa của người bị buộc tội được quy định tại Điều 16 của Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, là một trong những quy định quan trọng nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người bị buộc tội. Người bị buộc tội có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình. Quy định này đảm bảo rằng người bị buộc tội có thể trình bày ý kiến, đưa ra chứng cứ và yêu cầu cần thiết để bảo vệ quyền lợi của mình. Đây là một bước tiến lớn trong việc đảm bảo công bằng và minh bạch trong quá trình tố tụng.

2.2. Quyền của người bị hại và người làm chứng

Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 cũng bổ sung các quy định mới nhằm bảo vệ quyền lợi của người bị hại và người làm chứng. Người bị hại có quyền tham gia tố tụng, trình bày ý kiến và yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện các biện pháp cần thiết để bảo vệ quyền lợi của mình. Người làm chứng cũng được bảo vệ khỏi các hành vi đe dọa, cưỡng ép, đảm bảo họ có thể cung cấp thông tin một cách khách quan và trung thực.

III. Những thay đổi trong quy trình tố tụng

Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 đã có nhiều thay đổi quan trọng trong quy trình tố tụng, nhằm đảm bảo tính hiệu quả và công bằng. Các quy định mới về thu thập chứng cứ, tạm giữ, tạm giam, và biện pháp cưỡng chế đã được bổ sung và sửa đổi để phù hợp với thực tiễn và yêu cầu cải cách tư pháp.

3.1. Thu thập chứng cứ

Thu thập chứng cứ là một trong những giai đoạn quan trọng trong quy trình tố tụng. Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 đã bổ sung các quy định mới nhằm đảm bảo tính hợp pháp và khách quan trong việc thu thập chứng cứ. Các cơ quan tiến hành tố tụng phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về thủ tục, đảm bảo rằng chứng cứ thu thập được là hợp pháp và có giá trị pháp lý. Điều này giúp ngăn chặn tình trạng thu thập chứng cứ trái pháp luật, đảm bảo quyền lợi của người bị buộc tội.

3.2. Tạm giữ tạm giam và biện pháp cưỡng chế

Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 đã có những thay đổi quan trọng trong quy định về tạm giữ, tạm giam và biện pháp cưỡng chế. Các quy định mới nhằm đảm bảo rằng việc áp dụng các biện pháp này phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của pháp luật, đảm bảo quyền lợi của người bị tạm giữ, tạm giam. Đặc biệt, quy định về thời hạn tạm giữ, tạm giam đã được điều chỉnh để phù hợp với yêu cầu bảo vệ quyền con người và quyền công dân.

21/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương Il của Bộ Iuật tổ tụng hình sự năm 2003 những nguyên tắc không còn phù hợp. Trong khi đó, BO Inj 6 tụng hình sự năm 2003 còn thiểu một số nguyên ắc quan trọng và phổ biến của 16 tụng hình sự đã được thừa nhận trên thé giới, đã được ghi nhận trong các công ước quốc tế về quyền con người (Che nghị quyết của Ding và Hiến pháp năm 2015 đạt r nhiều yên cầu mới, quan trọng, bổ sung nhiều nguyên tắc tr phấp tiến bộ nhằm bảo đảm tốt hơn quyễ: con người, quyỄn công din, Những yêu cầu này đồi hồi phải được uặtổ tung hình sự lung và những điểm mới của một số nguyên tắc cơ bản trong Bộ luật Tổ tụng hình sự năm 2015 Bộ luật tố tung hình sự năm 2015 được xây dựng công phụ, tiếp thu những tiến. bộ và rút kinh nghiệm thực tiễn áp dụng trong đời sống xã hội, bảo dim tính kế thừa. và phát triển.

Bộ hụt tổ tung bình sự năm 2015 đã thể chế hóa chủ trương cải cách tư pháp của Đảng ta; thé chế hóa Hiến pháp năm 2013; tăng cường trách nhiệm của cơ quan tiến hành 16 tụng, người tiền hành tổ tụng; kế thùa và pháp huy những mat tích cục của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003. "Những nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự được hình thành và phát triển xuất "hát từ đồi hỏi khách quan của xã hội, của yêu cần đầu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ quyền con người và là điều cần thiết không thể thiếu của hoạt động tổ tụng hình. Việc xác định đúng các nguyên tắc cơ bản của tố tụng hình sự có ý nghĩa quan trọng, định hướng quá trình xây dựng và thực hiện Bộ luật tố tụng hình sự. “Chương 11 Bộ luật tổ tụng hình sự năm 2015 - những nguyên tắc cơ bản đã thể hiện được diy đủ tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của Đăng và Nhà nước ta đối với cải cách tr pháp, là tư tưởng về dân chủ hóa hoạt động tố tụng hình sự, bảo đảm công ‘bing trong quá trình xét xử vụ án hình sự.

“Trong tổng số 30 điều luật được quy định tại chương II “Những nguyên tắc cơ. "bản" của Bộ luật tổ tụng hình sự năm 2003 thi chỉ giữ lại 27 điều luật để sữa đổi, bỗ sau và quy định thành 25 điều luật (ghép Điều 29 với Điều 30 thành Điều 31 mới và ghép Điều 21 với Điều 32 thành Điều 33 mới) và loại bỏ những quy định không phải tắc ra khỏi chương này, cụ thể là các điều 25, 26 và 27. là nguyên 'Như vậy, Chương II Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 bao gồm 27 điểu, từ itu 7 đến Điều 33. Nhìn chung, những nguyên tắc cơ bản quy định trong Bộ luật tố ‘tung hình sự năm 2015 vẫn được kế thừa các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm.

2003 để sửa đổi thành 25 điều luật và bỗ sung 02 điều luật mới (Điều 14 và Điều 19 BLTTHS năm 2015)'. cũng có quanđiểm cho rằng, Tuy nhiên, Bộ luật tổ tang hình sự năm 2015 đã quy định 4 nguyên tắc hoàn toàn mới như nguyên tắc suy đoán vô tội (Điều 13); nguyên tắc không ai bị xét xử hai lần vì một tội phạm (Điều 14); nguyên tắc ` Xem: PGS, FS. Nguyễn Hoa Binh (Chủ big), “So nh Bộ lust TỔ ơn hn sự nấm 2003 và Bộ ut TẾ ng Hình nụ năm 2013”, Những nội đun mới vong Bộ lật Tổ ng hình sự nam 2015, Neb, Chính tị quốc gia, Ha Nội -201ó 4 ‘Tea án Xét xử kịp thời, công bằng, công khai (Điều 25); nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm (Điều 26). tắc cơ ban của Bộ và những điểm mới của một số nguyên Dưới day là nội dung Thật tổ tụng hình sự năm 2015.

Nguyên tắc suy đoán vô tội (Điều 13) “Trong lịch sử pháp luật, suy đoán vô tội lần đầu tiên được thể hiện và quy định tại Điều 9 Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cộng bòa Pháp ngày 26/8/1789 v6 tội cho ‘trong thời gian cách mạng tư sản Pháp như sau: “Moi người đều được coi là đến khi bị tuyên bd phạm tội; nếu xét thấy cần thiết phải bắt giữ thi mọi sự cưỡng bike vượt quá mức cần thidt cho việc bắt giữ đều bị luật pháp xử phạt. “Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cộng hòa Pháp được coi là mốc son trong lịch sử hình thành và phát triển nguyên tắc suy đoán vô tội. Trong những văn bản quốc tế suy đoán vô tội được thể hiện trong Tuyên bể chung về quyển con người được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 10/12/1948: “Mỗi bj cáo dù đã bị buộc tội có quyền được coi là vô tội cho đến khỉ được chứng minh là phạm tội theo luật pháp tại một phiên toa xét xử công khai với mọi đâm bảo biện hộ cần thiết" (Điều 11 khoản 1). Một cách điễn đạt ngắn gon hơn.

của suy đoán vô tội được ghi nhận trong Công ước quốc tẾ về các quyền dân sự và chính trị được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 16/12/1966: “Người bị có quyền được coi là võ tội cho tới kh tội của người đó buộc là phạm một tôi hình sự được chứng minh theo pháp luật” (Điều 14 khoản 2). Trong Bình luận số 32 (đoạn 30) Ủy ban nhân quyền (HRC) đã giải thích như. sau: “mol người bị buộc tội hành sự có quyền được coi là vô tội cho đến Bhi dược chứng minh có tội theo pháp luật. Giả định võ tội là yếu tổ cơ bản cho việc bảo vệ qn con người, yêu cầu Mới tổ phải có bằng chứng pham tôi, đảm bảo không c dt tội ndu không chứng minh được những nghỉ ngờ đối với người đồ và đâm bảo rằng bị cáo có quyền được coi là vô tội và vụ án hình sự cần được xử lý theo nguyên tắc Theo nội dung của Bình luận trên, trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về 'sười bị cáo buộc phạm tội không có trách nhiệm chứng minh sự võ tội 48 này Điều 66 (khoản 2,3) Quy chế Rome quy định rõ hơn: “Trách: 2Xem: PGS, T3.

Ngyễn Hoa Binh 8a, lêm chứng mình bị cáo có tội thuộc về công tổ viên. Dé két tội, Téa án phải tin về tội của bị cáo mã không côn sự nghỉ ngờ hợp lý nà “Trong Điều 14 (khoản 3 điểm g) Công ước quốc tế về các quyển dân sự và chính. trị còn ghi nhận quyền “không bj ép buộc đưa ra lời khai chống lai chính mình hoặc ‘bude phải nhận là mình cổ tội" "Nguyên tắc suy đoán vô tội đã được quy định trong pháp luật hầu hết các nước. trên thé giới.

Tuy nhiên, nội dung của nguyên tắc này được ghi nhận ở mức độ khác nhan thy theo từng nước. Pháp luật tổ tụng hình sự hầu hết các nước trên thé giới chỉ hi nhận nguyên tắc suy đoán vô tội với hai nội dung là người bị buộc tội được coi la không có tội cho tới khi có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về bên buộc tội. Bộ luật tố tụng hình sự của Liên bang Nga năm 2001 được cho là quy định tương đối đẦy đã nội dung của nguyên the suy đoán v6 tội trong một điều luật (Điều 14 - Suy đoán vô tội) cụ thể như sau: “1, Bi can (người bị buộc tôi) được coi là không có tôi, chừng nào tội của họ không được chứng mình theo đúng trinh tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và không. bị Toà ăn tuyên phat bằng bản án dacóhiệu lực phúp luật.

Người bị tình nghỉ hoặc bị can (hgười bị buộc tôi) không có nghĩa vụ ching minh sự vô tội của mình. Vấn đề chứng mình tội phạm và bác bỏ những chứng cứ nhằm bảo vệ cho người bị tình nghỉ hoặc bị can thuộc trách nhiệm của bên buậc tội. Mọi nghĩ ngờ về tội phạm của bị can, nếu không được loại trừ theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thi phải được giải thích có lợi cho bị can. Bản dn lết tội không được dựa trên những giả định ”.

6 Việt Nam, trong Thông tư số 2225 - HCTP ngày 24/10/1956 của Bộ Tư pháp chấn chỉnh việc thực hiện quyền bao chữa đã đề cập đến nội dung cơ bản của nguyên tắc suy đoán vô tội như sau: “Khéng nên có định kiến rằng hễ người bị tray t6 là nhất định có tội mà đối xử như với người có tội; bị can trước khi tuyên án được coi như vôi tôi dé tòa án có thái độ hoàn toàn khách quan". Suy đoán vô tội trong lịch sử pháp luật của nước ta lẫn đầu tiên được ghỉ nhận là nguyên tắc tổ tụng bình sự và quy định trong Bộ luật tố tung hình sự năm 1988 như và chịu hình phạt, khi chưa có bản án kết tội của. sau: “Không ai có thé bị coi là có tội 2 Viện khoa họ Km sắt, Viện kiểm st nhân dân ỗ cao, “BS ade TÍ ng linh sự Liên bang Ngo”, Phụ trưng ‘Thing tín Khoa bọc pháp lý, Năm 2002 * Bộ Te phép, Tập lu ệ về pháp, Hà Nội, 1957, r 38,39, 6 Toà án đã có hiệu lực pháp luật” (Điều 10). Nguyên tắc này đã được Hiến pháp năm.

1992 ghỉ nhận và thể hiện như sau: “Không ai bị coi là có tội va phat chịu hình phot, hi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật” (Điều 72). Bộ luật tổ tụng hình sự năm 2003 về cơ bản vẫn giữ nguyên nội dung nguyên tắc suy đoán vô tội của Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 và chỉ bỏ cụm từ “có thể”, cụ thể như sau: “Không at bị coi là có tôi và chiu hình phạt, khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật” (Điều 9). Theo nguyên tắc suy đoán vô tội, một người không được coi là có tội cho đến khi tội của người đó chưa được xác định bằng bản án của Toà án có hiệu lực pháp luật. Không có một cơ quan, người có chức vụ nao có quyền xác nhận một người có tội trong việc thực hiện tội phạm.

Chỉ có Toa án mới có quyển xét xử vụ án hình sự và Xác nhận người có tội. Suy đoán vô tội, một nguyên tắc dân chủ trong tổ tụng hình sự nhằm bảo đâm tự do và bit khả xâm phạm về thân thể của công dân, bảo vệ cho công dân không bị truy cứu trách nhiệm hình sự vô căn cứ, báo đảm cho bị can, bị cáo thực hiện quyền bảo.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Những điểm mới nổi bật trong Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 - Kỷ yếu hội thảo khoa học là tài liệu chuyên sâu phân tích các cải cách quan trọng trong Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, nhằm nâng cao tính minh bạch, công bằng và hiệu quả trong quá trình tố tụng. Tài liệu này cung cấp cái nhìn toàn diện về các quy định mới, bao gồm việc bảo vệ quyền con người, tăng cường trách nhiệm của các cơ quan tố tụng, và cải thiện quy trình xử lý vụ án. Đây là nguồn tham khảo quý giá cho các nhà nghiên cứu, luật sư, và sinh viên luật.

Để hiểu sâu hơn về các quy định pháp luật liên quan, bạn có thể khám phá thêm Luận văn thạc sĩ luật học chế định đồng phạm theo quy định của bộ luật hình sự năm 2015, nghiên cứu chi tiết về chế định đồng phạm. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ luật học huỷ bỏ hợp đồng theo quy định của bộ luật dân sự năm 2015 cung cấp góc nhìn thực tiễn về áp dụng pháp luật. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ luật học đình chỉ giải quyết vụ án dân sự do hết thời hiệu khởi kiện sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về thời hiệu khởi kiện trong hệ thống pháp luật Việt Nam.