Mở đầu. phan Kết luận và nội dung chính gom 3 chương: CHUONG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁP LUAT BẢO HIẾM XA HỘI. CHUONG 2: THUC TRANG PHÁP LUAT BẢO HIẾM XA HỘI Ở VIỆT NAM. NHỮNG PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHAM HOÀN THIEN PHÁP LUẬT BẢO HIỂM XÃ HỘI Ở VIỆT NAM.
Danh mục tài liệu tham khao. CHUONG I MOT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHAP LUAT BẢO HIẾM XÃ HỘI 1. Khái niệm Bao hiểm xa hội. Sự hình thành của Bảo hiểm xa hội.
Ở thời cổ dai, con người phần vừa tự lực. phan vừa kết hợp đoàn để đi san ban, lao động nhằm kiếm sống. vật lộn với thiên nhiên. Khi gap rủi ro, tai biến thì họ tự mình chịu đựng, khác phục, vừa được các thành viên của cộng đồng hỗ trợ cưu mang.
Ở thời nay, sự tương trợ lan nhau mang tính tự phát. theo bản nang mới chỉ được thực hiện trong phạm vi cộng đồng nhỏ: trong gia đình. thân toc, giữa các thành viên cùng bộ lac, thôn xóm. Ở giải đoạn có phân công lao động, sản xuất, xã hội phát triển hon, quan hệ xã hội, quan hệ tác động lan nhau giữa các cá nhân.
giữa các cong đồng cũng phát triển hơn. Tôn giáo xuất hiện. Các thánh địa. hội nhà thờ, hội nhà chùa, trại bao dưỡng.
được thiết lap, trong đó có mục đích từ thiện trợ giúp các tín đồ, con chiên gap phải nghịch cảnh, trước hết là người nghèo, trẻ mo côi. Ngành công nghiệp hình thành, hàng loạt dân thôn di cư ra thành thị. Trong khoảng thé ky 16 đến thế ky 18, một số nghiệp đoàn thợ thủ công ra đời. Tình đoàn kết tương thân, tương ái piữa những người làm thuê nảy nở dần.
Ở một số nước châu Âu đã có nhiều quỹ tương trợ được thành lập. Giai đoạn Cách mang công nghiệp, số công nhân cong nghiệp đông dan, Giai cấp công nhân công nghiệp chỉ dựa vào tiền lương làm nguồn sống chủ yếu. có làm việc thì mới có lương để sống. Do vậy, những rủi ro.
tai biến xảy ra với họ sẽ gay ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống của họ. Để giảm thiểu những nồi lo âu của người làm công an lương đã có nhiều hệ thống. nhiều hình thức trợ siúp xã hội ra đời. Bên cạnh những khoản tiền nhỏ của các hội tương ‘a tế, còn có những quỹ tiết kiệm được Nhà nước khuyến khích thành lap, những quy định bat buộc của người sử dụng lao động phải chu cấp cho neười thuộc quyền quan lý bị ốm đau hoặc tai nạn lao dong.
Trong quá trình phát triển công nghiệp, trước cục diện mới, giai cấp công nhân ngày càng đông đảo nên đã có nhiều sức ép về chính trị và xã hội tác động, ảnh hưởng đến đời sống chính trị của các nước. chính phủ các nước bat buộc phải quan tâm đến tình cảnh lao động và đã từng bước cải thiện đời sống, điều kiện lao động cho người làm công an lương. Nam 1850, dưới thời Thủ tướng Bismac, nhiều bang của nước Đức đã giúp cho các dia phương lập quỹ bảo hiểm ốm đau, do các công nhân phải đóng tiền để được bảo hiểm. Như vậy, nguyên tác bao hiểm bat buộc bat nguồn từ thời điểm này.
Chế độ ốm đau được phổ cập trong toàn nước Đức vào năm 1883 và năm 1884 xuất hiện tiếp chế độ bao hiểm các rủi ro nghé nghiệp. Năm 1989, xuất hiện tiếp chế độ bao hiểm tuổi gia và bảo hiểm tàn tật. Như vay, trong khoảng từ năm 1883 đến năm 1889 một hệ thống Bảo hiểm xã hội lớn đầu tiên ra đời với sự tham gia bát buộc của những người làm công an lương, theo nguyên tac người được bao hiểm phải đóng phí Bao hiểm xã hội. Sáng kiến về Bao hiểm xã hội của chính quyền Bismac được nhiều nước chau Âu tiếp nhận.
sau đó nhiều nước ở các châu lục khác cũng lần lượt áp dung cơ chế Bao hiểm xã hội tương tự. Nhiều Nhà nước đã lần lượt ban hành các đạo luật để làm cơ sở điều chỉnh các mối quan hệ về trợ cấp cho những người gap rủi ro, bất hạnh. Ở nước ta, việc bảo vệ người lao động trước những rủi ro ngẫu nhiên da được Đảng và Nhà nước rất quan tâm. Chúng ta đã có các quy định pháp luật về vấn đề này ngay từ những ngày đầu thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cong hoà.
Các quy định này để kế thừa và phát huy một cách đúng dan truyền thống nhân ái vốn có của dân tộc ta, đồng thời tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm phong phú của các nước. Trong các cơ chế bao vệ người lao động, 6 nước ta đã sớm thực hiện các chế độ Bảo hiểm xã hội. Việc thực hiện Bảo hiểm xã hội ở nước ta được tiến hành trong điều kiện kinh tế nghèo nàn lạc hậu. chiến tranh chống ngoại xâm kéo đài là một cố gan hết sức to lớn của Đảng va Nhà nước ta, tạo điều kiện tốt cho cán bộ.
công chức Nhà nước yên tam sản xuất, công tác, g6p phần ổn định cơ sở bản than va gia đình của ho. Cho đến nay, các đạo luật thuộc lĩnh vực trợ cấp này ở các nước trên thế giới thường có phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng khác nhau tuỳ thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội, chính trị ở từng nước. Chính vì có sự khác nhau về phạm vi điều chỉnh và đối tượng áp dụng của pháp luật cho nên cũng có các khái niệm hoặc các tên gọi khác nhau của các đạo luật như: luật Bao dam xã hội, luật Bảo hiểm xã hội, luật Cứu trợ xã hội. Mặc dù chúng có tên gọi khác nhau, đối tượng áp dụng, phạm vi điều chỉnh có khác nhau nhưng các dang trợ cấp này đều nhằm mục tiêu là góp phần ổn định đời sông cho người lao động hoặc các thành viên trong xã hội khi không có khả năng làm việc hoặc bị mất điều kiện làm việc.
Do BHXH là một trong những bộ phan cấu tianh nên BDXH nên trước khi tìm hiểu về khái niệm BHXH chúng ta cần phải tìm hiểu về BĐXH. Về thuật ngữ, “Bảo đảm xã hội” được xuất hiện chính thức lần đầu tiên tại một đạo luật ở Mỹ năm 1935, đạo luật về Bao đảm xã hội. Tuy vậy, dao luật này mới chỉ đề cập đến một số rủi ro như già yếu, chết, tàn tật và thất nghiệp. Năm 1938, “Bao dam xã hội” lại xuất hiện trong một đạo luật ở NewZealand nhưng có thêm một số khoản trợ cấp mới.
Trong hai đạo luật này, đối tượng điều chỉnh và phạm vi áp dung bao g6m các thành viên trong xã hội rơi vào tình cảnh bất hạnh bị mất hoặc không có nguồn thu nhập để song. Trong thời kỳ chiến tranh, “Bao dam xã hoi” xuất hiện tong Hiến chương Dai Tây Dương nam 1941. Sau đó Tổ chức lao động quốc tế (I.O) đã chính thức sử dụng cụm từ này trong các công ước của mình cho đến nay. Đặc biệt wong năm 1952, Hội nghị quốc tế về lao động đã thông qua Cong ước số 102.
Công ước quy định các quy phạm tối thiểu về Bảo đảm xã hội. Tổ chức lao động quốc tế (ILO) cũng đã thừa nhận Bao đảm xã hội là một tong những nguyện vọng sâu sac và phổ biến nhất của các dân tộc trên thế giới và được ghi nhận trong bản Tuyên ngôn nhân quyền như là một trong các quyền của con người. Do mỗi nước có một cách nhìn nhận riêng của mình về Bảo đảm xã hội cho nên khái niệm Bao đảm xã hội cũng được giải thích theo các cách nhìn nhận riêng đó. Theo công ước số 102 của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì Bảo đảm xã hội có thể được hiểu như sau:.
là sự bao vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua hàng loạt các biện pháp công cộng nhằm chống lại tình cảnh khốn khổ về kinh tế và xã hội gây ra bởi tình trạng bị ngừng hoặc giảm sút đáng kể về thu nhập do ốm dau, thai sản, thương tật trong lao động, thất nghiệp, tàn tật, tuổi già, tử vone. sự cung cấp về chăm s6c y tế và cả sự cung cấp các khoản tiền trợ giúp cho các gia đình đông con [49]. Định nghĩa này đề cập đến Bảo đảm xã hội trên phương diện nội dung bảo vệ cụ thể, gan liền với các chế độ Bảo đảm xã hội. Beridge, nhà kinh tế và xã hội học nước Anh (1879 - 1963) thì “Bao đảm xã hội là sự bảo đảm về việc làm khi người ta còn sức làm việc và bao dam một lợi tức khi người ta không còn sức làm việc nữa” |69, tr.
Tuy nhiên, khái niệm nay chỉ bao hàm những người có sức làm việc thi được bảo vệ trong khi còn khả năng làm việc và khi không còn khả năng làm việc. Còn những đối tượng vi một lý do nào đó mà khòng có sức làm việc (tàn tat bam sinh, trẻ mồ côi.) thì lại chưa được đề cập đến. Theo quan niệm về Bao đảm xã hội trong Hiện chương Dai Tây Dương nam 1941 thì “Bao dam xã hội là sự bảo đảm thực hiện quyền con người được song trong hoà bình, tự do làm an, cư trú, được bao vệ và bình dang trước pháp luật. được học tập, được làm việc và nghỉ ngơi, được chăm sóc y tế và dam bao thu nhap”|69, tr.
Với quan niệm này thì phạm vi của Bao dam xã hội rất rong, nó vượt khỏi phạm vi về bao dam trợ giúp nhằm ổn định cuộc sống của các thành viên trong xã hội. Nhu vay, chúng ta có thể thấy rằng Bao đảm xã hội có một đối tượng áp dụng rộng lớn bao gồm toàn bộ thành viên xã hội. Nội dung của Bảo đảm xã hội là sự bảo vệ của xã hội được thực hiện thông da một loạt các biện pháp công cộng được tiến hành bởi Nhà nước, tổ chức, cá nhân. dưới các hình thức tương trợ bằng tiền, hiện vật.
nhằm mục đích là chống lại sự cùng quan về kinh tế, khó khăn về mặt xã hội của người dân khi gặp phải những biến cố, rủi ro gop phần đảm bảo cuộc sống cho con người và cao hơn là đảm bao an toàn chung cho toàn xã hội: Ở nước ta cũng có nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm Bảo đảm xã hội. Theo PGS Tương Lai thì “Bao dam xã hội là lĩnh vực rộng lớn. không chỉ bao hàm sự bảo vệ của xã hội đối với mọi người hi gap phải thiếu thốn về kinh tế mà còn bảo đảm về môi trường thuận lợi để siúp mọi người phát triển về giáo dục, van hoá nhằm nâng cao trình độ dân trí, học vấn .