Chương 1: Một sổ vẫn để lý luận vé trách nhiệm của NSDLĐ vẻ đóng BHXH, BHYT, BHTN cho NLD va quy định pháp luật Việt Nam hiện hành. Chương 2: Thực trang trách nhiệm của NSDLĐ vẻ đóng BHXH, BHYT, BHTN cho NLD tại Công ty TNHH và phát triển Lam Linh. “Chương 3: Một số kiến nghĩ hoản thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả trách nhiêm của NSDLĐ về đóng BHXH, BHYT, BHTN cho NLD tại Công ty TNHH và phát triển Lam Lánh. CHƯƠNG l: MOT SỐ VÁN ĐÈ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM CUA "NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỌNG Vi BONG BẢO HIEM XÃ HOI, BAO HIỂM V TẾ, BẢO HIEM THAT NGHIỆP CHO NGƯỜI LAO ĐỌNG VA QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIET NAM HIỆN HAN 111.
Một số vấn dé lý luận về trách nhiệm của người sử dụng lao động về đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho ñ hội, bảo hiểm y tế và bảo “Bao hiểm” lả một hình thức ra đời tit khá sóm nhưng tính đến thời điểm hiện tại van chưa có một khái niệm thong nhất nao cụ thể được đưa ra. ‘Theo Tử điển Tiếng Việt của Viên Ngôn ngữ học xuất ban năm 2005. “Báo hiểm được hiễu là sự bảo đâm cũa cơ quan bão hiễm chỉ cho đối tượng tham giabảo hiễm (có đồng một khoăn tién nhất định theo định ki) một khoản tiền theo quy định kit hết tudt lao động hoặc kit có tai nan, ri ro xáy đến Dưới góc độ tải chính — kinh tế, bảo hiểm được hiểu la: “Một dich vụ. tải chính thông qua đó một cá nhên hay tổ chức có quyển được hưởng bôi thường hoặc được chi trả tiên bảo hiểm nếu rủi ro hay sự kiện bao hiểm xây ra nhữ vào khoản đóng phí bảo hiểm cho minh hay cho người thứ ba khác thông qua hợp đông bão hiểm Khoản tién bôi thường nay do một tổ chức, thường là.
công ty bảo hiểm dim nhận, tổ chức nảy có trách nhiệm trước rủi ro hay sự kiện bão hiểm va bù trừ chững theo quy luật thông kể” "Như vậy, có thé thay đù được tiép cân với khải niêm nảo thi nhìn chung các khái niệm đều mô tả được tinh chất san sẽ rủi ro của bảo hiểm Chung ta đã biết, trong cuộc đời của mỗi người thi những van dé không. mong mudn như ôm dau, bệnh tật,. xảy đến là diéu không tránh khối. Đôi với sự phát triển của nén kinh té - xã hội hiện nay thì mặc đủ quá trình nay đang diễn ra với hiệu quả dat được dang theo như những định hướng của người lãnh đao nhưng van dé thất nghiệp tai nan lao động - bệnh nghề nghiệp,.
lai diễn ra một cách thường xuyên, gây ảnh hưởng không nhỏ tới chính NLD và DN. Để thực hiên chia sẽ qua lại trach nhiệm cá nhân với Nhà nước cũng, như sầu xa hơn của tiến trình bảo dim cổng bằng sã hồi ma Nha nước ta dang hướng tới thi BHXH, BHYT, BHTN tré thảnh một chính sách x4 hôi quan trong Với chính sich xã hội nảy nhóm đối tương yếu thé trong xã hồi nói chung và NLD được quan tâm, bảo vệ đúng mức theo đúng chủ trương, ho được chăm sóc, hé trợ kịp thời những lúc cần thiết. Tay thuộc vào ý nghĩa và vai trở của từng chính sách bao hiểm ma BHXH, BHYT, BHTN được tiếp cên. và hiểu với định nghĩa khác nhau.
Theo Từ điển Tiếng Việt thi BHXH được hiểu la sự bảo đăm những quyên lợi vật chất cho công nhân viên chức khi không làm việc vì ốm đau, sinh dé, giả yêu, bi tai nan lao động, Từ điển bách khoa Việt Nam xuất bản năm 1995 đưa ra khái niệm. “BHYT là loại bảo hiểm do Nhà nước tổ chức, quản lý nhằm huy động sự. đóng gop của cá nhân, tập thé vả cộng đồng xã hội để chăm lo sức khöe, khám bệnh va chữa bệnh cho nhân dân”. ‘Theo Công ước 102 của ILO, BHTN a một biện pháp hỗ trợ thiết thực vẻ mặt tải chính cho NLD trong lúc mắt việc làm nhằm giúp họ khắc phục khó khăn, én định cuộc sống.
Ngoài ra, cơ chế pháp lý này còn tao dưng hé thống các giải pháp như hỗ trợ học nghề, tư vân, giới thiệu việc làm góp phân. dn định tâm lý, tạo điều kiện thuận lợi cho NLD bi mắt việc có cơ hội tim kiểm, thích ứng với công việc A=~ẽẽ€ẻẽ., _— ¬- Trong phạm vi luận văn mã tác giả nghiền cửu thi tác giả tiếp cân khái niém ba chính sách bảo hiểm nay dưới góc độ pháp ly. ‘Theo Khoản 1 Điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014: "Báo hiểm vĩ “ii là sự bão đâm thay thé hoặc bù đắp một phần tìm nhập của NLD kit họ bt giảm hoặc mắt tìm nhập do ẩm dau, thai sẵn, tai nan ìao đông bệnh nghề nghiệp, hết tuổi iao động hoặc chết. trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã lội Khoản 1 Điều 2 Văn ban hợp nhất số 01/UBHN-VPQH năm 2014 Luật sửa đổi, bd sung Luật Bảo hiểm y tế năm 2014 quy định: “Báo hiểm y tổ ia “hình thức bảo hiém bắt buộc được áp dung đối với các đối tương theo quy đmh của Luật này đỗ chăm sóc sức Rhöe, không vì mic dich lợi nhận do Nhà.
nước lỗ chức thực hiện Khoản 4 Điển 3 Luật Việc làm năm 2013 quy định: “Bảo hiểm thất nghiệp là chế độ nhằm bù đắp một phần tìm nhập của NLD ki bị mắt việc làm, hỗ trợ NLD hoc nghệ, duy tri việc làm, tìm việc làm trên cơ sé đồng vào Quit bảo hiểm that nghiệp: "Như vậy vé cơ ban cả ba khái niêm trong quy định của pháp luật về bảo hiểm ở nước ta hiện hanh đêu đang kế thừa các quy định của pháp luật bảo hiểm trước đó (Luật BHXH năm 2006 vả Luật BHYT năm 2008), pháp luật cho thấy BHXH, BHYT va BHTN đổi với NLD là một khoăn quỹ tài chính do NLD và NSDLĐ đóng dé đáp ứng giúp NLD bù dip một phân nào đó khí gặp khó khẩn do ôm đau, bệnh tật,. hay bao dim cho ho có thể duy tri cuộc sống trong khoảng thời gian thất nghiệp và tim kiém việc làm mới tir đó én inh được tỉnh hình chính tr xẽ hội và hạn chế các hành vi tiêu cực xy ra từ Việc thất nghiệp 'Với khái niệm được đưa ra ở trên, ta có thé rút ra được những đặc trưng, cơ bản của BHXH, BHYT và BHTN 66 là Thư "ương tham gia: là đôi tượng có trách nhiệm đồng gop BHXH, BHYT vả BHTN theo quy định của Pháp luật, Đổi tượng tham gia gầm người lao động, người sử dung lao đông va Nha nước. Người lao động tham gia để bao hiểm cho chính mình trên cơ sở san sé rủi ro của sé đông. người lao động khác.
Đối với BHXH va BHTN thủ đổi tương tham gia tap trung vào nhóm NLD trong quan hệ lao động. Riêng hình thức BHYT thì đổi tượng hướng tới có phạm vi réng hơn, đó chính là tắt cả các tang lớp trong xã ôi, không phân biệt đồ tuổi, giới tinh, địa vi xã hội, quan hệ lao đồng, Người sử dụng lao đông có trảch nhiệm phải bảo hiểm cho người lao đông m mình thuê mướn, và NSDLĐ còn tham gia vi lợi ích của chỉnh ho Bởi NSDLD cũng thực hiện san sẽ rồi ro với tap đoàn NSDLĐ, để dim bao cho quá trình sản xuất của họ không bi ảnh hưởng khi phát sinh nhu cầu BHXH, BHYT và BHTN. Nhà nước tham gia BHXH với tư cách 1a người ‘bdo hô cho các hoạt đông của Quỹ BHXH, BHYT và BHTN, bảo dim gia trị đồng vôn và hỗ trợ. Ngoài ra, Nha nước tham gia còn với tư cách chủ thể quản lý, định ra những chế đồ, chính sách, định hướng cho các hoạt đông, BHXH, BHYT va BHTN” Thit hai, về mue đích: Cả 03 bình thức tảo hiểm được hình thành đều.
nhằm đâm bảo cho chính quyển lợi của đổi tượng tham gia thể hiện trách. nhiệm cia chính mình với những rũi ro hoặc tình huồng xy ra trong tương lai ‘va nhằm mục đích hỗ trợ, giúp đỡ đói tượng tham gia bảo hiểm vượt qua khó khăn, Thứ ba, cơ chỗ hướng bảo hiểm: Đôi với BHXH và BHTN mức hưởng. bảo hiểm phù thuộc vao thời gian đóng và số tiên ma người tham gia bao hiểm đã đóng, Còn đôi với BHYT thì mức hưởng bão hiểm sé dua trên rủi ro "bệnh tật và khả năng cung ứng dich vụ y tế của cơ sở khám chữa bệnh ‘Hult Haydn Tang (2018), Php lute vd nga nh nh và sử dng Ou bảo nu NG Ti Nan, Luts Thee sat oe, 13 10 1. Khai niệm, đặc diém trách nhiệm cia người sử dung lao dong về đóng bảo hiém xã hội, bao hiémy tế và bao hiém that nghiệp cho người.
lao động 1121 Khái niệm Trong môi quan hệ lao đông giữa NLD và NSDLĐ thi đây là một mốt quan hệ bình đẳng, có di có lại. Để được NSDLD trả lương thi NLD phải dem sức lao đồng nhằm tạo ra của cải cho NSDLĐ. Thêm vao đó, đây cũng la nhóm người yêu thé trong sã hội và được xã hội thực hiện trách nhiệm cho minh, Vi vậy, trách nhiệm đặt ra đối với NSDLĐ trong van để nay là phải thực hiện đóng BHXH, BHYT và BHTN cho NLD. Due góc độ pháp luật quc té, Công ước số 102 về quy phạm tối thiểu vẻ an toàn xã hôi, 1952 là một văn bản pháp lý quan trong mang tỉnh rang ‘bude đối với các thành vién của Công ước trong việc xác định trách nhiệm, xây dưng định mức tối thiểu, cơ bản đổi với từng chế độ bao hiểm đối với NLD.
Việ Nam chúng ta đã ký két Công ước nhưng chưa thực hiện phế chuẩn để trở thảnh thành viên chính thức của Công ước nhưng tính tới thời điểm hiện nay, các chế đô, định mức trong văn bản pháp luật vẻ bảo hiểm. hiện hảnh của nước ta cơ bản được xây dựng trên cơ sở của Công ước va đáp ting các yêu cầu ma Công tước đất ra Công ước sô 102 của ILO không để cập cụ thể vẻ trách nhiệm của NSDLD trong việc đóng BHXH, BHYT và BHTN mà chỉ định hướng yêu cầu các nước thảnh viền của Công tước phải zây dựng các khoăn chỉ phí dảnh cho bão hiểm cho NLD. Như trong van để vẻ BHYT, Điều 7 của Công ước. “Mot mebe thành viên chin hiệu lực của Phần này trong Công ước phải bảo đâm việc cũng cấp những sự trợ ghip cho người được bảo vệ ii tinh trạng của ho cân đến sự chăm sóc y tế có tinh chất phòng bệnh hoặc chita bệnh, theo những Điều san đây của Phân này ”.