CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE DAM BẢO QUYEN LỢI CUA NGUOI LAO DONG BI TAI NAN LAO DONG, BENH NGHE NGHIEP VA PHAP LUAT VE LINH VUC NAY 1. Khái niệm người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp 1. Khái niệm người lao động bị tai nạn lao động Trong quá trình lao động sản xuất, tai nạn lao động luôn tiềm An, có thé xảy ra ở mọi lúc, mọi ngành nghề, mọi quốc gia. Tai nạn lao động có thé gây ra thiệt hại lớn về người và tài sản, đặc biệt là đối với người lao động bị tai nạn lao động.
Chính vì thế, tai nạn lao động không chỉ là van dé cần được quan tâm của môi quôc gia mà còn là vân đê chung của toàn câu. Khái niệm “người lao động bị tai nạn lao động” chưa được quy định cụ thé ở pháp luật quốc gia nào, hay được đưa ra ở các tài liệu khoa học nao. Vì thế, để đưa ra khái niệm người lao động bị tai nạn lao động phải thông qua phân tích những khái niệm về tai nạn lao động. Theo Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam, tai nạn lao động được hiểu là tai nạn bất ngờ xảy ra do lao động hay trong quá trình lao động, có thé gây tử vong hoặc gây cho cơ thé tốn thương hoặc một rối loạn chức năng vĩnh viễn hay tạm thời'.
Có rất nhiều loại tai nạn lao động: ngã, đụng dập, điện giật, cháy, bỏng, các trường hợp nhiễm độc hóa chat cấp tính do sự cô (ví du: khí clo thoát ra nhiều làm cho công nhân bị ngạt thở, phù phối cap), tai biến giảm áp cấp xảy ra đối với thợ lặn,. Theo từ điển Sức khỏe môi trường và nghề nghiệp Lewis, tai nạn lao động là một sự kiện không được lập kế hoạch, không biết trước và không mong muốn có thê hoặc gây thiệt hại về thể chất và/hoặc phá hủy tài sản; ' Trung tâm từ điển học (2003), Tir điển bách khoa toàn thư Việt Nam, tập 1, Nxb Từ điển bách khoa. hoặc bất kỳ sự kiện nào không mong muốn gây trở ngại hoặc cản trở quy ` 2 AK x ^ r ` 3 trình sản xuât hoặc một quá trình. Theo giáo trình Bảo hiểm xã hội của trường Đại học Lao động - Xã hội, tai nạn lao động là tai nạn xảy ra gây tác hại đến cơ thê người lao động do tác ^ 2 AR AR cA ` r ° ° A, 3 động của yêu tô nguy hiêm và có hại trong sản xuât.
Tuy có nhiều khái niệm về tai nạn lao động, nhưng nhìn chung các khái niệm về tai nạn lao động đều có điểm chung, đó là tai nạn được xem là tai nan lao động khi thỏa mãn ba điều kiện: thứ nhất, là tai nạn xảy ra bất ngờ; thứ hai, tai nạn lao động xảy ra gắn với quá trình làm việc của người lao động ,øăn với việc thực hiện nhiệm vu lao động; thứ ba, tai nạn phải dé lại hậu quả hoặc làm chết người hoặc làm tôn thương, hoặc hủy hoại chức năng hoạt động bình thường của một bộ phan nao đó của cơ thé. Tai nạn lao động không phải là tai nạn rủi ro, phân biệt ở chỗ tai nạn gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ của người lao động (bị tai nạn). Chỉ được coi là tai nạn lao động khi tai nan đó xảy ra trong quá trình người lao động thực hiện các nghĩa vụ lao động được pháp luật quy định, nội quy, quy chế của đơn vị sử dụng lao động quy định hoặc theo sự thỏa thuận của hai bên trong thỏa ước lao động tập thé, hợp đồng lao động. Những trường hợp khác đều được coi là tai nạn rủi ro và áp dụng chế độ bảo hiểm ốm đau dé giải quyết quyền lợi của người lao động.
Từ những khái niệm về tai nạn lao động trên, có thê xác định một sô yêu tô liên quan như sau: ? Jeffrey W. Vincoli (2000), Từ điển Sức khỏe môi trường và nghề nghiệp Lewis, Boca Raton: CRC Press LLC trích trong tài liệu: Nguyễn Thi Kim Chi (2016), Pháp luật về giải quyết tai nạn lao động và thực tiễn thực hiện tại tỉnh Sơn La, Luận văn thạc sĩ luật học, Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr. 3 Trường Dai hoc Lao động - Xã hội (2010), Giáo trình Bao hiểm xã hội, Hà Nội, tr. Một là, về hình thức, tai nạn lao động là tai nạn gây tôn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thé hoặc gây tử vong.
Sự tổn thương có thé biểu hiện ra bên ngoài dé nhìn thấy, nhưng cũng có những trường hợp nhìn bề ngoài không thấy tôn thương nhưng thực chất đó là tai nạn ảnh hưởng đến một bộ phận nào đó của cơ thê (trường hợp bị ngạt khói hoặc bị ngộ độc cấp dẫn đến tử vong). Hai là, về phạm vi, tai nạn lao động có thê xảy ra ở phạm vi rộng, không chỉ giới hạn trong khu vực của doanh nghiệp như trong thời gian nghỉ giải lao, ăn giữa ca, ăn bồi dưỡng hiện vật, đi vệ sinh, chuẩn bị và kết thúc công việc tại nơi làm việc, mà còn có thể xảy ra ở ngoài doanh nghiệp. Điều quan trọng là, tai nạn lao động là tai nạn xảy ra khi người lao động thực hiện nghĩa vụ lao động hoặc nhiệm vụ mà người sử dụng lao động yêu cầu hoặc giao cho. Nếu đáp ứng được yếu tô bị tai nạn trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động thì đó được xác định là người lao động bị tai nạn lao động.
Như vậy, có thể hiểu khái niệm người lao động bị tai nạn lao động như sau: Người lao động bị tai nạn lao động là người lao động bị tai nạn gây ton thương cho bat kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liên với việc thực hiện nghĩa vụ lao động. Khái niệm người lao động bị bệnh ngh nghiệp Tương tự như tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp cũng xuất hiện gắn liền với quá trình lao động của con người, là những rủi ro nghề nghiệp của người lao động. Trong quá trình lao động người lao động có thê phải tiếp xúc với những yếu tô có hại của môi trường làm việc, dần dan gây ảnh hưởng đến sức khỏe của người lao động. Theo quy định của ILO thì một bệnh mà người lao động mắc phải do ảnh hưởng của một yêu tô có hại nào đó trong quá trình làm việc của mình 10 được gọi là bệnh nghề nghiệp.
Các yếu tô ảnh hưởng này có tính chất thường xuyên và kéo dai gây nên sự tích lũy tiềm tàng về bệnh tật cho cơ thê. * Theo giáo trình Bảo hiểm xã hội của trường Đại học Lao động - Xã hội, bệnh nghé nghiệp là một hiện trạng bệnh ly mang tinh chất đặc trưng nghề nghiệp hoặc liên quan đến nghề nghiệp mà nguyên nhân gây bệnh do tác ^ é ^ XY r ve 2 eA Sons A kK 5 động thường xuyên và kéo dai của điêu kiện lao động xâu. Cũng tương tự như tai nạn lao động, dấu hiệu "sắn liền với công việc, nhiệm vu lao động” chính là dấu hiệu quan trọng dé phân biệt giữa bệnh nghề nghiệp và bệnh thông thường. Điều kiện lao động có hại của nghề nghiệp có thé là hệ qua của các yếu tố vật lý như nhiệt độ, độ âm, tiếng ồn, rung động, các bức xạ có hại.
do các yếu tổ hóa học như các chất độc các chất phóng xạ. do các yếu tô sinh hóa như sinh vật, vi sinh vật, các loại vi khuẩn, siêu vi khuẩn, côn trùng. hoặc các yếu tố về tư thé lao động, độ tiện nghi về không gian nơi làm việc, mất vệ sinh, các yếu tố tâm lý không thuận lợi. Điều kiện có hại của nghé nghiệp tác động dan dan, phá hủy các bộ phận, chức năng của người lao động và sinh ra bệnh.
Việc xác định bệnh nghề nghiệp phụ thuộc vào khả năng xác định yếu tố độc hại của môi trường lao động và trình độ phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi quôc gia. Bệnh nghề nghiệp không phải là loại bệnh lý thông thường mang tính bam sinh hoặc phát sinh từ điều kiện sống, môi trường sống tự nhiên va xã hội mà phải xuất phát từ yêu tổ “nghề nghiệp”. Bệnh nghề nghiệp dứt khoát phải là loại bệnh lý do yếu tô độc, hại của nghề tác động vào cơ thé, qua các khí quan gây bệnh, có trường hợp tích tụ trong thời gian dài sau đó gây bệnh * http://tailieu.php/tai-lieu/tai-lieu-bien-tap/item/409-tong-quan-ve- che-do-bao-hiem-xa-hoi-doi-voi-tai-nan-lao-dong-va-benh-nghe-nghiep, truy cập ngày 02/4/2018. 5 Trường Dai học Lao động - Xã hội (2010), Giáo trình Bao hiểm xã hội, Hà Nội.
11 (viéc tich tu bui phối, carbon, silicat nhiều năm gây ung thư, tiếp xúc TNT nhiều năm gây đục thuỷ tinh thể mắt.), có trường hợp gây bệnh nhanh chóng (ví dụ nhiễm độc, nhiễm trùng nghề nghiép. Tuy nhiên, không phải tất cả các bệnh phát sinh có nguồn gốc từ nghề nghiệp đều được pháp luật công nhận là bệnh nghé nghiệp, nói cách khác, hiện đang có sự phân biệt giữa bệnh nghề nghiệp pháp định và bệnh nghề nghiệp y khoa. Theo các nhà khoa học, số lượng và loại bệnh nghề nghiệp trong thực tế nhiều hơn số lượng các bệnh đã được pháp luật quy định dé thực hiện chế độ đối với người lao động. Nói cách khác, chỉ những bệnh được pháp luật xác định, thừa nhận mới được coi là bệnh nghề nghiệp dé người lao động bị bệnh nghề nghiệp được hưởng chế độ.
Từ những phân tích trên, có thé đưa ra khái niệm người lao động bị bệnh nghề nghiệp như sau: Người lao động bị bệnh nghé nghiệp là người lao động bị bệnh phát sinh do làm việc ở môi trường có yếu to độc hại. Quan niệm về đảm bảo quyên lợi của người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp Trong bất kỳ xã hội nào người lao động luôn đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội, là nhân tố quyết định sự tồn tại và phát triển, ồn định của một quốc gia và cũng là yếu tô quyết định việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực khác trong quá trình sản xuất kinh doanh. Ở đâu có lực lượng lao động hùng mạnh thì ở đó kinh tế và xã hội được đảm bảo, phát triên một cách ôn định và thịnh vượng. Cùng với người lao động, công cụ lao động là thành tô cơ bản của lực lượng sản xuât ngày càng được cải tiên.