CHƯƠNG 1: MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE HỢP DONG DUA NGƯỜI LAO DONG DI LAM VIỆC Ở NƯỚC NGOÀI VÀ SU DIEU CHỈNH CUA PHÁP LUẬT 1.1 Khái quát chung về hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài 1.1 Khái niệm hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài Trong bối cảnh thời đại hội nhập hiện nay, xu hướng dịch chuyên lao động quốc tế dang là một trong những van đề lớn của thé giới. Khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại quốc tế (WTO), di chuyền lao động quốc tế có tác động mạnh mẽ tới sự phát triển kinh tế - xã hội nước nhà. Việc người dân ra nước ngoai tìm kiếm việc làm phủ hợp, nâng cao thu nhập và trình độ kiến thức, kỹ năng nghề là nhu cầu hoàn toàn chính đáng và là quyền tự do của mọi người. Theo quan điểm của Tổ chức lao động quốc tế (ILO), lao động không phải là loại hàng hóa thông thường mà các chủ thé có thé đem ra trao đồi, mua bán trên thị trường như những hàng hóa khác.
Xét về bản chất, sức lao động là một loại hàng hóa đặc biệt, tuy là tai sản vô hình nhưng nó gắn VỚI nhân thân của từng người. Tại Công ước quốc tế về bảo vệ các quyền của người lao động di trú và các thành viên gia đình họ năm 1990 của Đại hội đồng Liên hợp quốc thì thuật ngữ này đã có sự thay đổi, từ đây thuật ngữ “người lao động di trú” (migrant worker) ra đời. Người lao động di trú được hiểu là một người đã, đang và sẽ làm một công việc có hưởng lương tại một quốc gia mà người đó không phải công dân. Dựa vào tính pháp lý của việc lao động và cư trú, ICRMW chia người lao động di trú và các thành viên gia đình họ thành hai loại: có giấy tờ hợp pháp và không có giấy tờ hợp pháp.
Những người lao động di trú được xem là có giấy tờ hợp pháp khi họ được phép vào, ở lai và tham gia lam một công việc được trả lương tại quôc gia, nơi có việc làm theo pháp luật quốc gia đó và theo những hiệp định quốc tế mà quốc gia đó là thành viên. Những người lao động di trú được xem là không có giấy tờ hợp pháp khi họ không đáp ứng được các điều kiện đã nêu [1, Điều 5]. Trước khi Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006 được ban hành, có nhiều thuật ngữ dé chỉ loại hợp đồng được thiết lập giữa người lao động và doanh nghiệp. Đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng được hình thành từ sau nghị định 370/HĐBT ngày 09/11/1991 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ).
Sau đó, trong Nghị định số 152/1999/NĐ-CP ngày 20/9/1999 của Chính phủ quy định việc người lao động và chuyên gia Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài. Như vậy, mặc dù có sự khác nhau trong cách gọi nhưng bản chất là giống nhau, đều thực hiện hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoai. Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2006 được Quốc hội khóa XI thông qua đã quy định loại hợp đồng này có tên chính thức là “Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài”. Trên thực tế, khi soạn thảo hợp đồng, các doanh nghiệp thường không soạn đúng tên của loại hợp đồng này như Hợp đồng xuất khẩu lao động, hợp đồng đi làm việc ở nước ngoài, hợp đồng dịch vụ xuất khâu lao động,.
Sở di nguyên nhân là đo cơ quan có thâm quyền chưa đưa ra hợp đồng mẫu cụ thể. Cho đến ngày 15/10/2013, Bộ Lao động — Thương binh và xã hội ban hành Thông tư số 22/2013/TT-BLĐTBXH quy định mẫu và nội dung hợp đồng cung ứng lao động và hợp đồng lao động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Từ đó, mẫu của hợp đồng có tên là “Hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài” theo đúng quy định của Luật. Điều 21 Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2020 quy định hợp đồng đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài là văn bản thỏa thuận giữa doanh nghiệp dịch vụ với người lao động về quyên, nghĩa vụ của mỗi bên trong việc đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoai.
Như đã đề cập ở trên, bản chất của hợp đồng đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài là một bản hợp đồng lao động giữa doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân đưa người lao động Việt Nam di làm việc ở nước ngoài và người lao động Việt Nam có nhu cau đi làm việc ở nước ngoài. Day được xem là căn cứ phát sinh quan hệ pháp luật giữa người lao động và doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Nếu như hợp đồng lao động là “một thỏa thuận ràng buộc pháp lý giữa một người thuê lao động và một người lao động làm thuê, trong đó xác lập các điều kiện và chế độ làm việc” [37], thì hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài còn có những quy định riêng liên quan đến đảm bảo quyền lợi cho người lao động như quy định về giờ làm việc họ được phép làm theo quy định của nước sở tại, quy định về thị thực, hộ chiếu, quy định về các loại chi phí như tiền máy bay, tiền đặt cọc, tiền dịch vụ. Như vậy, hợp đồng đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh trong lĩnh vực lao động, giữa người lao động Việt Nam và người sử dụng lao động ở nước ngoài, mối quan hệ này cần sự điều chỉnh của pháp luật lao động.
Bên cạnh đó, mỗi quan hệ giữa người lao động Việt Nam và người sử dụng lao động còn chịu sự điều chỉnh của luật hành chính, luật tố tụng dân sự, luật hình sự,. Là một loại giao dịch dân sự, hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài cũng có những đặc điểm của một hợp đồng dân sự nói chung, tuy nhiên, hợp đồng đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài cũng mang nhiều nét khác biệt như sau: Thứ nhất, hợp đồng đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài chịu sự điều chỉnh của nhiều quy phạm pháp luật 10 Hợp đồng mà doanh nghiệp dịch vụ ký kết với người lao động thực chất là một dạng hợp đồng dịch vụ được quy định tại Điều 513 Bộ luật dân sự năm 2015, theo đó, bên cung ứng dịch vụ là doanh nghiệp thực hiện các công việc cho bên sử dụng dịch vụ, bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dich vụ. Ở đây có thé hiểu các công việc bao gồm các hoạt động hỗ trợ người lao động như đào tạo lao động, đưa người lao động đi làm việc tại nước ngoài,. Do đó, mối quan hệ giữa người lao động và doanh nghiệp phải chịu sự điều chỉnh của luật dân sự.
Trên thị trường lao động, sau khi mua bán sức lao động được diễn ra băng việc ký kết hợp đồng lao động thì quan hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động được thiết lập. Thêm vào đó, mối quan hệ này được phát sinh trong lĩnh vực lao động, giữa người lao động Việt Nam và người sử dụng lao động nước ngoài, do vậy, hợp đồng đưa người lao động Việt Nam di làm việc ở nước ngoai chịu sự điều chỉnh của Luật lao động. Trong quá trình thực hiện hợp đồng có thé sẽ phát sinh một số van dé khác do các luật khác điều chỉnh như: giải quyết tranh chấp trong hợp đồng cần có sự điều chỉnh của luật Tố tụng dân sự; các vi phạm hành chính hay vi phạm hình sự cần sự điều chỉnh của luật Hành chính hay luật Hình sy,. Thứ hai, hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài là hợp đồng có yếu tố nước ngoài Có thể thấy rằng, hợp đồng này được ký kết tại Việt Nam, giữa các bên Việt Nam, được tuân thủ theo pháp luật Việt Nam nhưng lại là một bộ phận không thé tách rời của hợp đồng cung ứng lao động ký giữa Việt Nam và một quốc gia khác, hợp đồng lao động giữa người lao động Việt Nam và người sử dụng lao động nước ngoài.
Theo quy định của Luật người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2020, dé có được hợp đồng đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài, trước hêt cân có phải “hợp đông 11 cung ứng lao động”. Trong hoạt động đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, doanh nghiệp cung ứng dịch vụ có vai trò cầu nối, trung gian, gắn kết người su dụng lao động ở nước ngoai và người lao động Việt Nam. Do vậy, để đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của các bên, doanh nghiệp cung ứng dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài và người lao động Việt Nam sẽ kí kết hợp đồng cung ứng lao động, hợp đồng này phải tuân theo quy định của pháp luật Việt Nam, pháp luật của nước tiếp nhận lao động và phải đăng ký với Bộ Lao động — Thương binh và Xã hội Việt Nam. Tại khoản 1 Điều 19 Luật người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng năm 2020, hợp đồng cung ứng lao động là văn bản thỏa thuận giữa doanh nghiệp dịch vụ Việt Nam với bên nước ngoai tiếp nhận lao động về điều kiện, quyền, nghĩa vụ của mỗi bên trong việc cung ứng và tiếp nhận người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài.
Trên cơ sở hợp đồng này, doanh nghiệp cung ứng lao động sẽ tìm kiếm người lao động, tiến hành kí kết hợp đồng cung ứng lao động với họ, sau đó sẽ kí kết hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài. Hợp đồng đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài phải có những nội dung, điều khoản phù hợp với hợp đồng cung ứng lao động đã ký trước đó. Hầu hết các tranh chấp đều phát sinh từ việc thực hiện hợp đồng lao động ở nước ngoài, mà hợp đồng này được ký kết, và thực hiện ở nước ngoài, theo pháp luật nước ngoài. Như vậy, có thể nói rằng căn cứ làm chấm dứt hợp đồng đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài được phát sinh ở nước ngoải.