Chương 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE NGƯỜI NƯỚC NGOÀI VÀO LÀM VIỆC TRONG CÁC DOANH NGHIỆP VÀ SỰ ĐIÊU CHỈNH CỦA PHÁP LUẬT 1. Giới thiệu chung về người nước ngoài vào làm việc trong các doanh nghiệp 1. Khái niệm người nước ngoài Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu, cơ hội việc làm đang ngày cảng mở rộng trên phạm vi quốc tế, từ đó thúc day xu hướng tìm kiếm cơ hội việc làm và đầu tư tại nước ngoài. Xu hướng này đã tạo ra sự chuyên dịch lao động liên tục giữa các quốc gia, giúp bổ sung nguồn lao động mà một số nước còn thiếu hụt, nhờ đó tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển kinh tế toàn diện.
Việc người lao động nước ngoài tim kiếm cơ hội tại các quốc gia khác, bao gồm Việt Nam, đã trở thành một xu hướng tat yếu trong bối cảnh này. Với việc mở cửa thị trường và tham gia các điều ước, thỏa thuận quốc tế về đầu tư và hợp tác kinh tế, Việt Nam đã mở ra nhiều cơ hội dé đón nhận nguồn lao động nước ngoài có trình độ chuyên môn cao và kinh nghiệm phong phú trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là các ngành công nghệ cao và có tiềm năng phát triển mạnh mẽ. Sự tham gia của lao động nước ngoài không chỉ giúp Việt Nam tiếp cận những kỹ năng, kiến thức tiên tiến mà còn thúc đây quá trình phát triển kinh tế bền vững. Tuy nhiên, việc tiếp nhận lao động nước ngoài cũng đặt ra không ít thách thức và trách nhiệm cho Chính phủ trong công tác quản lý.
Hoạt động làm việc và lưu trú của lao động nước ngoài cần được kiểm soát chặt chẽ dé đảm bảo vừa tận dụng được nguồn lực quốc tế, vừa bảo vệ lợi ích an ninh quốc gia, duy trì trật tự xã hội và đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế bền vững. Dưới góc của một số nhà nghiên cứu, người lao động nước ngoài được tiếp cận đưới góc độ là những lao động di trú. Trong nghiên cứu về quyền con người trong ấn phẩm sách tham khảo của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội đã đưa ra nhận định rằng: Lao động di trú là hiện tượng diễn ra từ lâu trong lịch sử nhân loại nhưng phát triển đặc biệt nhanh chóng từ đầu thế kỷ XX đến nay và Cùng với toàn cầu hóa kinh tế, dự đoán về van đề lưu trú sẽ trở nên hết sức phổ biến trong thế kỷ XXI và là một trong những đặc trưng cơ bản của thé kỷ này [12, tr. Có quan điểm cho rằng: “Người nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam là xu thế tất yếu do tác động của quá trình toàn cầu hóa quan hệ lao động và hội nhập kinh tế” [13, tr.
Như vậy, những nghiên cứu và quan điểm trên đều chỉ rõ rằng sự di trú của lao động nước ngoài không chỉ là hiện tượng lịch sử mà còn là một xu hướng tất yếu, phan ánh sự phát triển của quá trình toàn cầu hóa trong bối cảnh kinh tế hiện đại. Về định nghĩa người lao động di trú, một số tác giả đã có những nghiên cứu va phân tích sâu sắc. Trong đó có thé kế đến một số tác giả như Pham Thị Hương Giang trong Luận văn Thạc sĩ “Hoàn thiện pháp luật về quản lý lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam”, 2015 và Luận án Tiến sĩ “Pháp luật quản lý lao động nước ngoài trong bối cảnh hội nhập quốc tế và toàn cầu”, 2022, Khoa Luật — Dai học Quốc gia Hà Nội; tác giả Tống Thị Phương Thảo trong Luận văn Thạc sĩ “Pháp luật về người lao động nước ngoài làm việc trong các doanh nghiệp tại Việt Nam”, 2018, Khoa Luật — Dai học Quốc gia Hà Nội;. đều tiếp cận khái niệm lao động di trú theo Công ước quốc tế về việc bảo vệ quyền của tất cả người lao động di trú và thành viên gia đình họ, 1990 ICRMW).
Theo Công ước này, thuật ngữ “người lao động di trú” là để chỉ một người đã, đang và sẽ làm một công việc có hưởng lương tại một quốc gia mà người đó không phải là công dân. Cách định nghĩa này được đánh giá là trực quan và rõ ràng giúp cho việc xác định người lao động nước ngoài thông qua tư cách công dân và mục đích của họ khi đến quốc gia mà họ không phải là công dân. Chính vì thế điều này thể hiện một chính sách toàn diện của Liên hợp quốc đối với người lao động di trú mà các quốc gia thành viên của Công ước phải đảm bảo thực hiện tại quốc gia của mình [23, tr. Có thể thấy định nghĩa này đã làm rõ được bản chất của người lao động nước ngoài.
Nói cách khác, định nghĩa của Liên hợp quốc đã dựa vào các đặc diém sau đê xác định một cá nhân là người lao động di trú: Đầu tiên, thuật ngữ "người lao động di trú" được dùng dé chỉ những cá nhân đã, đang, và sẽ thực hiện một công việc có hưởng lương. Điều này có nghĩa là định nghĩa bao gồm cả những người đã và sắp làm việc tại quốc gia sở tại, chứ không chỉ áp dụng cho những người lao động di trú đang trong quá trình làm việc. Quy định nay được xây dựng thống nhất với tuyên bố của Liên hợp quốc trong chính Điều I ICRMW mà các nước thành viên khi đã phê chuẩn sẽ phải tuân thủ theo. Quy định này như sau: “Công ước này sẽ áp dụng trong toàn bộ quá trình di trú của người lao động di trú và các thành viên gia đình họ.
Quá trình đó bao gồm việc chuẩn bị di trú, ra đi, quá cảnh và toàn bộ thời gian ở và làm công việc có hưởng lương tại quốc gia có việc làm cũng như việc quay trở về quốc gia xuất xứ hoặc quốc gia thường trú”. Nhờ quy định này, phạm vi đối tượng mà ICRMW áp dụng là rất rộng, bao phủ mọi giai đoạn trong quá trình làm việc và lưu trú của người lao động di trú. Điều này giúp bảo vệ quyền lợi của người lao động nước ngoài một cách toàn diện, từ khi họ chuẩn bị ra đi cho đến khi kết thúc công việc và trở về nước. Thứ hai, mục đích di trú đến quốc gia khác được làm rõ với việc người lao động di trú được xác định thực hiện “công việc có hưởng lương”.
Điều nay lam sáng tỏ ban chất của hoạt động lao động di trú trên lãnh thổ quốc gia so tai, thé hién rõ mục đích chính của ho là tìm kiếm lợi ích kinh tế thông qua các công việc có nhận thù lao. Thứ ba, địa điểm làm việc và tình trạng quốc tịch là hai yếu tố then chốt trong việc xác định người lao động di trú. Nơi làm việc của người lao động được xác định là ngoài lãnh thổ quốc gia mà họ đang mang quốc tịch. Việc xem xét tình trạng quốc tịch của người lao động và vùng lãnh thổ họ di cư đến giúp xác định rõ ràng liệu cá nhân đó có thuộc nhóm người lao động nước ngoài hay không.
Như vậy, với ba yếu tố chủ chốt nêu trên ICRMW đã đưa một định nghĩa trực quan và rõ ràng để các quốc gia xác định cá nhân là lao động di trú. Tuy nhiên, thời gian lưu trú của người lao động tại quốc gia sở tại không được quy định cụ thé trong ICRMW. Điều này là hợp lý, bởi mỗi quốc gia sẽ có các chính sách riêng về thời gian làm việc của lao động nước ngoài, phù hợp với nhu cầu và tình hình thực tế của từng đất nước. Mặc dù vậy, nhăm đảm bảo quyền con người cho người lao động nước ngoài, bất ké thời gian làm việc, tính chất công việc hay hình thức làm việc, ICRMW đã đưa ra một số định nghĩa cho các nhóm lao động đặc thù như “nhân công vùng biên”, “nhân công theo mùa”, “người đi biển”, “nhân công lưu động”, “nhân công theo dự án”,.
theo Điều 2 của ICRMW. Những định nghĩa này giúp phân loại rõ ràng các nhóm lao động có tính chất công việc đặc biệt, và việc xây dựng các quy định cụ thể tương ứng sẽ đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho những nhóm đối tượng lao động này. Trên trường quốc tế, Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) đã có bề dày lịch sử trong việc xây dựng các công ước và khuyến nghị nhằm bảo vệ quyền lợi của người lao động di trú. Những nỗ lực này đã đặt nền móng cho các tiêu chuẩn lao động quốc tế, thúc day quyền lợi và bảo vệ người lao động di trú trên toàn thế giới.
Năm 1939, ILO lần đầu tiên thông qua điều ước về quyền của người lao động lưu trú. Sau đó, vào năm 1949, ILO đã sửa đổi và thông qua Công ước về Lao động Lưu trú (Công ước số 97), trong đó quy định các biện pháp bảo vệ quyền lợi của người lao động di trú trong các lĩnh vực như điều kiện làm việc, lương bồng, an sinh xã hội, và chống lại sự phân biệt đối xử. Công ước số 97 yêu cầu các quốc gia thành viên đảm bảo người lao động di trú được đối xử công bằng và có các quyền lợi tương đương với người lao động bản địa. Đến năm 1975, ILO tiếp tục thông qua Công ước về Lao động Lưu trú (Công ước số 143), với trọng tâm là ngăn chặn tình trạng di cư bất hợp pháp và bảo vệ người lao động di trú khỏi sự lạm dụng, bóc lột.
Công ước này cũng khuyến khích các quốc gia thành viên tạo điều kiện dé người lao động di trú có cơ hội và điều kiện làm việc bình đắng. Vào năm 1990, ILO đã thông qua Công ước quốc tế về bảo vệ quyền của tất cả người lao động di trú va các thành viên gia đình họ, một văn kiện quốc tế mang tính khái quát và toàn diện. Công ước này giúp làm rõ nhiều khía cạnh về quyền lợi của người lao động di trú, tạo nên một cơ chế bảo vệ mạnh mẽ và toàn diện hơn cho lao động nước ngoai. Cách giải thích “lao động di trú” của ICRMW là một người đã, dang và sé làm một công việc có hưởng lương tại một quốc gia mà họ được xác định không 10 phải là công dân của quốc gia đó.
Bên cạnh đó, ICRMW cũng xác định lao động di trú dựa trên tình trạng quốc tịch của họ tại quốc gia mà họ đến làm việc, và phân loại thành "lao động di trú có giấy tờ" và "lao động di trú không có giấy tờ".Thuật ngữ “lao động di trú có giấy tờ” là những cá nhân đã được sự chấp thuận và cấp phép hợp pháp dé đến làm việc và nhận thu lao tại quốc gia sở tại.