Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Lao động là hoạt động sống tất yếu của con người, tác động vào thế giới xung quanh nhằm tạo ra của cải vật chất và giá trị tinh thần. Trong nền kinh tế thị trường với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, các quan hệ lao động phát triển phong phú, đan xen và ngày càng phức tạp. Trong hệ thống pháp luật, Bộ luật Lao động (BLLĐ) giữ vai trò chủ yếu điều chỉnh các quan hệ lao động được xác lập trên cơ sở hợp đồng lao động (HĐLĐ) giữa người lao động (NLĐ) làm công ăn lương và người sử dụng lao động (NSDLĐ). HĐLĐ vừa là phương tiện pháp lý chủ yếu để công dân thực hiện quyền làm việc, tự do lựa chọn nghề nghiệp và nơi làm việc, vừa là cơ sở để NSDLĐ tuyển dụng nhân sự phù hợp với yêu cầu sản xuất kinh doanh.

Tuy nhiên, trong quá trình xác lập, việc vi phạm các điều kiện có hiệu lực do pháp luật quy định dẫn đến tình trạng HĐLĐ bị vô hiệu. Các quy định về HĐLĐ vô hiệu là công cụ thiết yếu để Nhà nước duy trì trật tự pháp lý, đồng thời thiết lập sự cân bằng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ lao động mà đặc biệt là bên yếu thế (NLĐ). Mặc dù BLLĐ năm 2019 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã có những bước tiến lớn, các quy định điều chỉnh vấn đề này trong thực tiễn áp dụng vẫn bộc lộ một số vướng mắc, bất cập, thiếu tính đồng bộ và thống nhất. Xuất phát từ thực trạng đó, tác giả Hoàng Nhật Hà đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài "Hợp đồng lao động vô hiệu theo pháp luật Việt Nam. Thực trạng và một số kiến nghị".

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của đề tài là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về HĐLĐ vô hiệu, phân tích thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành và thực tiễn thực hiện, từ đó đề xuất các giải pháp và kiến nghị hoàn thiện hệ thống pháp luật lao động.

Để đạt được mục tiêu nêu trên, khóa luận triển khai 3 nhóm nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Nghiên cứu, hệ thống hóa các vấn đề lý luận về HĐLĐ, khái niệm, đặc điểm, phân loại và sự điều chỉnh của pháp luật đối với HĐLĐ vô hiệu (có so sánh đối chiếu với pháp luật một số quốc gia).
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về căn cứ vô hiệu, thẩm quyền, trình tự, thủ tục tuyên bố và xử lý hậu quả pháp lý của HĐLĐ vô hiệu; đánh giá những kết quả đạt được, hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân trong thực tiễn áp dụng.
  3. Xác định các yêu cầu và đề xuất các kiến nghị lập pháp cụ thể cùng các giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả thi hành pháp luật về HĐLĐ vô hiệu tại Việt Nam.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các quy phạm pháp luật điều chỉnh về HĐLĐ và HĐLĐ vô hiệu trong hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành; thực tiễn áp dụng và thi hành các quy định pháp luật này; các quan điểm lý luận và kinh nghiệm lập pháp quốc tế có liên quan.
  • Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận tập trung nghiên cứu chuyên sâu 4 khía cạnh trọng tâm của chế định HĐLĐ vô hiệu:
    • Các trường hợp dẫn đến HĐLĐ vô hiệu (vô hiệu toàn bộ và vô hiệu từng phần).
    • Thẩm quyền tuyên bố HĐLĐ vô hiệu.
    • Trình tự, thủ tục yêu cầu và giải quyết việc tuyên bố HĐLĐ vô hiệu tại Tòa án.
    • Cơ chế xử lý hậu quả pháp lý đối với các bên khi HĐLĐ bị tuyên bố vô hiệu.

Cơ sở lý luận, pháp lý và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và tổng quan tài liệu

Đề tài được xây dựng dựa trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về lao động và quyền của người lao động. Khóa luận kế thừa có chọn lọc và phân tích các công trình nghiên cứu đi trước:

  • Luận văn thạc sĩ của Đoàn Thị Phương Mơ (2016, Khoa Luật - ĐHQGHN), Trần Quỳnh Trang (2018, ĐH Luật Hà Nội), Hoàng Thị Ngọc (2014, Khoa Luật - ĐHQGHN).
  • Luận án tiến sĩ của Phạm Thị Thúy Nga (2009, Viện Nhà nước và Pháp luật).
  • Các bài viết chuyên khảo của Dương Tân Thanh (2022, Tạp chí Luật sư Việt Nam số 12), Đỗ Gia Thư (2020, Tạp chí Luật sư Việt Nam số 03), Lê Thị Hoài Thu (2007, Tạp chí Dân chủ & Pháp luật số 07).
  • Giáo trình Luật Lao động của Trường Đại học Luật Hà Nội, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh và cuốn Bình luận khoa học Bộ luật Lao động năm 2019 (NXB Tư pháp).

Hệ thống văn bản pháp lý làm căn cứ

Khóa luận khai thác hệ thống văn bản pháp luật thực định của Việt Nam qua các thời kỳ và các chuẩn mực pháp lý quốc tế:

  • Văn bản trong nước: Sắc lệnh số 29/SL (1947); BLLĐ năm 1994 (sửa đổi, bổ sung các năm 2002, 2006, 2007); BLLĐ năm 2012; BLLĐ năm 2019 (đặc biệt là Điều 13, 15, 21, 49, 50, 51); Bộ luật Tố tụng Dân sự (BLTTDS) năm 2015 (Điều 362, 401, 402); Bộ luật Dân sự (BLDS); Nghị định số 145/2020/NĐ-CP (Điều 9, 10); Luật Công đoàn và Luật Doanh nghiệp.
  • Văn bản quốc tế và luật so sánh: Công ước số 138 năm 1973 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) về tuổi tối thiểu làm việc; Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em năm 1990; Luật Lao động Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (Điều 16, Điều 18); Đạo luật Tiêu chuẩn Lao động và Luật Dân sự Hàn Quốc (Điều 17 Đạo luật Tiêu chuẩn Lao động; Điều 103 đến 108 Luật Dân sự); Đạo luật về HĐLĐ Nhật Bản năm 2018 (Điều 3); quy định pháp luật lao động của CHLB Đức và án lệ của Hoa Kỳ.

Phương pháp nghiên cứu

Tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý:

  • Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp nhằm thu thập, tổng hợp các quan điểm học thuật.
  • Phương pháp phân tích và hệ thống hóa lý thuyết để làm rõ bản chất của HĐLĐ và sự vô hiệu.
  • Phương pháp so sánh luật học (đối chiếu quy định giữa BLLĐ 2019 với BLLĐ 2012, 1994; giữa luật lao động với luật dân sự; giữa pháp luật Việt Nam với chuẩn mực ILO và pháp luật các nước).
  • Phương pháp phân loại, chứng minh, tổng hợp và diễn dịch để đánh giá các trường hợp vô hiệu và kiến nghị giải pháp.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về hợp đồng lao động vô hiệu và sự điều chỉnh của pháp luật

Chương này tập trung xây dựng cơ sở lý luận về chế định HĐLĐ và HĐLĐ vô hiệu:

  • Quá trình hình thành khái niệm HĐLĐ: Ban đầu, quan hệ lao động được coi là một dạng hợp đồng thuê khoán việc trong Luật Dân sự. Về sau, quan hệ lao động được tách biệt thành một chế định độc lập. Khóa luận phân tích định nghĩa HĐLĐ qua chuẩn mực ILO, luật của Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc và lịch sử lập pháp Việt Nam từ Sắc lệnh 29/SL (1947), Điều 26 BLLĐ 1994, Điều 15 BLLĐ 2012 đến Điều 13 BLLĐ 2019: "Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động".
  • Bản chất và đặc điểm của HĐLĐ vô hiệu: HĐLĐ vô hiệu là hợp đồng chứa đựng các yếu tố không đáp ứng đầy đủ các điều kiện có hiệu lực do pháp luật quy định, do đó không làm phát sinh giá trị pháp lý ràng buộc hai bên kể từ thời điểm xác lập. Ba đặc điểm cơ bản gồm:
    1. Nội dung và hình thức không được đảm bảo theo quy định bắt buộc (thiếu các nội dung chủ yếu theo luật định).
    2. Tính không hợp pháp (xâm phạm trật tự công, quy tắc đạo đức xã hội hoặc vi phạm điều cấm của luật).
    3. Tính không có hiệu lực thi hành (bị hủy bỏ hoặc chấm dứt giá trị bắt buộc theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền).
  • Phân loại HĐLĐ vô hiệu:
    • Theo mức độ/phạm vi: HĐLĐ vô hiệu toàn bộ (toàn bộ các điều khoản không có giá trị pháp lý) và HĐLĐ vô hiệu từng phần (chỉ phần nội dung trái pháp luật/thỏa ước lao động tập thể bị vô hiệu, không làm ảnh hưởng đến các phần còn lại).
    • Theo nguyên nhân: Vô hiệu do vi phạm về nội dung; vi phạm quy định về hình thức; vi phạm điều kiện chủ thể (độ tuổi, khả năng lao động, khả năng giao kết); vi phạm yếu tố tự nguyện (lừa dối, đe dọa, cưỡng ép).
  • Cơ chế xử lý và thẩm quyền: Phân tích điểm khác biệt giữa xử lý vô hiệu trong dân sự (hoàn trả cho nhau những gì đã nhận) và lao động. Trong quan hệ lao động, không thể hoàn trả hiện vật là "sức lao động đã tiêu hao", tiền lương là nguồn sống của NLĐ nên không thể buộc NLĐ hoàn trả. Do đó, cơ chế xử lý trong luật lao động hướng tới việc bảo vệ tối đa quyền lợi của NLĐ và ổn định quan hệ sản xuất.

Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về hợp đồng lao động vô hiệu và thực tiễn thực hiện

Chương 2 đi sâu phân tích hệ thống quy phạm pháp luật thực định và đánh giá thực tiễn áp dụng tại Việt Nam:

  • Các trường hợp HĐLĐ vô hiệu toàn bộ theo khoản 1 Điều 49 và Điều 50 BLLĐ 2019:
    • Toàn bộ nội dung của HĐLĐ vi phạm pháp luật: Khóa luận đánh giá cao việc BLLĐ 2019 thay đổi thuật ngữ từ "trái pháp luật" thành "vi phạm pháp luật", bao hàm các hành vi thỏa thuận quyền lợi thấp hơn luật, vi phạm điều cấm hoặc hành vi hạn chế quyền tham gia/hoạt động công đoàn của NLĐ (điểm c khoản 1 Điều 5 BLLĐ 2019).
    • Người giao kết không đúng thẩm quyền: Phân tích đối với NSDLĐ là cá nhân (phải đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ), NSDLĐ là tổ chức (người đại diện theo pháp luật hoặc người được ủy quyền hợp pháp; các trường hợp người không có thẩm quyền ký kết nhưng người có thẩm quyền biết mà không phản đối); đối với NLĐ (người từ đủ 15 tuổi tự mình giao kết; người chưa đủ 15 tuổi phải có sự đồng ý bằng văn bản của người đại diện theo pháp luật/người giám hộ).
    • Vi phạm nguyên tắc giao kết HĐLĐ: Vi phạm nguyên tắc "Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực" quy định tại khoản 1 Điều 15 BLLĐ 2019.
    • Công việc đã giao kết trong HĐLĐ là công việc bị pháp luật cấm: Các công việc xâm hại an ninh quốc gia, trật tự công cộng, thuần phong mỹ tục, môi trường hoặc sản xuất, vận chuyển hàng cấm (ví dụ: trồng cây thuốc phiện).
  • Trường hợp HĐLĐ vô hiệu từng phần theo khoản 2 Điều 49 BLLĐ 2019: Áp dụng khi một phần nội dung vi phạm pháp luật nhưng không làm ảnh hưởng đến các phần còn lại (ví dụ: điều khoản tiền lương thỏa thuận thấp hơn mức lương tối thiểu vùng).
  • Thẩm quyền và thủ tục tuyên bố HĐLĐ vô hiệu:
    • Thẩm quyền: BLLĐ 2019 quy định Tòa án nhân dân là cơ quan duy nhất có thẩm quyền tuyên bố HĐLĐ vô hiệu (Điều 50), bãi bỏ thẩm quyền của Thanh tra Lao động vốn tồn tại trong BLLĐ 2012, bảo đảm tính thống nhất với BLTTDS 2015.
    • Trình tự, thủ tục: Thực hiện theo thủ tục giải quyết việc dân sự quy định tại Điều 362, Điều 401 và Điều 402 BLTTDS 2015.
  • Hậu quả pháp lý và xử lý HĐLĐ vô hiệu theo Điều 51 BLLĐ 2019 và Nghị định 145/2020/NĐ-CP:
    • Đối với vô hiệu từng phần (Điều 9 Nghị định 145/2020/NĐ-CP): Hai bên tiến hành sửa đổi, bổ sung phần bị vô hiệu. Quyền lợi trong thời gian làm việc thực tế được tính theo thỏa ước lao động tập thể hoặc pháp luật. Nếu tiền lương thấp hơn quy định, NSDLĐ phải hoàn trả phần chênh lệch cho NLĐ.
    • Đối với vô hiệu toàn bộ (Điều 10 Nghị định 145/2020/NĐ-CP): NLĐ và NSDLĐ ký lại HĐLĐ theo đúng quy định nếu thuộc trường hợp sai thẩm quyền hoặc vi phạm nguyên tắc giao kết nhưng các bên vẫn đủ điều kiện và có nhu cầu; các trường hợp nội dung vi phạm pháp luật hoặc công việc bị cấm thì chấm dứt hợp đồng và giải quyết chế độ theo luật định.
Tiêu chí HĐLĐ vô hiệu toàn bộ HĐLĐ vô hiệu từng phần
Căn cứ xác định (Điều 49 BLLĐ 2019) Toàn bộ nội dung vi phạm pháp luật; ký sai thẩm quyền; vi phạm nguyên tắc giao kết (khoản 1 Điều 15); công việc bị pháp luật cấm. Một phần nội dung vi phạm pháp luật nhưng không ảnh hưởng đến các phần còn lại của hợp đồng.
Giá trị pháp lý Toàn bộ hợp đồng không có hiệu lực thi hành kể từ thời điểm giao kết. Phần không vi phạm vẫn giữ nguyên giá trị pháp lý; phần vi phạm không có hiệu lực.
Thẩm quyền tuyên bố Tòa án nhân dân (Điều 50 BLLĐ 2019; Điều 401, 402 BLTTDS 2015). Tòa án nhân dân (Điều 50 BLLĐ 2019; Điều 401, 402 BLTTDS 2015).
Cơ chế xử lý (Nghị định 145/2020/NĐ-CP) Hướng dẫn ký lại hợp đồng (nếu do sai thẩm quyền/nguyên tắc) hoặc chấm dứt HĐLĐ; giải quyết quyền lợi theo luật định. Hai bên sửa đổi, bổ sung điều khoản vi phạm; NSDLĐ truy lĩnh, hoàn trả phần tiền lương chênh lệch cho NLĐ.
  • Đánh giá thực tiễn thực hiện: Nêu rõ các kết quả đạt được trong việc bảo vệ quyền lợi người lao động và hạn chế các hành vi tùy tiện của NSDLĐ; đồng thời chỉ ra các tồn tại như: thủ tục yêu cầu Tòa án tuyên bố vô hiệu còn kéo dài, nhận thức pháp luật của các bên chưa cao, còn lúng túng trong việc xác định thẩm quyền ủy quyền nội bộ tại doanh nghiệp.

Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về hợp đồng lao động vô hiệu

Chương 3 trình bày các định hướng giải pháp mang tính chiến lược và cụ thể:

  • Yêu cầu hoàn thiện: Đảm bảo tính đồng bộ của hệ thống pháp luật (giữa BLLĐ, BLDS, BLTTDS); bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NLĐ phù hợp với các tiêu chuẩn lao động quốc tế; bảo đảm quyền tự do kinh doanh và quyền quản lý hợp pháp của NSDLĐ.
  • Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật:
    • Hoàn thiện, bổ sung quy định định nghĩa tường minh về HĐLĐ vô hiệu trong văn bản luật.
    • Hướng dẫn chi tiết các tiêu chí nhận diện hành vi lừa dối, đe dọa, cưỡng ép làm căn cứ xác định vi phạm nguyên tắc giao kết theo khoản 1 Điều 15 BLLĐ 2019.
    • Hoàn thiện cơ chế ủy quyền giao kết HĐLĐ trong các loại hình doanh nghiệp, tránh việc hợp đồng bị vô hiệu hóa do lỗi hình thức từ phía người quản lý.
    • Quy định rõ ràng hơn về thời hạn, trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi HĐLĐ bị tuyên bố vô hiệu do lỗi cố ý của một bên.
  • Giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật:
    • Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật lao động cho NLĐ và NSDLĐ.
    • Nâng cao năng lực chuyên môn và kỹ năng xét xử các vụ việc lao động cho đội ngũ Thẩm phán Tòa án nhân dân.
    • Tăng cường vai trò tư vấn, hỗ trợ pháp lý của tổ chức Công đoàn cơ sở trong quá trình đàm phán, ký kết và giám sát thực hiện HĐLĐ.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

Khóa luận đã tổng hợp, luận giải và làm rõ những vấn đề lý luận cốt lõi về HĐLĐ vô hiệu, chỉ rõ tính độc lập của chế định này so với hợp đồng dân sự vô hiệu do tính chất đặc thù của quan hệ thuê mướn sức lao động. Về mặt pháp lý thực định, công trình đã phân tích toàn diện 4 trường hợp vô hiệu toàn bộ và trường hợp vô hiệu từng phần theo BLLĐ năm 2019, đối chiếu đồng bộ với Nghị định 145/2020/NĐ-CP và BLTTDS 2015.

Đóng góp về mặt khoa học và thực tiễn

  1. Khắc phục khoảng trống thời gian của các nghiên cứu trước: Các công trình của Phạm Thị Thúy Nga (2009), Hoàng Thị Ngọc (2014), Đoàn Thị Phương Mơ (2016), Trần Quỳnh Trang (2018) được thực hiện dưới thời kỳ BLLĐ 1994 hoặc BLLĐ 2012. Khóa luận này là công trình nghiên cứu cập nhật trực tiếp trên cơ sở BLLĐ 2019 và Nghị định 145/2020/NĐ-CP.
  2. Làm rõ sự chuyển dịch thẩm quyền tư pháp: Phân tích sâu sắc sự thay đổi mang tính hệ thống khi BLLĐ 2019 chuyển giao toàn bộ thẩm quyền tuyên bố HĐLĐ vô hiệu về cho Tòa án nhân dân, chấm dứt tình trạng chồng chéo thẩm quyền giữa cơ quan hành chính (Thanh tra Lao động) và cơ quan tư pháp (Tòa án) theo BLLĐ 2012.
  3. Cung cấp góc nhìn luật so sánh đa diện: Khóa luận đưa ra các so sánh cụ thể với pháp luật Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đức, Mỹ và các chuẩn mực của ILO (Công ước 138), làm sáng tỏ kinh nghiệm quốc tế trong việc xử lý HĐLĐ vô hiệu và bảo vệ lao động chưa thành niên.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do giới hạn về thời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp bậc cử nhân và dung lượng nghiên cứu, tác giả chủ yếu tập trung vào bình luận quy phạm pháp luật và hệ thống hóa lý luận. Khóa luận chưa thống kê và phân tích được số lượng lớn các bản án, quyết định giám đốc thẩm thực tế của Tòa án các cấp trên phạm vi toàn quốc.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Nghiên cứu sâu hơn về thực tiễn xét xử thông qua phương pháp phân tích án lệ và tổng kết số liệu xét xử tranh chấp HĐLĐ vô hiệu tại Tòa án nhân dân các tỉnh/thành phố.
    • Mở rộng nghiên cứu cơ chế giải quyết các điều khoản thỏa thuận bảo mật thông tin, thỏa thuận không cạnh tranh (NDA/NCA) khi bị xem xét tính vô hiệu trong bối cảnh nền kinh tế số.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo: Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật Lao động, Luật Kinh tế, Luật Dân sự tại các cơ sở đào tạo luật; cán bộ nhân sự (HR), chuyên viên pháp chế doanh nghiệp; hòa giải viên lao động, thẩm phán, luật sư và đại diện tổ chức Công đoàn.
  • Nội dung giá trị: Mục phân tích các trường hợp vô hiệu do vi phạm thẩm quyền và vi phạm nguyên tắc giao kết (Mục 2.1.1 Chương 2); cơ chế truy lĩnh, hoàn trả phần tiền lương chênh lệch theo Điều 9 Nghị định 145/2020/NĐ-CP; phần so sánh bản chất không thể hoàn trả hiện vật đối với hàng hóa sức lao động tại Chương 1.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo quy định của Bộ luật Lao động năm 2019, cơ quan nào có thẩm quyền tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu?
Khác với BLLĐ 2012 (trao thẩm quyền cho cả Thanh tra Lao động và Tòa án), Điều 50 BLLĐ 2019 quy định Tòa án nhân dân là cơ quan duy nhất có thẩm quyền tuyên bố HĐLĐ vô hiệu. Quy định này bảo đảm tính tương thích với BLTTDS 2015 và tính quyền lực tư pháp của phán quyết.

2. Điểm khác biệt căn bản trong việc xử lý hậu quả pháp lý giữa hợp đồng dân sự vô hiệu và hợp đồng lao động vô hiệu là gì?
Hợp đồng dân sự vô hiệu áp dụng nguyên tắc khôi phục tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Trong khi đó, HĐLĐ không thể áp dụng hoàn toàn nguyên tắc này vì sức lao động của NLĐ đã tiêu hao không thể hoàn trả bằng hiện vật và tiền lương là nguồn sống thiết yếu của NLĐ; do đó luật hướng tới việc bảo vệ quyền lợi thực tế của NLĐ, truy lĩnh chênh lệch lương và yêu cầu sửa đổi hoặc ký lại hợp đồng.

3. Khi hợp đồng lao động bị tuyên bố vô hiệu từng phần về mức lương thấp hơn luật định thì quyền lợi của NLĐ được xử lý ra sao?
Theo Điều 9 Nghị định 145/2020/NĐ-CP, hai bên thỏa thuận lại mức lương cho đúng quy định. NSDLĐ có trách nhiệm xác định khoản chênh lệch giữa mức lương đã thỏa thuận lại so với mức lương trong hợp đồng bị vô hiệu để hoàn trả cho NLĐ tương ứng với thời gian làm việc thực tế.

4. Trường hợp người ký kết hợp đồng phía người sử dụng lao động không đúng thẩm quyền thì hợp đồng có đương nhiên bị hủy bỏ không?
Không đương nhiên bị hủy bỏ. Nếu người có thẩm quyền biết mà không phản đối (thông qua việc trả lương, giao việc, điều động...), việc giao kết được coi là đã có sự đồng ý. Trường hợp người có thẩm quyền không biết hoặc có phản đối nhưng các bên vẫn có nhu cầu tiếp tục và đủ điều kiện thì cơ quan quản lý hướng dẫn hai bên ký lại hợp đồng theo đúng thẩm quyền mà không làm thay đổi nội dung cam kết.

5. Khóa luận đối chiếu quy định về độ tuổi tối thiểu của người lao động giữa pháp luật Việt Nam và chuẩn mực quốc tế như thế nào?
Khóa luận dẫn chiếu Công ước số 138 của ILO (tuổi tối thiểu không dưới 15 tuổi) và chỉ ra pháp luật Việt Nam (BLLĐ 2019) quy định người từ đủ 15 tuổi có quyền trực tiếp giao kết HĐLĐ. Đối với người chưa đủ 15 tuổi, việc giao kết chỉ áp dụng cho một số công việc đặc thù và bắt buộc phải có sự đồng ý bằng văn bản của cha, mẹ hoặc người giám hộ hợp pháp.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hoàng Nhật Hà đã hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận về chế định hợp đồng lao động vô hiệu, làm rõ các điểm đặc thù của quan hệ lao động so với quan hệ dân sự truyền thống. Thông qua việc phân tích sâu sắc các căn cứ pháp lý theo BLLĐ năm 2019, BLTTDS năm 2015 và Nghị định số 145/2020/NĐ-CP, công trình đã làm sáng tỏ các trường hợp vô hiệu, thẩm quyền tư pháp duy nhất của Tòa án và cơ chế giải quyết hậu quả pháp lý nhằm bảo vệ bên yếu thế. Các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành được đề xuất trong khóa luận mang giá trị tham khảo thiết thực cho công tác lập pháp, đào tạo học thuật và hoạt động thực tiễn xét xử tại Việt Nam.