CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VE HỢP DONG LAO ĐỘNG ĐÓI VỚI LAO ĐỘNG GIÚP VIỆC GIA ĐÌNH 1. Khái niệm, đặc điểm hợp đồng lao động đối với lao động giúp việc gia đình 1. Khát niệm lao động giúp việc gia đình Lao động GVGD (Domestic Worker) là một loại hình lao động đã xuất hiện từ lâu và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội. Trước đây, trong xã hội chiếm hữu nô lệ và phong kiến, các gia đình quan lại có điều kiện thường sử dụng những LDGVGD và họ được gọi bang các tên gọi các nhau như nô lệ, gia nhân, người hau, người ở.
Ở các nước phương Tây thời kỳ này, nô lệ đã bán mình cho chủ thường là trong một thời gian rất dài hoặc cả cuộc đời nên hầu như họ không có quyền đòi hỏi bất cứ điều gì, thậm chí họ bị coi là một “tài sản” thuộc quyền sở hữu của chủ nô. Còn ở các nước phương Đông, khu vực châu A lúc bay giờ họ cũng không có địa vị bình đăng so với chủ nhân nhưng họ có quyền được trả lương, quyết định thôi làm dé làm cho người khác. LDGVGD trong thời ky này bị coi là tầng lớp dưới đáy xã hội, thường bị bóc lột sức lao động, thậm chí bị mắng chửi, đánh đập và trả lương rất thấp. Ngày nay cuộc sống thay đổi, nghề GVGĐ trở thành nghề quan trọng không thể thiếu của xã hội hiện đại, chúng ta can thay đôi cách nhìn về lao động giúp việc, phải nhận thức được đây là một nghề tồn tại bình đăng VỚI các nghề khác trong xã hội, hướng đến tạo sự bình đẳng trong quan hệ giữa người sử dụng lao động với người lao động giúp việc gia đình.
Dù rằng đã dần được thừa nhận và cái nhìn với nghề này đã được cải thiện hơn nhưng LDGVGD vẫn bị đánh giá thấp, chỉ được coi là lao động giản đơn vì tính chất của nó không cần bằng cấp, không cần kỹ năng 11 cũng có thé làm được. Bởi vậy, LDGVGD vẫn chịu không ít sự phân biệt đối xử về điều kiện làm việc, dé bị lạm dung sức lao động, thậm chí là lạm dung tình dục trong quá trình làm việc. Đứng trước bối cảnh đó, đề thúc day và bao đảm quyền lợi của LDGVGD, ILO cũng như nhiều quốc gia trên thế giới đã công nhận GVGD như một nghề giống như những nghề khác và LDGVGD là người lao động bình đăng như những người lao động khác. Theo Từ điển Tiếng Việt, “lao động là hoạt động có mục đích của con người nhằm tạo ra các loại sản phẩm vật chất và tinh than cho xã hội (lao động bao gồm lao động chân tay, lao động trí óc)” [41], “giúp việc là lam các công việc phục vụ sinh hoạt cho một hoặc một số gia đình nào đó để lấy công” [40].
Như vậy, lao động giúp việc gia đình có thể hiểu là việc một người làm các công việc phục vụ sinh hoạt cho một hoặc một số gia đình nào đó dé nhận tiền công thông qua hoạt động lao động chân tay. Tại cuộc họp các chuyên gia do ILO tô chức năm 1951, khái niệm về LDGVGD được định nghĩa như sau, LDGVGD là “người làm công, làm việc tại nhà riêng, theo các hình thức và thời gian thanh toán tiền công khác nhau. Người này có thể do một hoặc nhiều người thuê và người chủ không được tìm kiếm lợi nhuận từ công việc này” [44]. Đến năm 2011, Hội nghị thường niên lần thứ 100 của ILO đã thông qua Công ước 189 Việc làm bền vững cho LĐGVGĐ.
Theo quy định tại Điều 1 Công ước 189 thì LDGVGD được xác định như sau: i, GVGD là công việc được thực hiện trong một hoặc nhiều hộ gia đình, ii, LDGVGD là người làm công việc gia đình trong môi quan hệ thuê mướn, 11, Một người chỉ làm công việc một cách thỉnh thoảng, không thường xuyên, không mang tính nghề nghiệp thì không được coi là LDGVGD. 12 Có thé nói việc thông qua Công ước 189 là cơ sở rất quan trọng giúp cho hàng triệu LĐGVGĐ trên thế giới có một cơ chế quốc tế nhằm cải thiện điều kiện việc làm cho họ. Và có thé thấy, so với định nghĩa đầu tiên được ILO đưa ra thì lần này cơ sở liên quan đến LDGVGD được cu thé và chỉ tiết hơn, nó cũng được các quốc gia lay đó làm nền tảng để xây dựng cơ sở về LDGVGDở quốc gia mình. Tại Việt Nam, LDGVGD lần đầu tiên được thừa nhận trong Bộ luật lao động năm 1994 và được ghi nhận tại Điều 2, Điều 28, Điều 139.
Tuy răng Bộ luật lao động 1994 chưa đưa ra khái niệm cụ thé như thế nào là LDGVGD nhưng những ghi nhận về mặt pháp lý là bước ngoặt không hề nhỏ cho việc bảo vệ quyền lợi của người lao động GVGD. Đến năm 1998, GVGD chính thức được thừa nhận là một nghề với mã số 9131, được xếp vào nhóm lao động giản đơn [24], và sau đó, vào năm 2007, GVGD được công nhận trong hệ thống ngành kinh tế Việt Nam [19]. Việc thừa nhận lao động giúp việc gia đình là một nghề trong các văn bản này đã tạo nền tảng quan trọng để BLLĐ năm 2012 quy định cụ thé về LDGVGD từ Điều 179 đến Điều 183. Theo đó, khái niệm LĐGVGĐ lần dau tiên được chính thức ghi nhận tại Việt Nam trong BLLD năm 2012 tại Điều 179: Lao động là người GVGD là người lao động làm thường xuyên các công việc trong gia đình của một hoặc nhiều hộ gia đình.
Các công việc trong gia đình bao gồm công việc nội trợ, quản gia, chăm sóc trẻ, chăm sóc người bệnh, chăm sóc người già, lái xe, làm vườn và các công việc khác cho hộ gia đình những không liên quan đến hoạt động thương mại. Người làm các công việc gia đình theo hình thức khoán việc thì không thuộc đối tượng áp dụng của Bộ luật này. Như vậy, có thê hiểu LDGVGD là người lao động thiết lập quan hệ lao động một cách thường xuyên với một hoặc nhiêu hộ gia đình đê làm các công 13 việc trong gia đình (nội trợ, quản gia, làm vườn, lái xe, chăm sóc trẻ, chăm sóc người già, người bệnh, các công việc khác cho hộ gia đình.) không liên quan đến hoạt động thương mại và không phải là người làm công việc gia đình theo hình thức khoán việc. Có thé thấy, định nghĩa về LDGVGD của pháp luật lao động Việt Nam khá hợp lý và phù hợp với định nghĩa của ILO.
Quy định về định nghĩa lao động là người GVGD tại Diéu 161 BLLĐ năm 2019 không có sự thay đổi so với BLLĐ năm 2012. Từ những khái niệm và những chi ra như trên LDGVGD phải thỏa man các điều kiện chung đối với người lao động, đồng thời cũng phải thỏa mãn những điều kiện riêng có. Về điều kiện chung đối với người lao động Cũng như các quan hệ pháp luật khác, quan hệ pháp luật lao động cũng gồm các thành phan sau: chủ thé, khách thé và nội dung. Trong quan hệ pháp luật lao động, chủ thể của quan hệ pháp luật lao động gồm người lao động và người sử dụng lao động.
Khoản 1 Điều 35 Hiến pháp 2013 quy định: “Công dan có quyền có việc làm, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc”, như vậy công dân chính là chủ thê của quan hệ pháp luật lao động. Thế nhưng công dân muốn trở thành chủ thé của quan hệ pháp luật với tư cách người lao động phải đáp ứng những điều kiện nhất định mà pháp luật quy định. Với năng lực pháp luật lao động, đây là khả năng mà pháp luật quy định họ có thể tham gia vào quan hệ trở thành người được hưởng quyền và gánh vác những nghĩa vụ pháp lý. Do đó, năng lực pháp luật lao động là khả năng pháp luật quy định cá nhân có quyền được làm việc, được trả công và thực hiện những nghĩa vụ.
Năng lực pháp luật lao động khác với năng lực pháp luật dân sự ở điểm, năng lực pháp luật lao động không xuất hiện từ khi cá nhân sinh ra mà phải đạt đến một độ tuổi nhất định thì người đó mới có năng lực pháp luật lao động. Tùy vào hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia mà 14 quy định về độ tuổi cá nhân có năng lực pháp luật lao động cũng khác nhau. Bộ luật Lao động năm 2019 quy định cá nhân từ đủ 15 tuổi trở lên có năng lực pháp luật lao động. Cũng như năng lực pháp luật dân sự nói chung, năng lực pháp luật lao động không phải là thuộc tính tự nhiên của cá nhân mà nó được pháp luật quy định và không thê chuyền giao cho người khác.
Với năng lực hành vi lao động, day là khả năng của cá nhân băng hành vi của mình xác lập thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự. Năng lực hành vi lao động của cá nhân là khả năng bằng chính hành vi của bản thân họ trực tiếp tham gia vào một quan hệ pháp luật lao động dé gánh vác những nghĩa vụ và thực hiện những quyền lợi của người lao động. Nếu năng lực hành vi dân sự gan liền với độ tuổi và trạng thái sức khỏe tinh thần của cá nhân, thé hiện trên hai khía cạnh: khả năng giao dịch (năng lực thực hiện các giao dịch) và khả năng gánh chịu trách nhiệm (độc lập chịu trách nhiệm đối với hành vi của mình) thi năng lực hành vi lao động lại được thê hiện trên hai yếu tổ thé lực (điều kiện về sức khỏe có thé thực hiện được một công việc nhất định) và trí lực (trình độ chuyên môn kỹ thuật). Như vậy, muốn có năng lực hành vi lao động, cá nhân phải trải qua một thời gian phát triển cơ thê và phải có quá trình tích lũy kiến thức, kỹ năng lao động.
Về điều kiện riêng đối với lao động là người giúp việc gia đình Một là LDGVGD là người được thuê dé thực hiện các công việc của minh trong khuôn khổ moi quan hệ thuê mướn lao động. Người GVGD không phải là thành viên trong gia đình đó, họ chỉ là người được trả công để chia sẻ bớt gánh nặng công việc gia đình cho gia chủ. Việc thuê mướn lao động là cơ sở dé hình thành nên mối quan hệ lao động giữa LDGVGD và người sử dụng lao động. Các bên phải có sự thỏa thuận về các vấn đề liên quan đến quá trình thực hiện công việc của người lao động như tiền lương, thời gian làm việc, thời gian nghỉ ngơi, điều kiện làm việc.
thông qua hợp đồng lao động.