Chương 1: Cơ sở lí luận về Thỏa thuận Bảo mật - Không cạnh tranh. Khái luận chung về quyền sự xung đột quyền lợi giữa NLĐ và NSDLĐ trong Thỏa thuận Bảo mật - Không cạnh tranh. Khái niệm và cơ sở pháp lý của quyền bảo vệ bí mật kinh doanh. Nếu như nói ví việc kinh doanh là cuộc đua giữa các thương nhân trong việc giải quyết nhu cầu của khách hàng nhanh chóng và hiệu quả nhất thì bí mật kinh doanh chính là “chiếc động cơ” tạo ra sự khác biệt.
Chính sự khác biệt ở “chiếc động cơ” là cơ sở để một thương nhân có thể bứt phá và đánh bại những thương nhân khác ở đường đua. Nếu như tất cả cùng sở hữu một chiếc động cơ giống nhau thì chắc chắn sẽ không còn ai có lợi thế hơn trong cuộc đua ấy nữa. Bí mật kinh doanh trong thực tiễn cuộc sống rất đa dạng và tồn tại ở nhiều dạng hình thức khác nhau. Có những bí mật kinh doanh là những quy trình sản xuất, công thức sản phẩm nhưng có những bí mật kinh doanh lại nằm ở kỹ thuật thực hành của một cá nhân do lao động mà có được.
Từ xa xưa người ta đã có nhiều cánh thức khác nhau để bảo vệ bí mật kinh doanh nhưng đơn giản nhất vẫn là chỉ truyền thụ cho người tin tưởng nhất. Người được lựa chọn nắm giữ bí mật kinh doanh phải là người nắm đủ những tố chất mà người tiền nhiệm kì vọng. Để đảm bảo bí mật kinh doanh kia sẽ mãi được lưu truyền mà từ đây nhiều gia đình thương nhân lựa chọn sinh con trai để nối nghiệp. Đến thời điểm hiện tại, cách thức trên vẫn chưa bị coi là lạc hậu và vẫn còn được áp dụng cho các doanh nghiệp gia đình.
Giờ đây với sự phát triển vũ bão của công nghệ, bí mật kinh doanh đem lại lợi thế lớn nhất giờ đây không phải là những kĩ năng gia truyền đơn thuần nữa. Bí mật kinh doanh theo pháp luật Việt Nam được hiểu là: “thông tin thu được từ hoạt động đầu tư tài chính, trí tuệ, chưa được bộc lộ và có khả năng sử dụng trong kinh doanh”.11 Để được bảo vệ bởi pháp luật thì bí mật kinh doanh cần phải đáp ứng được điều kiện là: i) Không phải là hiểu biết thông thường và không dễ dàng có được; ii) Khi được sử dụng trong kinh doanh sẽ tạo cho người nắm giữ bí mật kinh doanh lợi thế so với người không nắm giữ hoặc không sử dụng bí mật kinh doanh đó; iii) Được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết để bí mật kinh doanh đó không bị bộc lộ và không dễ dàng tiếp cận được.12 Cách tiếp cận trên của Việt Nam cũng tương đồng với các quốc gia khác khi tại điều 757, 758 Khảo luận về dân sự phạm của Mỹ13 định nghĩa: “Bí mật kinh doanh là bất kể 11 Khoản 23 Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi bổ sung 2009 12 Điều 84 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 sửa đổi bổ sung 2009 13 Restatement of Tort 1939, tham khảo tại: http://www.edu/ashley/RESTATEM. LIABILITY FOR DISCLOSURE OR USE OF ANOTHER' S TRADE SECRET. A trade secret may consist 13 những thông tin nào được sử dụng trong công việc kinh doanh của một người mà đem lại cho người đó những lợi thế hơn trong quá trình cạnh tranh với các đối thủ không biết hoặc không sử dụng nó”14 Bí mật kinh doanh quan trọng bởi lẽ, nếu một người đầu tư tài sản để nghiên cứu và tìm ra một giải pháp cho một vấn đề của cộng đồng anh ta sẽ có cơ hội được trả công xứng đáng.
Nếu như những bí mật này bị công khai thì cơ hội thu được lợi nhuận từ bí mật đó cũng không còn nữa. Lê Nết bí mật kinh doanh có hai đặc điểm quan trọng đó là: “Tính bí mật” đòi hỏi chủ sở hữu phải ý thức tự bảo vệ trước sự xâm phạm và “tính quyết định” tạo ra cho chủ sở hữu một ưu thế hơn trong quá trình cạnh tranh.15 Vì vậy bí mật không phải là sản phẩm của quá trình suy luận logic thông thường mà đỏi hỏi sự đầu tư nghiên cứu kết hợp các tri thức cũ hoặc tạo ra tri thức mới. Bảo hộ bí mật kinh doanh vì vậy được bảo vệ bởi pháp luật nhằm tạo ra động lực để thúc đẩy các cá nhân sáng tạo ra những tri thức có ích. Pháp luật có thể bảo hộ nếu bí mật kinh doanh đáp ứng đủ điều kiện để cấp bằng sáng chế nhưng thông thường người sở hữu bí mật kinh doanh sẽ tự bảo hộ.
Việc công khai bí mật kinh doanh sẽ làm giá trị của bí mật đó không còn nữa. Vì vậy chủ thể nắm giữ thường sử dụng cơ chế tự bảo vệ quyền theo quy định tại Điều 12 Bộ luật Dân sự 2015.16 Bí mật kinh doanh làm một đối tượng điều chỉnh của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 sửa đổi bổ sung năm 2009. Vì vậy người sở hữu một bí mật kinh doanh có thể được coi là sở hữu một Quyền sở hữu trí tuệ đối với tri thức mà anh ta chiếm hữu. Theo Điều 115 Bộ luật Dân sự 2015 quyền tài sản là quyền với đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ.
Từ đó có thể kết luận người sở hữu bí mật kinh doanh có thể sử dụng các biện pháp bảo vệ tài sản được pháp luật quy định để bảo vệ tài sản của mình theo quy định tại của Bộ luật Dân sự 2015. Khoản 1 Điều 164 cho phép chủ sở hữu tài sản tự áp dụng các biện pháp bảo vệ quyền miễn là hành vi đó không trái với quy định của pháp luật.17 Khoản 2 Điều 21 Bộ luật Lao động cho phép NLĐ và NSDLĐ được thỏa thuận các vấn đề liên quan đến việc bảo vệ bí mật kinh doanh. NCA được hiểu là biện pháp tự bảo vệ quyền hợp pháp của NSDLĐ và không trái với quy định của pháp luật hiện hành. Như vậy có thể đi đến kết luận về khái niệm quyền bảo vệ bí mật kinh doanh của NSDLĐ là: of any formula, pattern, device or compilation of information which is used in one's business, and which gives him an opportunity to obtain an advantage over competitors who do not know or use it.
Lê Nết, Tập bài giảng Luật Sở hữu trí tuệ (sửa đổi bổ sung theo Luật SHTT 2005) , NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, trang 154. 16 Việc tự bảo vệ quyền dân sự phải phù hợp với tính chất, mức độ xâm phạm đến quyền dân sự đó và không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật này. 17 Khoản 1 Điều 164 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: “Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền tự bảo vệ, ngăn chặn bất kỳ người nào có hành vi xâm phạm quyền của mình bằng những biện pháp không trái với quy định của pháp luật”. 14 “Quyền bảo vệ bí mật kinh doanh là việc NSDLĐ được phép i) sử dụng những biện pháp để tự bảo vệ quyền tài sản của mình mà không trái với quy định của pháp luật hoặc ii) yêu cầu tòa án bảo vệ quyền tài sản của mình” 1.
Khái niệm và cơ sở pháp lý của quyền tự do kinh doanh Quyền con người là một trong những lĩnh vực luôn được dành sự quan tâm từ cả xã hội. Vì sự vận động và phát triển của quyền con người tại mỗi quốc gia gắn liền với tiến trình phát triển của kinh tế, văn hóa, xã hội. Thật vậy, một xã hội chỉ có thể tiến tới văn minh khi mà quyền lợi của mỗi cá nhân được bảo đảm. Nếu như quyền sống, quyền bất khả xâm phạm về thân thể là những cơ sở để chúng ta có thể tồn tại trong một thế giới hòa bình thì quyền tự do kinh doanh chính là cơ sở để con người thực sự có thể “sống” theo đúng nghĩa.
Xã hội sẽ vận hành tốt nhất khi mà mỗi cá nhân trong đó được tự do phát huy những năng lực của mình. Những sai lầm trong quá khứ của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung trước những năm 1990 là minh chứng rõ nét nhất cho luận điểm trên. Ý tưởng về bàn tay vô hình của học giả Adam Smith khẳng định rõ khi một cá nhân tự do trong việc tìm kiếm lợi ích cho riêng mình, anh ta cũng vô tình làm lợi cho xã hội mặc dù đó không phải là dự định ngay từ lúc ban đầu của anh ta.18 Vậy nên, một xã hội muốn đạt được sự thịnh vượng thì mỗi cá nhân cần được đảm bảo những tự do tối thiểu trong việc tham gia kinh doanh, vận hành công việc kinh doanh của mình và rút khỏi công việc kinh doanh khi không còn mong muốn tiếp tục. Tại khoản 16 Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014 định nghĩa: “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời.TS Ngô Huy Cương cho rằng: “Quyền tự do kinh doanh là khả năng của con người theo ý chí nguyện vọng và vì lợi ích của mình quyết định cách thức thực hiện các hoạt động sản xuất – kinh doanh từ đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm để tạo ra lợi nhuận.”19 Hiến Pháp năm 1992 là văn bản pháp lý đánh dấu mốc quan trọng nhất về quyền tự do kinh doanh trong pháp luật Việt Nam với quy định tại điều 57: “Công dân có quyền tự 18 “Every individual.
neither intends to promote the public interest, nor knows how much he is promoting it. he intends only his own security; and by directing that industry in such a manner as its produce may be of the greatest value, he intends only his own gain, and he is in this, as in many other cases, led by an invisible hand to promote an end which was no part of his intention.” Tham khảo tại: https://www.org/adam-smith- quotes, truy cập ngày 4/2/2020.TS Ngô Huy Cương, Giáo trình Luật thương mại phần chung và thương nhân, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2013, trang 9. 15 do kinh doanh theo quy định của pháp luật”. Kể từ đây việc tham đã có một cơ sở hiến định làm tư tưởng chỉ đạo cho toàn bộ hệ thống pháp luật được cải cách.
Cụ thể hóa tư tưởng trong Hiến Pháp năm 1992, điều 46 của Bộ luật Dân sự 1995 đã quy định: “Quyền tự do kinh doanh của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ”. Tiếp đó là sự ra đời của Luật Doanh nghiệp 1999, Bộ luật Dân sự 2005, Luật doanh nghiệp 2005.