Chương 1 “Cơ sở lý luận của việc quy định thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân đối với các vụ việc kinh doanh thương mại theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam” có giá trị tham khảo quan trọng đối với tác giả khi thực hiện luận án này, về khía cạnh giải quyết tranh chấp lao động theo thủ tục Tố tụng dân sự. Luận án tiến sĩ “Pháp luật về thủ tục giải quyết tranh chấp lao động cá nhân tại Tòa án ở Việt Nam” của tác giả Phạm Công Bảy (Học viện Khoa học xã hội, 2011), đã làm rõ bản chất, đặc điểm và những đặc thù của TCLĐ cá nhân và thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật thủ tục giải quyết TCLĐ cá nhân tại tòa án và đề xuất các kiến nghị để hoàn thiện pháp luật về vấn đề này. Trong công trình này, tác giả cũng đã chỉ rõ những vấn đề còn tồn tại, bất hợp lý trong cơ chế tài phán về lao động và những hạn chế về năng lực áp dụng pháp luật của đội ngũ những người làm công tác xét xử và đặt nó trong mối quan hệ với các yếu tố khách quan là cơ chế áp dụng pháp luật. Có thể nói, đây là công trình nghiên cứu toàn diện và khách quan về thủ tục giải quyết TCLĐ cá nhân tại tòa án ở Việt Nam.
Do công trình này được hoàn thành vào năm 2011 (trước khi BLLĐ 2012 có hiệu lực) nên một số vấn đề đã có sự thay đổi. Tuy nhiên, những kiến thức và quan điểm được nêu trong công trình trên là nguồn tài liệu tham khảo quý giá cho tác giả khi thực hiện luận án này. Luận án tiến sĩ “Hòa giải trong giải quyết tranh chấp lao động theo pháp luật Việt Nam hiện nay” của Đào Xuân Hội (Học viện Khoa học xã hội, 2017), đã làm rõ những vấn đề lý luận về hòa giải trong TCLĐ (nguyên tắc, chủ thể, quy trình, nội dung hòa giải…), đánh giá thực trạng pháp luật và đề xuất những giải pháp hoàn thiện pháp luật về hòa giải trong TCLĐ ở Việt Nam hiện nay. Những quan điểm, đánh giá được tác giả đưa ra trong công trình này đã giúp tác giả có được cái nhìn toàn diện về pháp luật giải quyết TCLĐ của Việt Nam hiện nay.
13 Nghiên cứu về vấn đề này còn có nhiều công trình khác. Tác giả Lê Thị Hải Yến (2014), Pháp luật về GQTC lao động cá nhân nhìn từ thực tiễn tỉnh Long An, Luận văn thạc sĩ Luật, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội đã trình bày những ưu điểm và hạn chế khi GQTC lao động tại tòa án, có so sánh pháp luật Việt Nam với pháp luật Malaysia, Singapore về GQTC lao động, đề xuất bổ sung tổ chức đại diện cho NSDLĐ. Tác giả Huỳnh Hữu Tốt (2013), TCLĐ và GQTC lao động ở Bình Dương, thực trạng và kiến nghị, Luận văn thạc sĩ Luật, Học viện Khoa học xã hội, Hà Nội; Phạm Thị Thu Phương (2015), GQTC lao động từ thực tiễn xét xử của TAND quận 1, thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sĩ Luật, Học viện Khoa học xã hội… thì cho rằng để hoàn thiện pháp luật lao động cần thiết có cơ chế ba bên trong QHLĐ. Thế nhưng, các tác giả đều không phân tích, đi sâu nghiên cứu về vấn đề đơn phương chấm dứt HĐLĐ trong thực tiễn.
Tuy vậy, từ số liệu nêu ra trong công trình đã cho thấy số lượng vụ án đơn phương chấm dứt HĐLĐ ở địa bàn Long An, Bình Dương và TP.HCM ngày càng gia tăng. Về giải pháp hoàn thiện pháp luật GQTC đơn phương chấm dứt HĐLĐ, một số công trình nghiên cứu về đơn phương chấm dứt HĐLĐ cho rằng pháp luật lao động Việt Nam có nhiều bất cập và từ đó đưa ra các định hướng hoàn thiện pháp luật xoay quanh các nội dung: hoàn thiện định hướng chung về pháp luật lao động, hoàn thiện các quy định cụ thể về tố tụng lao động và hoàn thiện về các quy định cụ thể trong BLLĐ. Theo tác giả Nguyễn Hữu Chí (2002), Một ố vấn đề về HĐLĐ theo quy định của BLLĐ và Luật ửa đổi, Bổ ung một ố điều của BLLĐ, Tạp chí TAND, số 8/2002, trang 16-22, cần quy định về quyền điều chuyển công việc đối với NLĐ, quyền thỏa thuận và đơn phương chấm dứt HĐLĐ của NSDLĐ. Quan điểm không nên buộc NSDLĐ phải nhận NLĐ trở lại làm việc trong mọi trường hợp đơn phương chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật được nhiều tác giả đồng thuận, như tác giả Nguyễn Hữu Chí, Bùi Thị Kim Ngân (2013), Thực hiện, chấm dứt HĐLĐ theo BLLĐ 2012 từ quy định đến nhận thức và thực hiện, Tạp chí Luật học, số 8/2013, trang 3-11… Theo ý kiến của tác giả Nguyễn Thị Thu Hiếu (2015), Hoàn trả chi phí đào tạo trong trường hợp NLĐ đơn phương chấm dứt HĐLĐ theo khoản 3 Điều 37 BLLĐ 2012, Tạp chí TAND, số18/2015, trang 41-43; Đỗ Ngân 14 Bình (2017), Hoàn thiện chế định HĐLĐ - Từ thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp, Luật học, Trường đại học Luật Hà Nội, Số 6, trang 3-10; Nguyễn Quốc Nam (2015), Một ố bất cập trong pháp luật hiện hành về chấm dứt HĐLĐ, Tạp chí Kinh tế và Dự báo, số 6, trang 7 - 9.
trường hợp NLĐ cam kết với NSDLĐ về thời gian làm việc sau khi đào tạo, dù HĐLĐ không thỏa thuận thì khi vi phạm thời hạn làm việc không đủ như cam kết vẫn phải bồi thường chi phí đào tạo cho NSDLĐ. Mỗi tác giả có những lập luận khác nhau để luận giải cho việc cần thiết phải hoàn thiện pháp luật Việt Nam về GQTC đơn phương chấm dứt HĐLĐ. Thế nhưng, điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam khi hội nhập kinh tế quốc tế đã có sự thay đổi và tạo ra nhiều cơ hội cũng như thách thức đối với QHLĐ. Do đó, các giải pháp được đưa ra cần xem xét cụ thể để phù hợp với thực tế.
Tuy vậy, đây đều là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng của tác giả khi thực hiện luận án này.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Ở một số quốc gia khác, vấn đề GQTC đơn phương chấm dứt HĐLĐ cũng được nghiên cứu ở các khía cạnh và cấp độ khác nhau trong những công trình nghiên cứu tổng hợp. Trong đó, có thể kể đến các công trình sau đây: Năm 2003, tác giả A. Davies đã xuất bản sách “Perspectives on Labour law”. Công trình này nghiên cứu về quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ được quy định trong Hiến chương châu Âu.
Năm 2004, tác giả Catherine Barnard, Simon Deakin and Gillians Morris, Oxford and Portland Oregon xuất bản sách The Future of Labour law”. Công trình đã đưa ra khái niệm về chấm dứt HĐLĐ, luật chung về đơn phương chấm dứt HĐLĐ cũng như một số quan điểm thay đổi về chấm dứt HĐLĐ ở nước Anh. Đặc biệt, năm 2006, tác giả John D. Michael Lynk đã xuất bản sách “Globalization and the future of labour law”.
Trong công trình này, các tác giả đã phân tích sâu sắc các trường hợp đơn phương chấm dứt HĐLĐ khi lao động nữ mang thai hoặc khi NLĐ lao động lập gia đình. Năm 2006, tác giả Chang - Hee Lee (chuyên gia của ILO) đã thực hiện công trình nghiên cứu “Quan hệ lao động và giải quyết tranh chấp lao động tại Việt Nam”. Theo nghiên cứu này thì đơn phương chấm dứt HĐLĐ là hiện tượng khó 15 tránh khỏi khi nền kinh tế ngày một phát triển hơn và tùy thuộc vào đặc điểm kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội và pháp luật của quốc gia khác nhau thì sự chuyển đổi của QHLĐ tại quốc gia đó sẽ có các đặc điểm khác nhau. Bên cạnh đó, năm 2007, tác giả Eladio Daya (chuyên gia của ILO) cũng đã thực hiện nghiên cứu về “Thủ tục hòa giải và trọng tài các TCLĐ”.
Theo đó, hòa giải và trọng tài là nhân tố quan trọng cần quan tâm sâu sắc để hoàn thiện cơ chế ba bên trong QHLĐ, các quy định về giải quyết TCLĐ được đề cập hạn chế trong công trình này. Các bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết nếu các TCLĐ đã hòa giải hoặc trọng tài nhưng không có kết quả. Các công trình phần nào giúp giải quyết một câu hỏi quan trọng được đặt ra trong giai đoạn hiện nay là làm sao để xây dựng một cơ chế hiệu quả để giải quyết tranh chấp về đơn phương chấm dứt HĐLĐ. Tháng 12/2009, ILO và Chính phủ Đan Mạch đã phối hợp để xuất bản sách “Cân đối hài hòa giữa an ninh và linh hoạt ở các nước mới nổi”.
Theo công trình này, đơn phương chấm dứt HĐLĐ là hành vi thực hiện các quyền được pháp luật quy định và các nước phát triển đều quy định phải thông báo trước cho NLĐ… Có thể nói, ở các mức độ khác nhau thì các công trình trên đã cung cấp kinh nghiệm nước ngoài quý báu về đơn phương chấm dứt HĐLĐ.3 Đánh giá tổng quan về tình hình nghiên cứu đề tài Tổng hợp các kết quả nghiên cứu cả trong nước và nước ngoài liên quan đến đề tài của luận án, tác giả rút ra một số nhận xét, đánh giá chung như sau: Thứ nhất, đối với nghiên cứu về vấn đề lý luận, ưu điểm của các công trình nghiên cứu trên là đã làm rõ được một số vấn đề cơ bản liên quan đến lý luận về khái niệm và đặc điểm của pháp luật đơn phương và GQTC đơn phương chấm dứt HĐLĐ. Tuy nhiên, các công trình trên vẫn còn bỏ ngỏ phần lý luận về nội dung pháp luật điều chỉnh về vấn đề này. Bên cạnh đó, khi đề cập đến vấn đề lý luận, việc tham chiếu pháp luật nước ngoài để thấy được quan điểm lập pháp của các quốc gia trên thế giới về vấn đề trên còn hạn chế. Do đó, tác giả sẽ nghiên cứu và tiếp thu các quan điểm này một cách có chọn lọc để phân tích một cách có hệ thống về lý luận (khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa và nội dung pháp luật) về đơn phương và GQTC đơn phương chấm dứt HĐLĐ.
16 Thứ hai, một số nghiên cứu về thực trạng pháp luật đơn phương chấm dứt HĐLĐ (căn cứ, trình tự, thủ tục, hậu quả pháp lý), thực trạng pháp luật GQTC đơn phương chấm dứt HĐLĐ (thẩm quyền, thời hiệu, trình tự, thủ tục) cũng đã được đề cập trong các công trình nghiên cứu ở các mức độ khác nhau và tập trung chủ yếu vào việc phân tích các quy định của BLLĐ 2012và BLTTDS 2004(đã sửa đổi, bổ sung 2011) và chủ yếu tập trung vào pháp luật nội dung. Ưu điểm của các công trình nghiên cứu về nội dung này là đã phân tích được thực trạng pháp luật trên cơ sở các vụ việc xảy ra trong thực tiễn.