CHƯƠNG 1. MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE TRANH CHAP LAO ĐỘNG TAP THE VE LỢI ÍCH VA PHAP LUẬT GIẢI QUYẾT TRANH CHAP LAO DONG TẬP THE VE LỢI ÍCH 1.Khái quát chung tranh chấp lao động tập thể về lợi ích 1. Khái niệm tranh chấp lao động tập thể về lợi ích Dé làm rõ hơn khái niệm TCLĐTT về lợi ích, trước hết cần làm rõ TCLĐTT. Theo đó, TCLDTT là một loại TCLĐ, có nguồn sốc lịch sử gan liền với su hình thành hệ thống Tòa án chuyên giải quyết lao động (conscils de prudhhommes’) ở Pháp thông qua một đạo luật được ban hành từ năm 1806.
Ở thời kỳ này, tổ chức công đoàn chỉ mới bắt đầu xuất hiện, vì vậy, Tòa án Lao động chỉ giải quyết các tranh chấp liên quan đến thỏa thuận về lao động có tính cá nhân, các tranh chấp liên quan đến các loại thỏa thuận khác sẽ do các Tòa án thông thường giải quyết. Hệ thống Tòa án này, sau đó được kế thừa ở nhiều quốc gia từng là thuộc địa của Pháp, chịu ảnh hưởng sâu sắc của pháp luật Pháp, như: Benin, Cameroon, Chad, Congo, Gabon, Bờ Biển Ngà. Chăng hạn như: tại Điều 157 Bộ luật Lao động Cameroon quy định, TCLĐTT là tranh chấp thỏa mãn hai đặc điểm: (i) có sự tham gia của một nhóm NLD làm công ăn lương, du những NLD có liên kết với nhau trong tô chức công đoàn hay không: và (ii) quyền lợi tranh chấp là quyền lợi có tính tập thê. Ở Lào, TCLĐTT về lợi ích quy định ở Điều 61 BLLĐ của Lao năm 1997 được hiểu là: “Tranh chấp liên quan đến yêu cầu của NLD về những quyên lợi mới mà NSDLĐ phải thực hiện”.
Với những quốc gia theo quan điểm như Lào, thì nội dung TCLĐTT về lợi ích được pháp luật thừa nhận chỉ là những yêu cầu của tập thể liên quan đến việc cải thiện điều kiện làm việc của NLĐ và yêu cầu này chỉ xuất phát từ tập thé lao động. Theo quy định trên, dé một tranh chấp được xem là TCLĐTT, phải thỏa mãn hai điều kiện, đó là: (i) Tính tập thé của tranh chấp; (ii) Đối tượng đặc biệt của tranh chấp (bao gồm: những vấn đề về xác lập, thay đổi điều kiện lao động: ký kết, thay đổi và thực hiện hợp đồng tập thé, thỏa thuận, và đồng thời có liên quan đến việc từ chối xem xét ý kiến của cơ quan đại diện được bau của những NLD khi thông qua các văn bản pháp lý cơ sở [12]. Ở Nhật Bản, Điều 6 Luật Điều chỉnh Quan hệ Lao động năm 1947 định nghĩa: “TCLĐTT là bat dong về các yêu cầu về QHLĐ phát sinh giữa các bên liên quan đến QHLĐ và dẫn đến việc một hành động tranh chấp (act of dispute) hay có thể dẫn đến một hành động như vậy”. Điều 7 Luật này giải thích thêm, “hành động tranh chấp là đình công, lan công, bé xưởng hoặc các hành động khác hoặc các hành động đáp trả làm cản trở hoạt động bình thường của doanh nghiệp, do các bên liên quan đến OHLD thực hiện nhằm đạt được các yêu cầu của họ ”.
Tại Philippines, khái niệm TCLĐ trong pháp luật bao hàm cả tranh chấp cá nhân và tranh chấp tập thé [4]. Tuy nhiên, pháp luật nước nay không có quy định về phân loại TCLĐ. Trên thực té, Ở Philippines, người ta chủ yếu quan tâm đến việc phân biệt tranh chấp về quyền với tranh chấp về lợi ích hơn là phân biệt tranh chấp cá nhân với tranh chấp tập thê [7]. Một số quốc gia khác đã nhìn nhận TCLĐ ở phương diện đầy đủ hơn, như: My, Indonesia, Elasalvador.
Chang hạn như: Pháp Luật Mỹ cho rằng TCLĐTT về lợi ích là: “Tranh chấp giữa NSDLĐ và tập thể lao động về những nội dung sẽ được đưa vào một TƯLĐTT mới ”; hay Điều 1 Luật giải quyết tranh chấp QHLD Ind onesia năm 2002, TCLĐTT về lợi ích là: “Tranh chấp phát sinh trong QHLĐ do sự bắt đồng ý kiến từ việc soạn thảo và thay đổi các điều kiện làm việc được quy định trong các thỏa thuận về lao động, các quy định cua công ty hoặc TULĐTT”. Như vậy, TCLĐTT ở các quốc gia khác nhau, sẽ có cách tiếp cận và quan điểm khác nhau, không chi phát sinh từ các yêu sách của tập thé lao động đòi cải thiện điêu kiện làm việc của họ mà còn có thê phát sinh từ mong muôn, yêu câu 11 cua NSDLD. Tựu chung lai, TCLDTT là một loại hiện tượng khách quan cua nên kinh tế thị trường. Trong cơ chế đó, lợi ích là yếu tố cơ bản, chi phối việc xác lập, duy trì va phát triển QHLD giữa NLD và NSDLĐ.
Tại Việt Nam, TCLDTT là một thuật ngữ mới được sử dụng khoảng 30 năm trở lại đây, trước năm 1985, khái niệm này hầu như không được đề cập đến [42]. Cho đến khi Pháp lệnh Hop đồng lao động năm 1990 và Nghị định số 18-CP ngày 26/12/1992 ra đời, sự phân chia tranh chấp cá nhân và tranh chấp tập thể mới manh nha xuất hiện, song, không có nhiều ý nghĩa bởi cả hai loại này đều được giải quyết theo một cơ chế chung. Mãi đến năm 1994, định nghĩa “tranh chấp lao động” lần đầu tiên được chính thức ghi nhận trong Bộ luật Lao động năm 1994, sau đó, tiếp tục được kế thừa trong các Bộ luật Lao động sau này. Trên cơ sở các quy định của các Bộ luật Lao động trước đây, tại Điều 179 Bộ luật Lao động năm 2019 đã đưa ra định nghĩa về TCLD, như sau: “7CLÐ ià tranh chấp về quyén và nghĩa vụ, lợi ích phát sinh giữa các bên trong quá trình xác lập, thực hiện hoặc cham dứt QHLĐ, tranh chấp giữa các tô chức đại diện NLD với nhau; tranh chấp phát sinh quan hệ có liên quan trực tiếp đến QHLĐ”.
Đây là những tranh chấp phát sinh giữa các bên của QHLD trong quá trình thuê mướn, sử dụng lao động, bao gồm cả cá nhân và tập thé NLD, đại diện của các bên trong QHLĐ; hoặc phát sinh từ quan hệ đào tạo, bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội,. hoặc tranh chấp giữa các đại diện NLD. Bộ luật Lao động năm 2019 đã mang tính bao quát được các TCLĐ về cả phương diện chủ thé và nội dung cũng như mang tính dự đoán khi tính đến trường hợp phát sinh tranh chấp giữa các tổ chức đại diện NLĐ. Tuy nhiên, về các trường hợp về tranh chấp giữa các tô chức đại điện NLD còn chưa được quy định rõ.
Giống như nhiều quốc gia khác trên thế giới, pháp luật Việt Nam cũng chia TCLD thành 02 (hai) loại là TCLD cá nhân và TCLDTT. Mục đích của việc phân chia này nham quy định cơ chế giải quyết riêng, phù hợp với mỗi loại tranh chấp. Bộ luật Lao động năm 2019 cũng quy định rõ các nội dung TCLĐTT về quyền và lợi ích trong Khoản 2,3 Điều 179 Bộ luật Lao động năm 2019. Theo đó, TCLDTT về lợi ích bao gồm: tranh chấp phát sinh trong quá trình thương lượng; hoặc khi 12 một bên từ chối thương lượng hoặc không tiến hành thương lượng trong thời gian quy định.
Từ phân tích nêu trên, khái niệm TCLDTT về lợi ích hiểu một cách đầy đủ như sau: “TCLĐTT về lợi ích là TCLĐ phát sinh trong quá trình thương lượng tập thể nhằm xác lập các điều kiện lao động và điều kiện sử dụng lao động; xác định quyên và nghĩa vụ của các bên trong QHLĐ”. TCLĐTT về lợi ích trước hết là TCLĐTT, do đó, ngoài những đặc trưng của mình, TCLĐTT về lợi ích cũng mang những đặc điểm chung, như: Một là, TCLD phat sinh, tồn tại và gắn liền với QHLĐ, thé hiện ở việc các bên tranh chấp bao giờ cũng là chủ thé của QHLD và đối tượng tranh chấp chính là nội dung của QHLD đó; Hai là, TCLĐ có ảnh hưởng trực tiếp đến các bên của QHLĐ, an ninh công cộng và đời sống kinh tế, chính trị, xã hội. Ngoài ra, TCLDTT về lợi ích còn có những đặc trưng riêng, cụ thể như sau: Một là, TCLĐTT về lợi ích là tranh chap phát sinh giữa tập thể NLD va NSDLĐ. Thông thường, trong TCLĐTT về lợi ích, tại cùng một thời điểm, nhiều NLD cùng tranh chấp với NSDLD về cùng một nội dung (tiền lương, thu nhập, điều kiện lao động.
Hai là, mục đích của tập thể lao động là nhăm yêu cầu xác lập các điều kiện lao động mới (thường có lợi hơn cho NLD) so với các quy định của pháp luật va các văn bản có giá trị pháp lý khác trong nội bộ doanh nghiệp. Khác với TCLDTT về quyền, TCLĐTT về lợi ích xảy ra khi lao động muốn đưa ra các yêu sách nhăm xác lập các điều kiện lao động mới, như: tăng lương, giảm giờ làm, cải thiện điều kiện lao động tốt hơn. Ba là, những thỏa thuận đạt được thường được xác lập thông qua thương lượng tập thê và thường được ghi vào văn bản. Xuất phát từ đặc trưng của QHLĐ, mục đích cuối cùng của NLD là giữ được việc làm và nâng cao thu nhập, cũng như mục đích cuối cùng của NSDLD là ôn định sản xuất và tạo ra nhiều lợi nhuận, thường được xác lập thông qua thương lượng tập thé; được ghi nhận trong thỏa 13 ước lao động tập thể (TƯLĐTT) làm căn cứ đề áp dụng và giải quyết TCLĐ (nếu có) sau này.
Ý nghĩa của giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích TCLD, đặc biệt là TCLĐTT về lợi ích là hiện tượng không thể tránh khỏi trong nền kinh tế thị trường, gây tác động xấu đến QHLD, hoạt động sản xuat, kinh doanh của doanh nghiệp và trật tự ôn định của xã hội. Do đó, giải quyết TCLĐTT không đơn giản chỉ là một giải pháp công bằng và hợp pháp cho các bên tranh chấp mà còn phục vụ các mục tiêu khác như: duy trì sự ồn định của QHLD, khuyến khích thương lượng tập thé và phục vụ chính sách — xã hội của đất nước. Cụ thể: Một là, việc giải quyết TCLĐTT về lợi ích giúp các bên tham gia QHLĐ hiểu biết về các vấn đề pháp luật, kinh tế, xã hội để đưa ra các quyết định đúng dan, giúp các chủ thể lĩnh hội được thông tin và thay đôi cách xử lý thông tin, cách tư duy và giải quyết các van đề liên quan đến TCLĐTT về lợi ích. Sự trợ giúp, dẫn dat của các chủ thé giải quyết tranh chấp là rất cần thiết nhằm hạn chế những xung đột phát sinh.
Hai là, việc giải quyết TCLĐTT về lợi ích nhăm đảm bảo sự 6n định của QHLĐ, hạn chế những xung đột xảy ra giữa các bên tham gia QHLĐ, mà nguyên nhân chủ yếu cơ bản làm phát sinh TCLĐTT về lợi ích, chính là việc NSDLĐ không đảm bảo thực hiện quyền, nghĩa vụ đã cam kết trong TƯLĐTT.