Chương 1: Một số van dé lý luận về chế định giám hộ Chương 2: Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về chế định giám hộ Chương 3: Những bat cập của chế định giám hộ và một số kiến nghị hoàn thiện chế định giám hộ trong pháp luật dân sự Việt Nam 8. Ý nghĩa của Luận văn Luận văn góp phần nghiên cứu một cách toàn diện chế định giám hộ trong pháp luật Việt Nam, đồng thời, đưa ra một số kiến nghị sửa đối, bố sung nhằm hoàn thiện chế định giám hộ, đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả áp dụng của chế định này trong thực tiễn. Luận văn được xem là một tài liệu tham khảo cho sinh viên phục vụ công tác học tập nghiên cứu khoa học và cho cơ quan, tổ chức trong quá trình xây dựng, hoàn thiện pháp luật. MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE GIÁM HO 1.
Khai niệm, đặc điểm, ý nghĩa của giám hộ 1. Khai niệm giảm hộ Khái niệm giám hộ đã xuất hiện từ rất sớm, ngay từ thời La Mã cô đại giám hộ đã là một chế định quan trọng. Trong Luật La mã đã có các quy định về giám hộ, trong đó, người La mã quy định: Trẻ em dưới 7 tuổi (infantes) không có năng lực hành vi không được tham gia và thực hiện các giao dịch dân sự, trừ những giao dịch phục vụ cho nhu cầu cần thiết và phù hợp với lứa tuôi. Luật quy định trẻ em trong độ tuôi này buộc phải đặt dưới sự giám hộ của người trưởng thành (Tutor).
Đối với người từ 7 tudi đến 14 tuổi đối với nam, 12 tuổi đối với nữ thì có năng lực hành vi một phan, được tham gia thực hiện những giao dịch bảo đảm, duy trì được lợi ích của mình. Khi thực hiện một giao dịch mà phát sinh một nghĩa vụ hay cham dứt một quyền phải được sự đồng ý của gia chủ hoặc người đỡ đầu vào thời điểm thực hiện giao dịch đó. Như vậy, những người ở độ tuôi trên phải đặt dưới sự giám hộ. Việc giám hộ không áp dụng đối với người đã trưởng thành (người có Sui Iuris) mà chỉ áp dụng đối với Sui Iuris chưa có đủ năng lực hành vi dân sự, cần phải có người đã trưởng thành là người giám hộ.
Luật La mã còn quy định những người tuy trưởng thành (đủ 14 tuổi đối với nam, đủ 12 tuôi đối với nữ) mà mắc bệnh tâm thần là những người không có năng lực hành vi, vì họ không thê nhận thức và làm chủ hành vi của mình trong các quan hệ xã hội, họ được gọi là furiosi. Và những người được xác định là furlosi đều phải đặt dưới sự giám hộ của người trưởng thành khác (curatela) [27]. Có thể thấy rằng, ngay từ thời La mã, pháp luật về giám hộ đã được quy định một cách toàn diện đầy đủ, qua đó, thé hiện trình độ pháp lý tương đối cao của người La mã cô dai. Ngày nay, giám hộ trở thành một chế định quan trọng pháp luật dân sự của các nước, chế định này được quy định trong các văn bản pháp luật khác nhau, có thé là Bộ luật dân sự nhưng cũng có thể là Luật hôn nhân và gia đình.
Ở Việt Nam, giám hộ được quy định trong Bộ luật dân sự. Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đã bỏ các quy định về đỡ đầu giữa các thành viên trong gia đình và vận dụng những nguyên tắc chung trong Bộ luật dân sự để giải quyết van dé nay [21]. Khái niệm giám hộ có thể được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau: Về mặt ngôn ngữ đơn thuần thì từ “giám” được hiểu là sự theo dõi kiểm tra, đôn đốc và từ “ hộ” được hiểu là bảo vệ, gìn giữ. Giám hộ là một danh từ có nghĩa là người có đủ tư cách trông nom một người thanh thiếu niên chưa trưởng thành [12].
Về mặt thuật ngữ Luật dân sự thì giám hộ (tutelelt — tutorship) là việc chăm sóc quản lý tài sản, thực hiện các quyền dân sự, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ [10]. Về phương diện Luật học thì giám hộ là chế định tổng hop của nhiều ngành luật. Các quy định của giám hộ trước tiên được quy định như là một chế định của Luật hôn nhân và gia đình. Ngoài ra, chế định giám hộ điều chỉnh các quan hệ xã hội với mục đích nhằm khắc phục tình trạng không tương đồng giữa sự bình dang về năng lực pháp luật với không bình đăng về năng lực hành vi dân sự của những người có năng lực hành vi một phan, những người không có năng lực hành vi, bị mat năng lực hành vi.
Những quy định của chế định này xác định việc quản lý tài sản, thực hiện các quyền và nghĩa vụ về tài sản của người được giám hộ. Ngoài ra, chế định giám hộ còn có những quy định mang tính hành chính như các quan hệ về cử người giám hộ, giám sát việc giám hộ.95,96] Với nội dung đó, khái niệm giám hộ được pháp luật dân sự hiện hành quy định như sau: Theo quy định tại Điều 58 Bộ luật dân sự 2005 thì Giám hộ là việc cá nhân, tổ chức (sau đây gọi chung là người giám hộ) được pháp luật quy định hoặc được cử dé thực hiện việc chăm sóc và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự (sau đây gọi chung là người được giám hộ). Từ những phân tích như trên có thể hiểu khái niệm giám hộ như sau: Giám hộ là một quan hệ được xác lập giữa người giám hộ và người được giám hộ, trong đó người giảm hộ có quyền đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ và có nghĩa vụ chăm sóc giáo dục người được giám hộ. Đặc điểm của giám hộ - Thứ nhất, trong quan hệ giám hộ thì bên được giám hộ luôn là cá nhân và là người yếu thé.
Người được giám hộ là người chưa thành niên không còn cha, mẹ, không xác định được cha, mẹ hoặc cha, mẹ đều mắt năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, bi Tòa án hạn chế quyền của cha, mẹ hoặc cha, mẹ không có điều kiện chăm sóc, giáo dục người chưa thành niên đó và nếu cha, mẹ có yêu cầu; người mất năng lực hành vi dân sự. Những người chưa thành niên thuộc diện ké trên và người mat năng lực hành vi dân sự không thê tự mình thực hiện được các quyền và nghĩa vụ của mình cho nên cần phải có người khác thực hiện thay nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của người được giám hộ. Người giám hộ có thé là cá nhân hoặc tổ chức. Trong giám hộ đương nhiên thì người giám hộ được xác định theo quan hệ hôn nhân, huyết thống, còn trong quan hệ giám hộ cử thì người giám hộ có thé là bất cứ cá nhân, pháp nhân nào có đủ điều kiện do pháp luật quy định đều có thé là người giám hộ.
- Thứ hai, trong quan hệ giám hộ thì chủ thể là người giám hộ chỉ có thể là một người trừ trường hợp cha mẹ, ông bà. Người giám hộ là người đại diện trong quan hệ với người thứ ba, nếu nhiều người giám hộ cho một người mà trong quan hệ đại diện không thỏa thuận được về việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người giám hộ thì quan hệ đại diện không thể thực hiện được. Còn giám hộ là cha mẹ, ông bà là những người cùng có mối quan tâm đến con cháu, cùng có nghĩa vụ chăm sóc con, cháu, do vậy giữa họ không có sự mâu thuẫn về lợi ích, cho nên việc đại diện sẽ thực hiện được. - Thứ ba, việc giám hộ làm phát sinh quan hệ đại diện của người giám hộ với người thứ ba.
Trường hợp cần thiết phải tham gia vào giao dịch dân sự để đem lại lợi ich cho người được giám hộ, thì người giám hộ nhân danh người được giám hộ tham gia giao dịch với người thứ ba. Đối với quan hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyên, thì người giám hộ nhân danh người được giám hộ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người được giám hộ. Ngoài ra, người giám hộ đại diện cho người được giám hộ trong các quan hệ tố tụng dân sự, hành chính. - Thứ tư, nghĩa vụ chính của người giám hộ là chăm sóc người được giám hộ.
Đối với người được giám hộ có tài sản thì ngoài các nghĩa vụ quản lý tài sản của người được giám hộ, thì nghĩa vụ chính của người giám hộ là chăm sóc người được giám hộ. Chăm sóc là quan tâm đến cuộc sống vật chất và tinh than của người giám hộ. Người giám hộ phải bao đảm cho người được giám hộ có cuộc sống vật chất và tinh thần tốt nhất có thé. Đối với người được giám hộ không có tài sản thì người giám hộ phải yêu cầu những người có nghĩa vụ nuôi đưỡng cung cấp vật chất, tài chính phù hợp với khả năng của họ.
Nghĩa vụ chăm sóc của người giám hộ theo quy định trong pháp luật dân sự tương tự như nghĩa vu “chăm nom” giao dục của người đỡ dau trong Luật Hôn nhân va Gia đình 1986. Chế định giám hộ được áp dụng cho các quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình cho nên trong các Luật Hôn nhân và Gia đình 2000 và 2014 không quy định về đỡ đầu nữa. Giữa giám hộ và đỡ đầu có nhiêu điêm tương đông và khác biệt như sau: Giám hộ là quan hệ dân sự, cho nên có thể được xác lập với bất cứ cá nhân nào theo điều kiện luật quy định. Tuy nhiên, việc đỡ đầu chỉ được áp dụng trong Luật Hôn nhân và Gia đình.
Về nghĩa vụ của người đỡ đầu thì trong Luật hôn nhân và gia đình 1986 đã quy định tại Điều 46: Việc đỡ đầu được thực hiện trong trường hợp cần bảo đảm việc chăm nom, giáo dục và bảo vệ quyền lợi của người chưa thành niên mà cha mẹ đã chết, hoặc tuy cha mẹ còn sống nhưng không có điều kiện dé làm những nhiệm vụ đó [16]. Thực chất của đỡ đầu là giám hộ đương nhiên đối với người chưa thành niên. Vì thế quyền và nghĩa vụ của người đỡ đầu tương tự như người giám hộ đương nhiên. Ý nghĩa của giám hộ Với mục đích của việc giám hộ là đảm bảo cho những người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự được chăm sóc giáo dục, được bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp, do đó, chế định giám hộ mang nhiều ý nghĩa sâu sắc về mặt pháp lý và xã hội.