Tổng quan luận án

Đề tài luận án tiến sĩ luật học: “Pháp luật giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích ở Việt Nam” do nghiên cứu sinh Vũ Thị Thu Hiền thực hiện tại Trường Đại học Luật Hà Nội (thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Tư pháp), dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Thị Kim Phụng và TS. Đỗ Ngân Bình. Luận án thuộc chuyên ngành Luật Kinh tế, mã số chuyên ngành: 62 38 01 07, hoàn thành năm 2016.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Tranh chấp lao động (TCLĐ) là hiện tượng kinh tế - xã hội phát sinh trong quá trình xác lập, duy trì, thay đổi và chấm dứt quan hệ lao động. Trong nền kinh tế thị trường tại Việt Nam, tranh chấp lao động tập thể (TCLĐTT) về lợi ích có xu hướng gia tăng về số lượng và phức tạp về tính chất. Theo số liệu thống kê của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội:

  • Giai đoạn 1995 đến hết năm 2005: Cả nước ghi nhận 984 cuộc đình công, trong đó hơn 90% xuất phát từ tranh chấp quyền (tập thể lao động đấu tranh đòi người sử dụng lao động thực hiện đúng các quyền đã được pháp luật quy định hoặc các bên đã thỏa thuận).
  • Giai đoạn 2006 đến hết tháng 6/2015: Toàn quốc xảy ra hơn 4.000 cuộc đình công, phần lớn phát sinh từ việc tập thể lao động (TTLĐ) yêu cầu đáp ứng các yêu sách mới về mặt lợi ích.

Thực tiễn từ năm 2006 đến hết tháng 4/2013 và sau khi Bộ luật Lao động (BLLĐ) năm 2012 có hiệu lực cho thấy: khi phát sinh tranh chấp với người sử dụng lao động (NSDLĐ), biện pháp đầu tiên TTLĐ lựa chọn là đình công thay vì sử dụng như biện pháp cuối cùng theo quy định. Điều này dẫn tới thực trạng 100% các cuộc đình công phát sinh từ TCLĐTT về lợi ích sau thời điểm BLLĐ năm 2012 có hiệu lực đều diễn ra tự phát, không tuân thủ trình tự, thủ tục luật định.

Nguyên nhân bắt nguồn từ sự yếu kém của tổ chức công đoàn cơ sở, nhận thức pháp luật hạn chế của người lao động (NLĐ), phương thức xử lý mang tính chắp vá, dàn xếp tức thời của cơ quan nhà nước, và đặc biệt là sự bất cập, thiếu khả thi của hệ thống quy định pháp luật về giải quyết TCLĐTT về lợi ích. Dù BLLĐ năm 2012 đã có những sửa đổi nhất định (như quy định Hòa giải viên lao động là chủ thể duy nhất hòa giải tại cơ sở, nhiệm kỳ 5 năm do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm), các quy định hiện hành vẫn chưa thể chế hóa đầy đủ quan điểm cải cách tư pháp, chưa kế thừa hợp lý kinh nghiệm trong nước và quốc tế. Do đó, việc nghiên cứu toàn diện nhằm hoàn thiện pháp luật giải quyết TCLĐTT về lợi ích là yêu cầu cấp thiết.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích của luận án là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về giải quyết TCLĐTT về lợi ích và đánh giá thực trạng pháp luật lao động Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện hệ thống lý luận và quy định pháp luật trên cả hai phương diện: điều chỉnh pháp luật và áp dụng pháp luật.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định gồm 5 nội dung:

  1. Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài để xác định khoảng trống khoa học.
  2. Làm sáng tỏ cơ sở lý luận về TCLĐTT về lợi ích và pháp luật giải quyết TCLĐTT về lợi ích (khái niệm, đặc điểm, mục đích, nội dung điều chỉnh).
  3. Phân tích, đánh giá thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam về nguyên tắc, chủ thể có thẩm quyền và trình tự, thủ tục giải quyết.
  4. Luận giải yêu cầu khách quan và sự cần thiết của việc hoàn thiện pháp luật trong bối cảnh kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.
  5. Đề xuất kiến nghị cụ thể sửa đổi, bổ sung các quy định của BLLĐ năm 2012 và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề giải quyết TCLĐTT về lợi ích dưới góc độ khoa học pháp lý chuyên ngành Luật Kinh tế và Luật Lao động, bao gồm: các nguyên tắc giải quyết; hệ thống chủ thể có thẩm quyền; trình tự, thủ tục giải quyết theo BLLĐ năm 2012, các văn bản hướng dẫn thi hành và quy định của một số quốc gia, tiêu chuẩn lao động quốc tế.
  • Phạm vi nghiên cứu: Luận án tập trung vào hệ thống pháp luật Việt Nam điều chỉnh TCLĐTT về lợi ích, đồng thời mở rộng so sánh có chọn lọc với quy định của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và pháp luật lao động của một số quốc gia (Lào, Indonesia, Hoa Kỳ, Philippines, Campuchia, Liên bang Nga, El Salvador...).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu đã công bố

Luận án tiến hành phân tích và phân loại các công trình khoa học theo từng nhóm chủ đề và thời gian công bố:

Nhóm công trình Tác giả & Năm công bố Tên công trình / Nội dung chính
Tác giả quốc tế Chang Hee Lee (2006) Tham luận “Quan hệ lao động và vấn đề giải quyết TCLĐ tại Việt Nam” (Dự án ILO/Việt Nam); chỉ ra tính chất đình công tự phát và khuyến nghị thúc đẩy thương lượng tập thể (TLTT), đối thoại xã hội.
Eladio Daya (1995) Chuyên khảo “Conciliation and Arbitration Procedures in Labour Disputes: A Comparative study” (dịch: Thủ tục hòa giải và trọng tài các TCLĐ); phân tích cơ chế hòa giải, trọng tài tự nguyện quốc tế.
Bài báo khoa học trong nước Trần Thị Thúy Lâm (1996) “Một số vấn đề về TCLĐCN và TCLĐTT”; xác định 3 tiêu chí phân biệt (chủ thể, nội dung, tính chất).
Nguyễn Hữu Chí (1997, 2002) Các bài viết về hòa giải, trọng tài theo BLLĐ năm 1994 và điểm mới của Luật sửa đổi năm 2002.
Nguyễn Thị Kim Phụng (1999, 2004) Đề xuất tiêu chí định lượng nhận diện TCLĐTT (từ 10 NLĐ trở lên, chiếm >30% lao động đơn vị hoặc >50% bộ phận); kiến nghị thủ tục trong Bộ luật Tố tụng dân sự.
Lưu Bình Nhưỡng (2001, 2003) “Về TCLĐTT và việc giải quyết TCLĐTT”, “Bàn thêm về TCLĐ”; nhận diện dấu hiệu số đông, mục đích chung, quan hệ lao động.
Đỗ Ngân Bình (2003, 2007) Kiến nghị sửa đổi Pháp lệnh thủ tục giải quyết TCLĐ và đánh giá tính khả thi của Luật sửa đổi năm 2006.
Nguyễn Văn Bình (2006) Đề xuất cơ chế hòa giải tiền tố tụng, thay thế Hội đồng hòa giải cơ sở bằng cá nhân Hòa giải viên lao động (HGVLĐ).
Trần Hoàng Hải & Đinh Thị Chiến (2010) “Hoàn thiện pháp luật thủ tục giải quyết TCLĐTT”; kiến nghị bỏ thẩm quyền của Chủ tịch UBND cấp huyện, hoàn thiện Hội đồng Trọng tài lao động (HĐTTLĐ).
Đào Xuân Hội (2012) “Một số vấn đề về phân loại TCLĐ và thẩm quyền xử lý TCLĐTT về quyền và lợi ích” theo BLLĐ năm 2012.
Lê Thị Hoài Thu (2015) “Bất cập trong áp dụng các quy định pháp luật về thủ tục giải quyết TCLĐTT ở Việt Nam hiện nay”.
Giáo trình, sách chuyên khảo ĐH Luật Hà Nội, ĐHQG Hà Nội, ĐH Huế, Viện ĐH Mở Giáo trình Luật Lao động phân tích cấu trúc tranh chấp và giải quyết tranh chấp chung.
Trần Hoàng Hải (Chủ biên, 2011) Sách chuyên khảo “Pháp luật về giải quyết TCLĐTT - kinh nghiệm của một số nước đối với Việt Nam” (Nxb Chính trị Quốc gia).
Luận văn, Luận án, Đề tài Lưu Bình Nhưỡng (ThS 1996, TS 2001) “Tài phán lao động theo quy định của pháp luật Việt Nam”.
Nguyễn Xuân Thu (TS 2008) “Cơ chế ba bên trong việc giải quyết TCLĐ ở Việt Nam”.
Nguyễn Việt Hoàng (2005), Nguyễn Thị Bích (2007), Trịnh Thị Thu Hà (2009), Hoàng Thị Minh (2011) Nghiên cứu so sánh với Thái Lan, Trung Quốc, Thụy Điển về TCLĐ, thỏa ước lao động tập thể (TƯLĐTT).

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết

Các công trình trên chủ yếu tập trung vào TCLĐ nói chung hoặc TCLĐTT về quyền; phần lớn được thực hiện trước thời điểm BLLĐ năm 2012 có hiệu lực. Một số bài viết sau năm 2012 mới chỉ dừng lại ở phạm vi bài báo tạp chí hoặc bình luận quy định đơn lẻ. Chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, độc lập và có hệ thống về cơ sở lý luận và thực trạng pháp luật giải quyết TCLĐTT về lợi ích ở Việt Nam dưới tác động của BLLĐ năm 2012 và các tiêu chuẩn lao động quốc tế.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Hệ thống lý thuyết: Vận dụng lý luận khoa học pháp lý về quan hệ lao động tập thể, học thuyết kinh tế thị trường, các nguyên tắc của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) như Tuyên ngôn Philadelphia (1944), Khuyến nghị số 92 (1951) về hòa giải và trọng tài tự nguyện, Công ước số 98 (1949) về quyền tổ chức và thương lượng tập thể, Công ước số 154 (1981) về thương lượng tập thể.
  • Khung khái niệm: Xác lập mối liên hệ giữa bản chất kinh tế - xã hội của tranh chấp lợi ích với các phương thức giải quyết thông qua thương lượng, trung gian/hòa giải, trọng tài tự nguyện và quyền đình công.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án áp dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin kết hợp với đường lối của Đảng và Nhà nước về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, cải cách tư pháp. Các phương pháp nghiên cứu định tính cụ thể gồm:

  • Phương pháp hồi cứu tài liệu: Thu thập, hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật, sách chuyên khảo, bài báo khoa học và báo cáo của các cơ quan quản lý nhà nước qua các giai đoạn lịch sử.
  • Phương pháp phân tích pháp lý: Mổ xẻ các điều khoản của BLLĐ năm 2012, các văn bản hướng dẫn thi hành và án lệ, thực tiễn áp dụng để nhận diện các quy định mâu thuẫn, chồng chéo.
  • Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu các quy định pháp luật lao động Việt Nam qua các thời kỳ (1994, 2002, 2006, 2012) và so sánh với pháp luật của các quốc gia khác (Hoa Kỳ, Indonesia, Lào, Philippines, Campuchia, Nga, El Salvador...).
  • Phương pháp chứng minh và tổng hợp: Sử dụng các dẫn chứng, số liệu thống kê thực tế để chứng minh các lập luận và khái quát hóa thành các kết luận khoa học ở cuối mỗi chương.
  • Phương pháp dự báo khoa học: Dự báo xu hướng biến động của tranh chấp lao động và đề xuất mô hình hoàn thiện pháp luật phù hợp với yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu pháp luật giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích ở Việt Nam

Chương này điểm luận chi tiết tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước từ năm 1994 đến thời điểm bảo vệ luận án (2016). Tác giả phân tích các luận điểm về nhận diện TCLĐTT (tiêu chí chủ thể, mục đích, nội dung, tính chất), vai trò của cơ chế ba bên, tài phán lao động và các phương thức giải quyết (thương lượng, hòa giải, trọng tài, đình công). Chương 1 khẳng định sự thiếu vắng một công trình nghiên cứu chuyên biệt, chuyên sâu về khía cạnh pháp lý điều chỉnh việc giải quyết TCLĐTT về lợi ích trong bối cảnh BLLĐ năm 2012.

Chương 2: Một số vấn đề lý luận về tranh chấp lao động tập thể về lợi ích và pháp luật giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích

Chương 2 làm rõ các nền tảng lý luận cơ bản:

  1. Bản chất hiện tượng khách quan: Trong nền kinh tế thị trường, xung đột lợi ích giữa NLĐ và NSDLĐ là tất yếu do sự đối lập về mặt kinh tế (tối đa hóa chi phí tiền lương và phúc lợi của NLĐ đối lập với mục tiêu tối ưu hóa lợi nhuận của NSDLĐ).

  2. Khái niệm và sự khác biệt: Luận án chỉ ra sự bất cập trong định nghĩa của pháp luật Việt Nam và Lào khi chỉ coi TCLĐTT về lợi ích là yêu sách từ phía tập thể lao động. Tác giả khẳng định định nghĩa của Indonesia, Hoa Kỳ, El Salvador là phù hợp hơn, theo đó cả NSDLĐ cũng có thể là chủ thể khởi xướng việc thay đổi điều kiện lao động hoặc sửa đổi TƯLĐTT.

    • Định nghĩa của luận án: TCLĐTT về lợi ích là tranh chấp phát sinh từ bất đồng giữa một bên là một hoặc nhiều NSDLĐ (hoặc tổ chức đại diện) với một bên là TTLĐ (hoặc tổ chức đại diện) liên quan đến việc xác lập điều kiện lao động mới; thay đổi điều kiện lao động đã đạt được; thỏa thuận để lựa chọn gia hạn thời hạn của TƯLĐTT hay ký kết TƯLĐTT mới khi thỏa ước sắp hết hạn; lựa chọn tiếp tục thực hiện, sửa đổi, bổ sung TƯLĐTT cũ hay ký kết TƯLĐTT mới khi thay đổi cơ cấu, hình thức sở hữu doanh nghiệp.
  3. Ba đặc điểm cốt lõi của TCLĐTT về lợi ích:

    • Phát sinh khi không có sự vi phạm các quy định của pháp luật lao động hay các cam kết trong TƯLĐTT/thỏa thuận đang có hiệu lực. Quyền và lợi ích hợp pháp của các bên chưa bị xâm phạm.
    • Mục đích hướng tới việc đạt được thỏa thuận chung mới cho quan hệ lao động tập thể trong tương lai.
    • Tính chất phức tạp, khó giải quyết do không có quy phạm pháp luật định lượng rõ ai đúng - ai sai; đòi hỏi giải quyết dựa trên đàm phán, cân bằng kinh tế, lẽ công bằng và tình hình sản xuất kinh doanh.
  4. Mục đích điều chỉnh pháp luật:

    • Hướng việc giải quyết tranh chấp diễn ra trong hòa bình, hạn chế phản ứng công nghiệp (đình công, đóng cửa doanh nghiệp), thiết lập các "giai đoạn làm nguội" (cooling-off period - như quy định 30 ngày ở Philippines, 7 ngày ở Campuchia).
    • Thúc đẩy quyền thương lượng tập thể và xem hòa giải, trọng tài tự nguyện là sự nối dài của quá trình thương lượng.
    • Đảm bảo hài hòa lợi ích của các bên với lợi ích công cộng và trật tự an toàn xã hội.

Chương 3: Thực trạng pháp luật giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích ở Việt Nam

Chương 3 phân tích thực trạng pháp luật thực định theo BLLĐ năm 2012 và thực tiễn áp dụng qua 3 trụ cột:

  1. Hệ thống nguyên tắc giải quyết:

    • Tôn trọng, bảo đảm quyền tự quyết định của các bên.
    • Đảm bảo thực hiện thương lượng trực tiếp nhằm giải quyết hài hòa lợi ích, ổn định sản xuất kinh doanh.
    • Bảo đảm hòa giải, trọng tài trên cơ sở tôn trọng quyền, lợi ích các bên và lợi ích xã hội.
    • Giải quyết công khai, minh bạch, khách quan, kịp thời, nhanh chóng.
    • Bảo đảm sự tham gia của đại diện các bên.
  2. Chủ thể có thẩm quyền giải quyết:

    • Hòa giải viên lao động: Là chủ thể hòa giải bắt buộc duy nhất tại cơ sở (thay cho Hội đồng hòa giải lao động cơ sở trước đây), do Chủ tịch UBND cấp tỉnh bổ nhiệm với nhiệm kỳ 5 năm. Tuy nhiên, tính độc lập, chuyên nghiệp và cơ chế lựa chọn HGVLĐ của các bên còn hạn chế.
    • Hội đồng trọng tài lao động: Về bản chất theo BLLĐ năm 2012, HĐTTLĐ chỉ thực hiện chức năng hòa giải tiếp theo mà không có quyền đưa ra phán quyết trọng tài mang tính ràng buộc, làm suy giảm bản chất tài phán của thiết chế trọng tài.
    • Chủ tịch UBND cấp tỉnh: Có thẩm quyền giải quyết TCLĐTT về lợi ích tại các doanh nghiệp không được đình công.
  3. Trình tự, thủ tục giải quyết:

    • Tại doanh nghiệp được đình công: Quy trình gồm 2 bước bắt buộc: Hòa giải tại HGVLĐ $\rightarrow$ Giải quyết tại HĐTTLĐ. Nếu hòa giải không thành hoặc HĐTTLĐ không giải quyết đúng thời hạn thì TTLĐ mới có quyền tiến hành thủ tục đình công. Thủ tục thực tế rườm rà, tốn thời gian, dẫn đến việc NLĐ bỏ qua trình tự pháp luật và đình công tự phát.
    • Tại doanh nghiệp không được đình công: Trình tự giải quyết thông qua Chủ tịch UBND cấp tỉnh.

Chương 4: Hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp lao động tập thể về lợi ích ở Việt Nam

Chương 4 xác định các yêu cầu và giải pháp hoàn thiện:

  1. Các yêu cầu cơ bản: Khắc phục tính bất hợp lý và thiếu khả thi; hướng tới quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ; tương thích với các tiêu chuẩn lao động quốc tế của ILO trong bối cảnh hội nhập.
  2. Các đề xuất sửa đổi cụ thể:
    • Sửa đổi định nghĩa TCLĐTT về lợi ích tại BLLĐ: thừa nhận quyền khởi xướng của cả NSDLĐ và mở rộng phạm vi tranh chấp liên quan đến sửa đổi, gia hạn TƯLĐTT khi tái cơ cấu doanh nghiệp.
    • Hoàn thiện thể chế chủ thể giải quyết: chuyên nghiệp hóa đội ngũ HGVLĐ, thiết lập quyền để các bên tranh chấp được lựa chọn HGVLĐ; tái cơ cấu HĐTTLĐ thành cơ quan tài phán có quyền ra phán quyết trọng tài; phân định rõ vai trò quản lý nhà nước của Chủ tịch UBND cấp tỉnh.
    • Tinh gọn trình tự, thủ tục: Đơn giản hóa các bước giải quyết, quy định tính chất tự nguyện của thủ tục hòa giải/trọng tài; bổ sung cơ chế công nhận và đảm bảo giá trị thi hành pháp lý đối với biên bản hòa giải thành và quyết định giải quyết của cơ quan có thẩm quyền.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án mang lại các đóng góp khoa học mới trên cả phương diện lý luận và thực tiễn:

Đóng góp về mặt lý luận

  • Hoàn thiện hệ thống lý luận chuyên sâu về TCLĐTT về lợi ích trong khoa học luật lao động Việt Nam; phân định rõ ràng giữa tranh chấp quyền và tranh chấp lợi ích dựa trên bản chất kinh tế và tính hợp pháp.
  • Đưa ra định nghĩa khoa học toàn diện về TCLĐTT về lợi ích, khắc phục tính phiến diện của định nghĩa trong BLLĐ năm 2012 (vốn chỉ quy định tranh chấp do TTLĐ khởi xướng).
  • Khái quát hóa mục đích, nguyên tắc và nội dung của pháp luật giải quyết TCLĐTT về lợi ích dựa trên sự tương thích với các công ước và khuyến nghị của ILO.

Đóng góp về mặt thực tiễn và giải pháp hoàn thiện

  • Chỉ ra nguyên nhân sâu xa dẫn đến tình trạng 100% các cuộc đình công về lợi ích tại Việt Nam diễn ra tự phát là do rào cản từ quy định thủ tục cứng nhắc và sự suy giảm vai trò thực chất của các thiết chế hòa giải, trọng tài.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp lập pháp sửa đổi BLLĐ năm 2012:
    • Tái định nghĩa TCLĐTT về lợi ích;
    • Quy định cơ chế cho phép các bên tự lựa chọn HGVLĐ;
    • Trao thẩm quyền phán quyết thực chất cho HĐTTLĐ;
    • Quy định giá trị pháp lý bắt buộc thi hành của biên bản hòa giải thành;
    • Thiết kế trình tự giải quyết tranh chấp linh hoạt, rút ngắn thời gian làm thủ tục nhằm ngăn ngừa đình công tự phát.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung nghiên cứu dưới góc độ khoa học pháp lý chuyên ngành Luật Kinh tế, do đó phạm vi tiếp cận chủ yếu là phân tích chuẩn tắc các quy định pháp luật và thực tiễn thủ tục giải quyết; chưa đi sâu vào phân tích định lượng xã hội học pháp luật trên diện rộng đối với hành vi tâm lý của các bên tranh chấp.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Tiếp tục đánh giá tác động của các cam kết quốc tế trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới đối với cơ chế giải quyết tranh chấp lao động.
    • Nghiên cứu hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp lao động tập thể trong bối cảnh đa tổ chức đại diện người lao động tại doanh nghiệp.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị ứng dụng cao:

  • Cơ quan lập pháp và quản lý nhà nước: Là tài liệu tham khảo cho Ban soạn thảo các dự án sửa đổi BLLĐ, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam trong việc xây dựng chính sách quan hệ lao động và cải cách thủ tục giải quyết đình công.
  • Cơ sở nghiên cứu và đào tạo: Cung cấp tài liệu tham khảo cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Luật Lao động, Luật Kinh tế tại các trường đại học luật.
  • Thực tiễn doanh nghiệp và công đoàn: Hỗ trợ cán bộ công đoàn cơ sở, tổ chức đại diện NSDLĐ và các chuyên gia nhân sự nắm vững quy trình pháp lý để chủ động phòng ngừa và xử lý tranh chấp lao động tập thể.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo luận án, điểm khác biệt bản chất giữa TCLĐTT về quyền và TCLĐTT về lợi ích là gì?
Trả lời: TCLĐTT về quyền phát sinh khi có hành vi bị coi là vi phạm pháp luật lao động, TƯLĐTT hoặc quy chế đã có hiệu lực (quyền đã được xác lập bị xâm phạm), mục đích là yêu cầu thực hiện đúng cam kết. Ngược lại, TCLĐTT về lợi ích phát sinh khi không có sự vi phạm pháp luật hay thỏa ước; các bên tranh chấp nhằm xác lập điều kiện lao động mới hoặc thay đổi thỏa thuận cũ cho tương lai.

2. Vì sao luận án cho rằng định nghĩa về TCLĐTT về lợi ích trong BLLĐ năm 2012 còn phiến diện?
Trả lời: BLLĐ năm 2012 chỉ quy định TCLĐTT về lợi ích là tranh chấp phát sinh từ việc TTLĐ yêu cầu xác lập các điều kiện lao động mới. Luận án chỉ ra rằng trong thực tế kinh doanh, NSDLĐ cũng có nhu cầu khởi xướng thay đổi điều kiện lao động (như giảm lương/thưởng do kinh doanh khó khăn hoặc sửa đổi TƯLĐTT khi tái cơ cấu doanh nghiệp), do đó định nghĩa luật định đã bỏ sót quyền khởi xướng của NSDLĐ.

3. Nguyên nhân chính khiến 100% cuộc đình công về lợi ích sau BLLĐ năm 2012 đều là tự phát?
Trả lời: Do tổ chức công đoàn cơ sở còn yếu kém; nhận thức pháp luật của NLĐ chưa đầy đủ; cơ quan nhà nước xử lý theo hướng thu xếp tình thế; và đặc biệt là quy trình giải quyết luật định qua HGVLĐ và HĐTTLĐ quá rườm rà, kéo dài, trong khi HĐTTLĐ không có quyền ra phán quyết tài phán thực chất, khiến NLĐ chọn đình công ngay từ đầu để gây sức ép.

4. Luận án đề xuất đổi mới thẩm quyền của Hội đồng Trọng tài lao động như thế nào?
Trả lời: Luận án kiến nghị khôi phục đúng bản chất tài phán của HĐTTLĐ, trao cho thiết chế này quyền xử lý và ban hành phán quyết trọng tài có tính ràng buộc thi hành đối với vụ việc, thay vì chỉ thực hiện chức năng hòa giải trung gian như quy định tại BLLĐ năm 2012.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Vũ Thị Thu Hiền là công trình nghiên cứu hệ thống và chuyên sâu về pháp luật giải quyết TCLĐTT về lợi ích tại Việt Nam. Tác phẩm đã làm rõ bản chất lý luận, chỉ ra những bất cập thực tiễn của BLLĐ năm 2012 và đề xuất các giải pháp lập pháp khả thi. Kết quả nghiên cứu đóng góp thiết thực vào việc xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ và thúc đẩy quá trình hội nhập tiêu chuẩn lao động quốc tế của Việt Nam.