Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Thực hiện pháp luật về lao động đối với người chấp hành án phạt tù ở Việt Nam" được nghiên cứu sinh Nguyễn Công Long thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS. Trần Ngọc Đường, bảo vệ tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh năm 2020, thuộc chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật (mã số: 9 38 01 06).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Giáo dục cải tạo nhằm đưa người phạm tội trở lại đời sống xã hội là mục tiêu nhân văn trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Theo Điều 3 Bộ luật Hình sự, người bị kết án phạt tù phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ, phải lao động, học tập để trở thành người có ích cho xã hội. Trong các chế độ áp dụng đối với người chấp hành án phạt tù (ăn, mặc, ở, chăm sóc y tế, lao động, học nghề, học văn hóa, vui chơi giải trí), lao động có ý nghĩa đặc biệt khi chiếm thời lượng nhiều nhất về mặt thời gian vật chất và chi phối trực tiếp quá trình cải tạo, chuẩn bị tái hòa nhập cộng đồng.

Thống kê giai đoạn 2011 - 2018 cho thấy, mỗi năm có từ 61.112 người bị kết án phạt tù được đưa đi chấp hành án, tổng số người chấp hành án phạt tù tại các trại giam thường xuyên dao động từ 124.847 người. Tuy nhiên, thực tiễn tổ chức lao động tại các trại giam còn bộc lộ nhiều hạn chế; nhận thức của người có thẩm quyền trong thi hành án phạt tù về tổ chức lao động chưa đầy đủ. Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đã chỉ rõ hạn chế lớn nhất là khâu thực hiện pháp luật, từ đó định hướng chuyển trọng tâm sang đẩy mạnh tổ chức thực thi pháp luật.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là: các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận vấn đề lao động của phạm nhân dưới góc độ áp dụng pháp luật đơn thuần của cơ quan quản lý thi hành án, chưa nghiên cứu một cách hệ thống dưới giác độ thực hiện pháp luật với đầy đủ 4 hình thức và đánh giá tương quan hai chiều giữa cơ quan có thẩm quyền và người chấp hành án phạt tù trong bối cảnh thực thi các cam kết quốc tế về quyền con người và lao động.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ toàn diện những vấn đề lý luận và thực tiễn thực hiện pháp luật về lao động đối với người chấp hành án phạt tù ở Việt Nam; từ đó đề xuất quan điểm, giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về lao động, pháp luật về thi hành án hình sự, bảo đảm tuân thủ các điều ước quốc tế về chống lao động cưỡng bức.

Luận án xác định 6 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Tập hợp, phân tích tài liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu.
  2. Xây dựng khái niệm, hình thức, vai trò, đặc điểm thực hiện pháp luật về lao động đối với người chấp hành án phạt tù.
  3. Phân tích nội dung, yêu cầu, các yếu tố bảo đảm thực hiện pháp luật về lao động đối với người chấp hành án phạt tù.
  4. Nghiên cứu, đối chiếu, so sánh thực hiện pháp luật về lao động đối với người chấp hành án phạt tù ở một số nước trên thế giới nhằm chọn lọc kinh nghiệm vận dụng.
  5. Phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật, làm rõ kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân.
  6. Xác định quan điểm và đề xuất hệ thống giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về lao động đối với người chấp hành án phạt tù tại Việt Nam.

Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu

Luận án đặt ra giả thuyết: Lao động đối với người chấp hành án phạt tù là hiện tượng lịch sử gắn liền với nhà nước và pháp luật. Môi trường trại giam là môi trường giáo dục đặc biệt; nếu không có nhận thức và cơ chế thực hiện pháp luật phù hợp, việc tổ chức lao động dễ dẫn đến nguy cơ xâm phạm quyền con người hoặc biến tướng thành công cụ bóc lột, trừng phạt thuần túy.

Luận án giải quyết 8 câu hỏi nghiên cứu:

  1. Có sự khác biệt như thế nào giữa quan hệ pháp luật lao động theo quy định của Bộ luật Lao động và quan hệ pháp luật lao động trong thi hành án phạt tù? Sự khác biệt này chi phối quyền và nghĩa vụ của người chấp hành án phạt tù ra sao?
  2. Nhận thức về thực hiện pháp luật về lao động đối với người chấp hành án phạt tù gồm những yếu tố nào? Nội dung, các hình thức thực hiện có đặc trưng riêng gì?
  3. Thực hiện pháp luật về lao động đóng vai trò như thế nào trong quá trình giáo dục cải tạo người chấp hành án phạt tù?
  4. Sự đối lập về quyền và nghĩa vụ giữa người chấp hành án phạt tù với người có thẩm quyền tác động như thế nào tới mục đích của các chủ thể trong quá trình thực hiện pháp luật về lao động?
  5. Những kinh nghiệm quốc tế nào có thể tham khảo và vận dụng trong thực hiện pháp luật về lao động đối với người chấp hành án phạt tù tại Việt Nam?
  6. Thực tế chế độ lao động đối với người chấp hành án phạt tù ở Việt Nam vận hành như thế nào? Kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân?
  7. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, triết lý truyền thống về giáo dục cải tạo thông qua lao động cần được tiếp cận theo chuẩn mực pháp luật quốc tế như thế nào?
  8. Những yêu cầu và giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về lao động đối với người chấp hành án phạt tù ở Việt Nam là gì?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các quan điểm khoa học, hệ thống quy định pháp luật hiện hành liên quan (tiếp cận đa ngành gồm hình sự, tố tụng hình sự, thi hành án hình sự, quyền con người, lao động, giáo dục, đầu tư, quy hoạch, thương mại, kế toán) và thực tiễn vận hành chế độ lao động thông qua 4 hình thức thực hiện pháp luật.
  • Phạm vi không gian: Cả nước, tập trung vào lĩnh vực thi hành án phạt tù thuộc thẩm quyền các cơ quan trực thuộc Bộ Công an (Tổng cục Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp, nay là Cục Cảnh sát quản lý trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng - C10 và các trại giam thuộc Bộ Công an).
  • Phạm vi thời gian: Tập trung chủ yếu giai đoạn 2011 - 2018.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã phân loại và điểm luận có hệ thống các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến đề tài:

Nhóm nghiên cứu Tác giả, công trình tiêu biểu Nội dung và kết quả chính
Lý luận chung về thi hành án hình sự tại Việt Nam - Bộ Tư pháp (2000, 2003)
- Phạm Văn Lợi (2006)
- Vũ Trọng Hách (2004)
- Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp Trung ương (2013)
- Võ Khánh Vinh và Nguyễn Mạnh Kháng (2006)
Xác định bản chất hành chính - tư pháp của thi hành án; nghiên cứu mô hình quản lý thi hành án tập trung; đánh giá 4 nhóm nhiệm vụ của trại giam; tổng kết thực tiễn giam giữ và tổ chức lao động theo các giai đoạn lập pháp.
Lao động và quyền con người của phạm nhân tại Việt Nam - Cục Quản lý trại giam V26 - Bộ Công an (1998)
- Phạm Đức Chấn / PIAP (2010)
- Lê Văn Thư (2004)
- Nguyễn Đức Phúc (2013)
- Ngô Văn Trù (luận án TS)
- Nguyễn Văn Nam (luận án TS)
- Phạm Trọng Nghĩa (sách chuyên khảo)
Làm rõ mô hình kết hợp giáo dục với lao động dạy nghề; phân tích lao động dưới góc độ quyền con người và phòng ngừa tội phạm; đánh giá sự mất cân đối giữa lao động sản xuất và giáo dục; phân tích Công ước số 29 của ILO về xóa bỏ lao động cưỡng bức.
Nghiên cứu tại Hoa Kỳ và Tây Âu - Georg Rusche & Otto Kirchheimer (1939)
- Gordon Hawkins
- Gerard Ramm (2012)
- Stephen John Hartnett
- Vicky Pelaze
- R. (nghiên cứu "Work in Prison")
- Morgan O. Reynolds
- Mitchel P.
- Alessandro Maculan, Daniela Ronco, Francesca Vianello
Phân tích cấu trúc hình phạt từ thời Trung cổ đến chủ nghĩa tư bản; phê phán ngành công nghiệp nhà tù (prison industry) mang tính chất bóc lột sức lao động; chỉ ra tác động của việc làm trong tù đối với việc giảm tỷ lệ tái phạm; khảo sát thực trạng chế độ lao động tại các nhà tù châu Âu.
Nghiên cứu tại Liên bang Nga và các nước Liên Xô cũ - Chesnokov Alexander (2006)
- Zhuldyz Batyrbekovna Ospanova (Kazakhstan)
- Anton Tabakh & Olesya Kostenko (2014)
Khảo sát lịch sử cưỡng bức lao động từ thời Sa hoàng qua thời kỳ Xô viết đến hiện đại; đề xuất áp dụng nguyên tắc tự nguyện và điều chỉnh lao động tù nhân theo pháp luật lao động thị trường; phân tích vai trò kinh tế của FSIN và tình trạng việc làm của tù nhân Nga.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Các nghiên cứu trong nước trước đây chủ yếu nhìn nhận lao động của phạm nhân dưới góc độ quản lý hành chính và áp dụng pháp luật một chiều từ phía cơ quan nhà nước. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống:

  • Tiếp cận toàn diện dưới 4 hình thức thực hiện pháp luật (tuân theo, thi hành, sử dụng, áp dụng pháp luật) để xem xét đồng thời cả hai chủ thể: cơ quan thi hành án phạt tù và người chấp hành án phạt tù.
  • Đặt chế độ lao động trong mối quan hệ hữu cơ với bảo đảm quyền con người, các tiêu chuẩn lao động quốc tế theo Công ước số 29 của ILO và yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án dựa trên nền tảng lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Chiến lược cải cách tư pháp và Chiến lược hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam.

Khung phân tích của luận án dựa trên lý thuyết về thực hiện pháp luật trong khoa học Lý luận nhà nước và pháp luật, đối chiếu quan hệ pháp luật lao động thông thường theo Bộ luật Lao động với quan hệ pháp luật lao động trong thi hành án phạt tù qua các tiêu chí:

Tiêu chí phân biệt Quan hệ lao động theo Bộ luật Lao động Quan hệ lao động trong thi hành án phạt tù
Mục đích chủ yếu Tạo ra sản phẩm, dịch vụ, thu nhập và lợi nhuận cho các bên. Giáo dục, cải tạo người phạm tội, rèn luyện thói quen lao động và chuẩn bị tái hòa nhập.
Bản chất xác lập Tự nguyện, bình đẳng, thỏa thuận thông qua hợp đồng lao động. Cưỡng chế nhà nước, bắt buộc theo bản án có hiệu lực pháp luật; không có hợp đồng lao động.
Chủ thể và thù lao Người lao động tự do (từ đủ 15 tuổi) hưởng tiền lương, tiền công, bảo hiểm xã hội, lương hưu. Người bị kết án tù; Nhà nước bảo đảm chế độ ăn, mặc, ở, y tế; không hưởng tiền lương/lương hưu cá nhân thông thường.
Nội dung chế độ Đầy đủ quyền thỏa ước tập thể, công đoàn, bảo đảm tổng thời gian làm việc suốt đời. Chế độ lao động đặc thù; bảo đảm an toàn, không độc hại nhưng không đặt mục tiêu bảo đảm tổng thời gian làm việc suốt đời.
Cơ chế áp dụng Có tổ chức đại diện tập thể lao động; giải quyết tranh chấp qua hòa giải, trọng tài, Tòa án dân sự. Không có tổ chức đại diện lao động/công đoàn; khiếu nại quyết định/hành vi do Viện Kiểm sát nhân dân giải quyết.
Phạm vi điều chỉnh của Công ước 29 ILO Nghiêm cấm mọi hình thức lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc. Không thuộc phạm vi lao động cưỡng bức bị cấm theo Điểm c Khoản 2 Điều 2 (lao động theo án phạt của Tòa án dưới sự giám sát của cơ quan công quyền).

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp phân tích pháp lý:

  • Phương pháp thống kê, tổng hợp: Sử dụng tại Chương 1 để phân tích các công trình nghiên cứu và tại Chương 3 để tổng hợp số liệu thực trạng người chấp hành án phạt tù giai đoạn 2011 - 2018.
  • Phương pháp duy vật lịch sử và phương pháp quy nạp: Sử dụng tại Chương 2 để xây dựng hệ thống khái niệm, phân tích sự phát triển của các hình phạt và chế độ lao động qua các thời kỳ lịch sử.
  • Phương pháp phân tích, tổng hợp và phương pháp so sánh luật học: Sử dụng tại Chương 2 để phân tích 4 hình thức thực hiện pháp luật, đối chiếu kinh nghiệm tổ chức lao động phạm nhân của Hoa Kỳ, các nước châu Âu, Liên bang Nga, Kazakhstan; sử dụng tại Chương 4 để luận giải và xây dựng hệ thống quan điểm, giải pháp.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Văn kiện Đại hội Đảng, Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị (Nghị quyết số 48-NQ/TW, Nghị quyết số 49-NQ/TW).
  • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật: Hiến pháp 2013, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Thi hành án hình sự (năm 2010 và 2019), Bộ luật Lao động (năm 2012 và 2019), các thông tư liên tịch hướng dẫn thi hành.
  • Các điều ước quốc tế: Công ước số 29 của ILO về lao động cưỡng bức, Công ước chống tra tấn (CAT), Quy tắc Mandela (Tiêu chuẩn tối thiểu của Liên hợp quốc về đối xử với tù nhân).
  • Báo cáo thống kê, tổng kết thực tiễn của Bộ Công an, Tổng cục VIII (Cục C10), Ủy ban Tư pháp của Quốc hội và số liệu khảo sát thực tế tại các trại giam.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu

Chương này tổng thuật toàn diện các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến thi hành án phạt tù, quyền con người của phạm nhân và chế độ lao động trong trại giam. Tác giả phân tích rõ sự chuyển dịch trong nhận thức lý luận từ mô hình quản lý tập trung sang tiếp cận quyền con người và bảo đảm tiêu chuẩn quốc tế. Trên cơ sở chỉ ra những hạn chế của các nghiên cứu trước (chủ yếu tập trung vào áp dụng pháp luật một chiều), chương 1 xác lập 8 câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học làm cơ sở triển khai các chương tiếp theo.

Chương 2: Cơ sở lý luận thực hiện pháp luật về lao động đối với người chấp hành án phạt tù

Chương 2 tập trung luận giải các vấn đề lý thuyết nền tảng:

  • Khái niệm và đặc trưng: Luận án định nghĩa thực hiện pháp luật về lao động đối với người chấp hành án phạt tù là quá trình hoạt động có mục đích, có kế hoạch của các cơ quan, người có thẩm quyền và hoạt động của người chấp hành án nhằm hiện thực hóa các quy định của pháp luật về thi hành án hình sự về lao động. Quá trình này mang 4 đặc trưng cốt lõi: (1) Hướng tới mục tiêu giáo dục cải tạo người phạm tội; (2) Là quá trình cưỡng chế nghiêm khắc của nhà nước mang tính hệ thống và liên tục; (3) Diễn ra trong môi trường đặc biệt là trại giam; (4) Mang tính chất phi lợi nhuận.
  • Bốn hình thức thực hiện pháp luật:
    1. Tuân theo pháp luật: NCHAPT kiềm chế không thực hiện các hành vi bị cấm (như chây lười, trốn tránh lao động, đưa vật cấm vào nơi lao động); cơ quan thi hành án kiềm chế không thực hiện các hành vi bị nghiêm cấm (không tra tấn, không bắt làm thêm giờ quá quy định, không bố trí việc nặng nhọc độc hại cho người già, phụ nữ, người chưa thành niên theo Thông tư liên tịch số 12/2013/TTLT-BCA-BQP-BTC).
    2. Thi hành pháp luật: Các chủ thể chủ động thực hiện nghĩa vụ pháp lý tích cực (NCHAPT thực hiện nghĩa vụ lao động, học nghề; trại giam tổ chức dạy nghề, bảo đảm định mức lao động và an toàn vệ sinh lao động).
    3. Sử dụng pháp luật: NCHAPT thực hiện quyền được nghỉ ngơi, khám chữa bệnh, hưởng chế độ bồi dưỡng, khiếu nại hành vi sai phạm; trại giam sử dụng thẩm quyền hợp tác, liên kết kinh tế để tổ chức sản xuất.
    4. Áp dụng pháp luật: Hoạt động mang tính quyền lực nhà nước của Giám thị, cán bộ quản giáo trong việc phân loại lao động, điều chuyển công việc, khen thưởng, kỷ luật, trích lập và sử dụng kết quả lao động theo luật định.
  • Kinh nghiệm quốc tế: Khảo sát mô hình công nghiệp nhà tù tại Hoa Kỳ, mô hình bảo đảm an sinh và giảm tái phạm tại Tây Âu, mô hình chuyển đổi cơ chế quản lý lao động trại giam tại Nga và Kazakhstan, rút ra bài học về kiểm soát quyền lực, tránh tư nhân hóa nhà tù mất kiểm soát và minh bạch hóa chế độ lao động.

Chương 3: Thực trạng thực hiện pháp luật về lao động đối với người chấp hành án phạt tù ở Việt Nam hiện nay

Chương này đánh giá thực trạng trên cơ sở số liệu thực tiễn và khảo sát:

  • Bối cảnh thi hành án phạt tù: Phân tích thực trạng gia tăng quy mô phạm nhân (giai đoạn 2011 - 2018 mỗi năm có từ 61.112 người đi chấp hành án, quy mô thường trực trên 124.847 người), cơ cấu độ tuổi (Bảng 3.1) và kết quả xếp loại cải tạo của phạm nhân (Biểu đồ 3.1).
  • Kết quả đạt được: Tổ chức lao động tại các trại giam đã giúp phạm nhân hình thành nếp sống kỷ luật, rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp; trích lập quỹ tái hòa nhập và cải thiện một phần bữa ăn cho phạm nhân; tỷ lệ cải tạo tiến bộ được duy trì; bước đầu thực hiện liên doanh, liên kết với các doanh nghiệp để giải quyết việc làm.
  • Hạn chế và nguyên nhân:
    • Hạn chế: Ngành nghề lao động còn đơn điệu, chủ yếu là gia công thô hoặc nông - lâm nghiệp (khảo sát cơ cấu ngành nghề tại các trại giam phía Bắc - Bảng 3.2); trang thiết bị bảo hộ và điều kiện nhà xưởng tại một số nơi còn thiếu thốn; việc trích thưởng và sử dụng kết quả lao động của phạm nhân còn bất cập; chưa thu hút được nhiều doanh nghiệp đầu tư công nghệ cao vào trại giam.
    • Nguyên nhân: Vị trí địa lý các trại giam đa phần ở vùng sâu vùng xa, quỹ đất sản xuất hạn chế; nguồn ngân sách nhà nước cấp cho công tác dạy nghề còn thấp; cơ chế pháp lý về hợp tác liên kết giữa trại giam với doanh nghiệp ngoài hàng rào trại giam chưa đồng bộ; trình độ tay nghề và ý thức chấp hành kỷ luật của một bộ phận phạm nhân còn yếu.

Chương 4: Quan điểm, giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về lao động đối với người chấp hành án phạt tù ở Việt Nam

Chương 4 xây dựng hệ thống giải pháp toàn diện:

  • Hệ thống quan điểm chỉ đạo: Bảo đảm nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa; bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng và quản lý tập trung của Nhà nước; kết hợp chặt chẽ giữa trừng trị và giáo dục cải tạo; lấy giáo dục hướng thiện làm mục tiêu cao nhất; phù hợp với các chuẩn mực quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên.
  • Các nhóm giải pháp cụ thể:
    1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật: Sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật Thi hành án hình sự và văn bản hướng dẫn về cơ chế trại giam liên doanh, liên kết với tổ chức, cá nhân để tổ chức khu lao động, dạy nghề ngoài trại giam; quy định cụ thể định mức lao động, cơ chế trả công và tỷ lệ trích nộp bồi thường dân sự từ thu nhập lao động của phạm nhân.
    2. Nâng cao năng lực chủ thể áp dụng pháp luật: Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, chiến sĩ làm công tác quản giáo, quản lý lao động về kỹ năng sư phạm, kiến thức kinh tế và pháp luật nhân quyền.
    3. Đổi mới mô hình tổ chức lao động, dạy nghề: Đa dạng hóa ngành nghề phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động xã hội; gắn tổ chức lao động với cấp chứng chỉ nghề hợp thức hóa cho phạm nhân trước khi chấp hành xong án phạt.
    4. Tăng cường kiểm sát, giám sát và bảo đảm cơ sở vật chất: Phát huy vai trò kiểm sát trực tiếp của Viện Kiểm sát nhân dân các cấp; huy động nguồn lực xã hội hóa để nâng cấp nhà xưởng, máy móc và trang thiết bị an toàn lao động.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Xây dựng hoàn chỉnh hệ thống khái niệm, đặc trưng, vai trò và 4 hình thức thực hiện pháp luật về lao động đối với người chấp hành án phạt tù trong chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật.
  • Làm rõ bản chất pháp lý khác biệt giữa quan hệ lao động trong thi hành án phạt tù (mang tính quyền lực nhà nước, cưỡng chế, phi lợi nhuận) với quan hệ lao động theo Bộ luật Lao động (thỏa thuận, bình đẳng, tiền lương).
  • Xác lập cơ sở lý luận khẳng định lao động của phạm nhân tại Việt Nam phù hợp với quy định tại Điều 2 Công ước số 29 của ILO về ngoại lệ không cấu thành lao động cưỡng bức.

Đóng góp về mặt thực tiễn và kiến nghị

  • Phân tích bức tranh thực tiễn thực hiện pháp luật về lao động tại các trại giam thuộc Bộ Công an giai đoạn 2011 - 2018, chỉ rõ các điểm nghẽn về cơ chế liên kết sản xuất, chính sách thù lao và đào tạo nghề.
  • Cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn trực tiếp phục vụ quá trình hoàn thiện Luật Thi hành án hình sự năm 2019, các nghị quyết của Quốc hội về thí điểm mô hình tổ chức lao động, hướng nghiệp, dạy nghề cho phạm nhân ngoài trại giam.
  • Đề xuất mô hình phân bổ hợp lý giá trị ngày công lao động của phạm nhân: phục vụ tái hòa nhập cộng đồng, hỗ trợ chi phí ăn ở, và thực hiện nghĩa vụ dân sự, bồi thường thiệt hại cho nạn nhân.
  • Cung cấp cơ sở dữ liệu pháp lý và thực tiễn phục vụ công tác thông tin đối ngoại, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, xuyên tạc về tình hình nhân quyền và lao động tù nhân tại Việt Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung khảo sát phạm vi dữ liệu trong hệ thống trại giam thuộc quyền quản lý của Bộ Công an giai đoạn 2011 - 2018. Mảng tổ chức lao động đối với phạm nhân tại các trại giam do Bộ Quốc phòng quản lý và các phân trại tạm giam công an cấp tỉnh chưa được thu thập số liệu thống kê chi tiết tương đương.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Đánh giá tác động thực tế của Luật Thi hành án hình sự năm 2019 và cơ chế thí điểm tổ chức khu lao động ngoài trại giam trong giai đoạn hiện nay.
    • Nghiên cứu sâu về cơ chế tài chính, kế toán và thuế áp dụng đối với hoạt động liên doanh, liên kết sản xuất tại các cơ sở giam giữ.
    • Mở rộng nghiên cứu thực hiện pháp luật về lao động đối với các nhóm đối tượng đặc thù (người chưa thành niên, phụ nữ có thai hoặc nuôi con nhỏ, người chấp hành án phạt tù là người nước ngoài).

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu và đào tạo: Là tài liệu chuyên khảo cho giảng viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật, Luật Hình sự, Tố tụng hình sự, Tội phạm học và Quyền con người.
  • Đối với công tác lập pháp và hoạch định chính sách: Cung cấp luận cứ cho Ủy ban Tư pháp của Quốc hội, Bộ Tư pháp, Bộ Công an trong việc sửa đổi, hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật về thi hành án hình sự và bảo đảm quyền của người bị giam giữ.
  • Đối với cơ quan thực thi pháp luật: Là tài liệu tham khảo nghiệp vụ cho Cục C10, Ban Giám thị, cán bộ quản giáo tại các trại giam trong việc chuẩn hóa quy trình phân công lao động, bảo đảm an toàn vệ sinh lao động và tổ chức dạy nghề cho phạm nhân.

Câu hỏi thường gặp

1. Quan hệ lao động của người chấp hành án phạt tù khác biệt căn bản thế nào so với quan hệ lao động theo Bộ luật Lao động?

Khác biệt thể hiện ở 5 điểm: (1) Mục đích: Lao động của phạm nhân nhằm giáo dục, cải tạo và chuẩn bị tái hòa nhập, không nhằm mục đích kinh tế/lợi nhuận; (2) Căn cứ xác lập: Do bản án của Tòa án và sự cưỡng chế nhà nước xác lập, không có sự thỏa thuận hay hợp đồng lao động; (3) Chủ thể và chế độ: Phạm nhân không hưởng tiền lương/lương hưu cá nhân, Nhà nước bảo đảm các chế độ ăn, mặc, ở, y tế theo tiêu chuẩn định lượng; (4) Nội dung: Không đặt ra mục tiêu bảo đảm tổng thời gian làm việc suốt đời; (5) Cơ chế thực hiện: Phạm nhân không có tổ chức công đoàn, tranh chấp/khiếu nại không giải quyết theo tố tụng dân sự mà thuộc thẩm quyền giải quyết của Viện Kiểm sát nhân dân.

2. Chế độ lao động bắt buộc đối với phạm nhân ở Việt Nam có vi phạm Công ước số 29 của ILO về lao động cưỡng bức không?

Không vi phạm. Căn cứ Điểm c Khoản 2 Điều 2 Công ước số 29 của ILO, các công việc hoặc dịch vụ mà một người buộc phải làm do quyết định/bản án của Tòa án, được tiến hành dưới sự giám sát, kiểm tra của cơ quan công quyền và không bị chuyển giao cho các công ty/tư nhân tự ý sử dụng thì không cấu thành "lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc". Chế độ lao động trong trại giam tại Việt Nam được tổ chức theo quy định của Luật Thi hành án hình sự dưới sự quản lý trực tiếp của Bộ Công an.

3. Số lượng người chấp hành án phạt tù tại Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu của luận án là bao nhiêu?

Theo số liệu thống kê được tác giả trích dẫn trong giai đoạn 2011 - 2018, hằng năm có từ 61.112 người bị kết án phạt tù được đưa đi chấp hành án, và tổng số người chấp hành án phạt tù thường xuyên tại các trại giam dao động từ 124.847 người.

4. Bốn hình thức thực hiện pháp luật về lao động đối với người chấp hành án phạt tù gồm những gì?

Gồm: (1) Tuân theo pháp luật (chủ thể kiềm chế không làm điều cấm: phạm nhân không trốn tránh lao động, cán bộ không tra tấn/bắt làm quá giờ); (2) Thi hành pháp luật (chủ thể thực hiện nghĩa vụ tích cực: phạm nhân lao động học nghề, trại giam tổ chức bảo hộ lao động); (3) Sử dụng pháp luật (chủ thể thực hiện quyền: phạm nhân dùng quyền nghỉ ngơi, khiếu nại; trại giam dùng quyền liên kết kinh tế); (4) Áp dụng pháp luật (cơ quan có thẩm quyền ban hành quyết định phân loại, bố trí lao động, khen thưởng, kỷ luật, trích lập quỹ).

5. Luận án đề xuất giải pháp trọng tâm nào đối với việc sử dụng kết quả lao động của phạm nhân?

Luận án đề xuất hoàn thiện cơ chế phân phối kết quả lao động theo hướng minh bạch: một phần bổ sung nâng cao định mức bữa ăn cho phạm nhân, trích lập quỹ tái hòa nhập cộng đồng để chi trả khi chấp hành xong án, hỗ trợ kinh phí đào tạo nghề, và nghiên cứu cơ chế trích một phần để thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại dân sự hoặc nộp phạt án phí do hành vi phạm tội gây ra.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Công Long là công trình nghiên cứu hệ thống và chuyên sâu thuộc chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật về thực hiện pháp luật về lao động đối với người chấp hành án phạt tù tại Việt Nam. Tác phẩm đã làm rõ bản chất phi lợi nhuận, tính cưỡng chế đặc thù và giá trị giáo dục cải tạo của chế độ lao động trong trại giam trên cơ sở phân tích 4 hình thức thực hiện pháp luật. Dựa trên việc tổng kết thực tiễn giai đoạn 2011 - 2018 và đối chiếu chuẩn mực quốc tế (Công ước 29 ILO, CAT), luận án đã đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục cải tạo, bảo vệ quyền con người của phạm nhân và hoàn thiện pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam.