Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong hệ thống an sinh xã hội của mỗi quốc gia, bảo hiểm xã hội (BHXH) đóng vai trò là trụ cột cơ bản và mang tính bền vững nhất nhằm bảo đảm, chăm lo đời sống nhân dân. Tại Việt Nam – một quốc gia đang phát triển, lực lượng lao động hoạt động trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp và khu vực phi chính thức chiếm tỷ trọng chủ yếu trong nền kinh tế (khoảng 2/3 tổng lực lượng lao động cả nước). Mặc dù là nguồn lực đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội, việc bảo đảm quyền an sinh xã hội, cụ thể là quyền tham gia và thụ hưởng chính sách BHXH đối với nhóm lao động này, vẫn còn gặp nhiều rào cản và hạn chế lớn.
Hiện nay, lao động khu vực phi chính thức tại Việt Nam chủ yếu tiếp cận chính sách an sinh thông qua loại hình BHXH tự nguyện (bao gồm hai chế độ dài hạn là hưu trí và tử tuất). Tuy nhiên, tỷ lệ bao phủ BHXH đối với khối lao động này trên thực tế còn ở mức rất thấp. Đề tài khóa luận được thực hiện trong bối cảnh Quốc hội và các cơ quan quản lý nhà nước đang tiến hành xây dựng các dự thảo, dự án sửa đổi Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 nhằm khắc phục những bất cập thực tiễn, mở rộng quyền lợi và nâng cao diện bao phủ an sinh dựa trên quyền con người.
Mục tiêu nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu của khóa luận là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về BHXH cho lao động khu vực phi chính thức; phân tích, đánh giá toàn diện thực trạng quy định pháp luật cũng như thực tiễn thi hành pháp luật BHXH đối với lao động phi chính thức ở Việt Nam giai đoạn 2016–2023; chỉ ra những vướng mắc, bất cập còn tồn tại và nguyên nhân; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi chính sách trên thực tế.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Phân tích hệ thống lý luận pháp luật về BHXH cho lao động khu vực phi chính thức (khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc điều chỉnh, nội dung pháp luật) và khảo cứu kinh nghiệm lập pháp của một số quốc gia.
- Đánh giá thực trạng các quy định pháp luật hiện hành và phân tích thực tiễn thực hiện pháp luật BHXH đối với lao động khu vực phi chính thức tại Việt Nam.
- Đề xuất các quan điểm, định hướng và giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện chính sách BHXH cho lao động phi chính thức.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận về BHXH cho lao động phi chính thức; hệ thống quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam (trọng tâm là Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành) cùng kinh nghiệm lập pháp của một số quốc gia. Khóa luận tập trung nghiên cứu dưới góc độ pháp lý đối với nhóm lao động không có quan hệ lao động thuộc khu vực phi chính thức trên các khía cạnh: đối tượng áp dụng, chế độ bảo hiểm và nguồn tài chính thực hiện.
- Phạm vi không gian: Thực tiễn thực hiện pháp luật BHXH cho lao động khu vực phi chính thức trên toàn lãnh thổ Việt Nam.
- Phạm vi thời gian: Khảo sát và đánh giá dữ liệu thực tiễn thi hành pháp luật chủ yếu trong giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2023.
Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng:
Khóa luận xây dựng hệ thống lý luận dựa trên việc chuẩn hóa các khái niệm chuyên ngành:
- Khu vực phi chính thức: Tiếp cận theo định nghĩa của Hội nghị Thống kê Lao động quốc tế lần thứ 15 (ICLS-15 năm 1993), Tổng cục Thống kê Việt Nam (giai đoạn 2007–2009) và Viện Khoa học Thống kê: là khu vực hoạt động của các cơ sở sản xuất kinh doanh không có tư cách pháp nhân, không đăng ký kinh doanh, có quy mô nhỏ lẻ, phi nông nghiệp, tổ chức lao động ở trình độ thấp nhằm mục tiêu tạo việc làm và thu nhập.
- Bảo hiểm xã hội cho lao động phi chính thức: Được luận giải dựa trên Khoản 1 Điều 3 Luật BHXH năm 2014, xác định là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động trong khu vực phi chính thức khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập trên cơ sở người lao động tự nguyện đóng góp vào quỹ BHXH.
- Nguyên tắc điều chỉnh pháp luật: Bao gồm 4 nguyên tắc trụ cột: (1) Mức hưởng dựa trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng và có sự chia sẻ giữa những người tham gia; (2) Mức đóng BHXH tự nguyện được tính trên cơ sở mức thu nhập do người lao động lựa chọn; (3) Quỹ BHXH được quản lý thống nhất, dân chủ, công khai, minh bạch, sử dụng đúng mục đích và hạch toán độc lập theo từng quỹ thành phần; (4) Thủ tục thực hiện đơn giản, thuận tiện, bảo đảm giải quyết đầy đủ, kịp thời quyền lợi của người tham gia.
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật làm cơ sở phân tích:
- Hiến pháp năm 2013.
- Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014.
- Bộ luật Lao động năm 2019.
- Nghị quyết số 93/2015/QH13 và Nghị quyết số 69/2022/QH15 của Quốc hội.
- Nghị định số 134/2015/NĐ-CP, Nghị định số 30/2016/NĐ-CP, Nghị định số 135/2020/NĐ-CP, Nghị định số 07/2021/NĐ-CP, Nghị định số 24/2023/NĐ-CP của Chính phủ.
- Thông tư số 01/2016/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.
- Pháp luật an sinh xã hội quốc tế: Thái Lan (chính sách BHXH tự nguyện với 5 chế độ), Trung Quốc (quỹ hưu trí đa nguồn, cơ chế tài khoản hưu trí cá nhân), Cộng hòa Liên bang Đức (mô hình bảo hiểm bắt buộc toàn dân gồm 6 chế độ).
Phương pháp nghiên cứu:
Khóa luận vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, kết hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành luật học:
- Phương pháp phân tích, lịch sử, tổng hợp: Áp dụng tại Chương 1 để làm rõ lịch sử hình thành, bản chất lý luận, đặc trưng của khu vực phi chính thức và các nguyên tắc pháp lý điều chỉnh BHXH.
- Phương pháp phân tích quy phạm, so sánh luật học, thống kê, đánh giá thực chứng: Áp dụng tại Chương 2 nhằm mổ xẻ nội dung các quy định pháp luật hiện hành và đánh giá thực trạng tổ chức thi hành thông qua các chuỗi số liệu thứ cấp.
- Phương pháp tổng hợp, quy nạp, dự báo: Áp dụng tại Chương 3 để khái quát hóa các bất cập và luận giải hệ thống giải pháp, kiến nghị hoàn thiện pháp luật.
Nguồn dữ liệu:
Dữ liệu nghiên cứu được trích xuất từ Báo cáo tổng kết thi hành Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 (giai đoạn 2016–2021) của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội; số liệu thống kê thu – chi và phát triển đối tượng của BHXH Việt Nam; Báo cáo điều tra lao động việc làm của Tổng cục Thống kê và Bộ Kế hoạch và Đầu tư (quý I/2021, năm 2022).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về bảo hiểm xã hội cho lao động khu vực phi chính thức và sự điều chỉnh của pháp luật
Chương 1 tập trung xây dựng cơ sở lý luận nền tảng về khu vực phi chính thức và sự cần thiết khách quan của việc điều chỉnh pháp luật BHXH đối với khối lao động này:
- Đặc điểm và vai trò của khu vực phi chính thức: Tác giả chỉ ra 4 đặc trưng cốt lõi: (1) Khó đo lường do quy mô nhỏ lẻ, không đăng ký kinh doanh, sổ sách kế toán không hoàn chỉnh; (2) Quan hệ lao động chủ yếu mang tính thời vụ, thỏa thuận miệng hoặc dựa trên quan hệ gia đình, thân tộc; (3) Gần như nằm ngoài phạm vi bao phủ trực tiếp của các chính sách, pháp luật quản lý nhà nước; (4) Tạo ra giá trị kinh tế thực tế nhưng không được tính đầy đủ vào GDP/GNP. Về vai trò, khu vực này tạo việc làm cho lượng lớn lao động yếu thế, tạo giá trị thặng dư thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đóng góp vào thu nhập quốc gia.
- Đặc trưng của BHXH cho lao động phi chính thức: (1) Áp dụng theo loại hình BHXH tự nguyện do người lao động không có hợp đồng lao động chuẩn hóa; (2) Đối tượng tham gia đa dạng (lao động tự làm, chủ cơ sở nhỏ, lao động gia đình không hưởng lương, người làm công không có hợp đồng); (3) Thiết kế chính sách mang tính linh hoạt về mức đóng và phương thức đóng để thích ứng với nguồn thu nhập bấp bênh.
- Kinh nghiệm quốc tế: Phân tích kinh nghiệm thiết kế chính sách từ Thái Lan (thiết lập 5 chế độ gồm ốm đau, thương tật, tử tuất, hưu trí, trợ cấp trẻ em kèm mức hỗ trợ đóng 42% - 50%), Trung Quốc (kết hợp 3 nguồn tài chính gồm đóng góp cá nhân, hỗ trợ tập thể và ngân sách nhà nước; cơ chế chuyển đổi tài khoản cá nhân linh hoạt), và CHLB Đức (áp dụng cơ chế BHXH bắt buộc cho toàn bộ người lao động kể cả khu vực phi chính thức với 6 chế độ).
Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật bảo hiểm xã hội cho lao động khu vực phi chính thức ở Việt Nam
Chương 2 phân tích chuyên sâu hai phương diện: cấu trúc quy định pháp luật và dữ liệu thực tiễn thi hành giai đoạn 2016–2023.
1. Thực trạng các quy định pháp luật hiện hành
- Về đối tượng áp dụng: Theo Điều 2 Luật BHXH năm 2014 và Nghị định số 134/2015/NĐ-CP, đối tượng tham gia là công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên không thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc. Theo cơ cấu lao động phi chính thức (Báo cáo quý I/2021 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư), nhóm này gồm: lao động tự làm (chiếm trên 50%, thu nhập bình quân 5,773 triệu đồng/tháng); lao động làm công hưởng lương không có hợp đồng (chiếm 37,x%); lao động gia đình không hưởng lương (chiếm 9,3%, thu nhập 2,802 triệu đồng/tháng); chủ cơ sở kinh doanh phi chính thức (chiếm 2,7%, thu nhập 12 triệu đồng/tháng).
- Về các chế độ bảo hiểm:
- Chế độ hưu trí: Điều kiện hưởng lương hưu hàng tháng đòi hỏi đủ tuổi đời (theo lộ trình Điều 219 Bộ luật Lao động năm 2019 và Nghị định 135/2020/NĐ-CP: nam đủ 62 tuổi vào năm 2028, nữ đủ 60 tuổi vào năm 2035) và có từ đủ 20 năm đóng BHXH trở lên. Tỷ lệ hưởng bằng 45% mức bình quân thu nhập tháng đóng BHXH (tương ứng với 20 năm đóng đối với nam và 15 năm đối với nữ), sau đó mỗi năm cộng thêm 2%, tối đa không quá 75%. Quy định cũng cho phép hưởng BHXH một lần (Điều 77 Luật BHXH 2014, Nghị quyết số 93/2015/QH13) với mức hưởng 1,5 tháng mức bình quân thu nhập cho những năm đóng trước 2014 và 2,0 tháng cho những năm từ 2014 trở đi; hoặc bảo lưu thời gian đóng (Điều 78).
- Chế độ tử tuất: Bao gồm trợ cấp mai táng bằng 10 lần mức lương cơ sở (yêu cầu người tham gia đóng đủ từ 60 tháng trở lên hoặc có từ đủ 12 tháng đóng BHXH bắt buộc) và trợ cấp tuất. Trợ cấp tuất hàng tháng chỉ áp dụng cho trường hợp có từ đủ 15 năm đóng BHXH bắt buộc; các trường hợp còn lại hưởng trợ cấp tuất một lần (tính 1,5 hoặc 2 tháng mức bình quân thu nhập đóng cho mỗi năm tham gia).
- Về nguồn tài chính và cơ chế hỗ trợ: Người tham gia đóng 22% mức thu nhập tháng tự lựa chọn. Mức thu nhập đóng thấp nhất bằng mức chuẩn hộ nghèo nông thôn (1.500.000 đồng theo Nghị định 07/2021/NĐ-CP) và cao nhất bằng 20 lần mức lương cơ sở (36.000.000 đồng theo Nghị định 24/2023/NĐ-CP). Nhà nước hỗ trợ tiền đóng tối đa 10 năm (120 tháng) theo tỷ lệ phần trăm tính trên chuẩn hộ nghèo nông thôn:
| Nhóm đối tượng tham gia |
Mức thu nhập đóng tối thiểu/tháng |
Tỷ lệ Nhà nước hỗ trợ (%) |
Số tiền Nhà nước hỗ trợ/tháng |
Mức thực đóng thấp nhất/tháng |
| Người thuộc hộ nghèo |
1.500.000 đồng |
30% |
99.000 đồng |
231.000 đồng |
| Người thuộc hộ cận nghèo |
1.500.000 đồng |
25% |
82.500 đồng |
247.500 đồng |
| Các đối tượng khác |
1.500.000 đồng |
10% |
33.000 đồng |
297.000 đồng |
Phương thức đóng linh hoạt: Đóng hàng tháng, 03 tháng, 06 tháng, 12 tháng một lần; đóng một lần cho nhiều năm về sau (tối đa 05 năm); đóng một lần cho những năm còn thiếu để đủ điều kiện hưởng lương hưu (tối đa không quá 10 năm/120 tháng).
2. Thực tiễn tổ chức thực hiện và số liệu minh chứng
- Quy mô tham gia: Tính đến hết năm 2022, Việt Nam có trên 36 triệu lao động phi chính thức (chiếm 68,54% lực lượng lao động cả nước). Tuy nhiên, có tới 98% lao động phi chính thức không tham gia bất kỳ loại hình BHXH nào; chỉ khoảng 2,1% tham gia BHXH tự nguyện và khoảng 0,1% tham gia BHXH bắt buộc. Tỷ lệ tham gia giai đoạn 2019–2021 chỉ tăng 0,1%.
- Diễn biến phát triển đối tượng BHXH tự nguyện (2016–2022): Năm 2016, số người tham gia đạt 203.871 người (giảm 6,35%, tương ứng giảm 13.828 người so với 2015 do tác động của việc điều chỉnh mở rộng đối tượng BHXH bắt buộc). Từ năm 2018, số lượng tăng trưởng mạnh: năm 2018 đạt 277.190 người, năm 2020 đạt 1.125.236 người, năm 2021 đạt 1.428.300 người và năm 2022 đạt 1.460.000 người (gấp khoảng 7,17 lần so với năm 2016, tốc độ tăng bình quân 38,06%/năm).
| Chỉ tiêu theo dõi |
2016 |
2017 |
2018 |
2019 |
2020 |
2021 |
| Số người tham gia BHXH tự nguyện (người) |
203.871 |
224.243 |
277.190 |
573.943 |
1.125.236 |
1.428.300 |
| Thu nhập bình quân đóng (đồng/tháng) |
2.081.444 |
2.009.684 |
1.778.614 |
1.689.740 |
1.363.935 |
1.282.521 |
| Số người hưởng BHXH một lần (người) |
5.203 |
5.820 |
5.779 |
8.053 |
11.819 |
11.887 |
| Tỷ lệ hưởng BHXH 1 lần / Số tham gia (%) |
2,6% |
2,6% |
2,1% |
1,4% |
1,1% |
0,8% |
- Thực hiện các chế độ và cân đối quỹ: Giai đoạn 2016–2021, số người hưởng lương hưu tự nguyện tăng bình quân khoảng 9.000 người/năm. Giai đoạn 2016–2020, cơ quan bảo hiểm giải quyết chế độ tử tuất cho 337 người hưởng tuất hàng tháng và 2.486 người hưởng tuất một lần. Về tài chính, thu nhập bình quân làm căn cứ đóng giảm dần từ 2.081.444 đồng (2016) xuống 1.282.521 đồng (2021). Kết dư quỹ hưu trí và tử tuất tính đến hết năm 2021 đạt gần 850 nghìn tỷ đồng, bảo đảm khả năng cân đối trong ngắn hạn.
3. Tồn tại, bất cập và nguyên nhân
- Những tồn tại chính:
- Lao động phi chính thức chỉ được tham gia BHXH tự nguyện; quy định mức sàn thu nhập đóng bằng chuẩn nghèo nông thôn (1.500.000 đồng/tháng) tạo rào cản tài chính đối với 47% lao động có thu nhập thấp hơn lương tối thiểu vùng.
- Quyền lợi chưa hấp dẫn đối với nhóm chủ cơ sở có thu nhập khá (chiếm 2,7%) do phần lớn ở độ tuổi trên 45, thời gian đóng tối thiểu 20 năm là quá dài.
- Gói quyền lợi BHXH tự nguyện quá nghèo nàn (chỉ có 2 chế độ dài hạn, thiếu vắng hoàn toàn các chế độ ngắn hạn như ốm đau, thai sản, tai nạn lao động), điều kiện hưởng mai táng phí (đóng đủ 60 tháng) và tuất tháng (đóng đủ 15 năm bắt buộc) quá khắt khe.
- Gánh nặng mức đóng 22% hoàn toàn do người lao động tự chi trả, cao hơn tỷ lệ 8% của người lao động trong khu vực chính thức (do người sử dụng lao động đóng 14%).
- Nguyên nhân: Khung pháp lý về diện bao phủ BHXH bắt buộc chưa bao quát các nhóm lao động đặc thù (chủ hộ kinh doanh cá thể, người quản lý điều hành hợp tác xã không hưởng lương); thiết kế chính sách thiếu tính linh hoạt và hấp dẫn; mức hỗ trợ tài chính từ ngân sách nhà nước còn thấp; mặt bằng trình độ và nhận thức pháp luật của lao động phi chính thức còn hạn chế (theo Tổng cục Thống kê năm 2022, có 78% lao động phi chính thức không có trình độ chuyên môn kỹ thuật).
Chương 3: Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật bảo hiểm xã hội đối với lao động khu vực phi chính thức ở Việt Nam
Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi:
- Yêu cầu và định hướng hoàn thiện pháp luật: Thể chế hóa quan điểm của Đảng về mở rộng diện bao phủ an sinh xã hội toàn dân; sửa đổi quy định đối tượng theo hướng mở rộng diện tham gia BHXH bắt buộc đối với chủ hộ kinh doanh cá thể, người điều hành hợp tác xã; giảm điều kiện số năm đóng BHXH tối thiểu để hưởng lương hưu từ 20 năm xuống 15 năm nhằm tạo cơ hội cho lao động lớn tuổi; bổ sung các gói chế độ ngắn hạn (như trợ cấp thai sản, ốm đau) vào chính sách tự nguyện.
- Nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật:
- Nâng cao nhận thức: Tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật nhằm thay đổi thói quen tích lũy phòng ngừa rủi ro của người lao động.
- Đổi mới công tác thông tin, truyền thông: Phân loại truyền thông theo từng nhóm đối tượng đặc thù (lao động tự làm, lao động làm công ăn lương, lao động gia đình) với các thông điệp và hình thức tiếp cận riêng biệt.
- Đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ: Hiện đại hóa quy trình thu, nộp và giải quyết thủ tục hưởng bảo hiểm qua các nền tảng số, ứng dụng giao dịch điện tử (VssID) nhằm tạo thuận lợi tối đa cho lao động phi chính thức khi tiếp cận dịch vụ.
Kết quả và đóng góp nghiên cứu
Kết quả chính kèm số liệu thực chứng:
- Hệ thống hóa toàn diện cơ cấu lực lượng lao động phi chính thức tại Việt Nam (hơn 36 triệu người, chiếm 68,54% tổng số lao động), chỉ ra thực trạng đáng báo động khi có tới 98% lao động phi chính thức đứng ngoài hệ thống BHXH và 47% có thu nhập dưới mức lương tối thiểu vùng.
- Làm rõ bước tăng trưởng của số người tham gia BHXH tự nguyện từ 203.871 người (năm 2016) lên khoảng 1.460.000 người (năm 2022), tăng gấp 7,17 lần với tốc độ tăng trưởng bình quân 38,06%/năm.
- Xác lập bức tranh tài chính quỹ: thu nhập bình quân làm căn cứ đóng có xu hướng giảm liên tục (từ 2,081 triệu đồng năm 2016 xuống 1,282 triệu đồng năm 2021); tổng kết dư quỹ hưu trí và tử tuất đạt gần 850 nghìn tỷ đồng tính đến cuối năm 2021.
Giải pháp và kiến nghị tác giả đề xuất:
- Hoàn thiện các điều kiện hưởng chế độ hưu trí (rút ngắn thời gian đóng tối thiểu), đa dạng hóa các gói quyền lợi BHXH tự nguyện bổ sung quyền lợi ngắn hạn.
- Mở rộng diện tham gia BHXH bắt buộc đối với một số nhóm lao động phi chính thức có điều kiện kinh tế ổn định.
- Tăng cường mức hỗ trợ tài chính từ ngân sách nhà nước và đẩy mạnh chuyển đổi số trong quy trình quản lý thu nộp BHXH.
Đóng góp so với các nghiên cứu trước:
Khóa luận đã cập nhật hệ thống văn bản pháp luật mới nhất đến năm 2023 (Nghị định 07/2021/NĐ-CP về chuẩn nghèo đa chiều, Nghị định 24/2023/NĐ-CP về lương cơ sở 1,8 triệu đồng); đồng thời kết hợp phân tích so sánh mô hình pháp luật quốc tế (Đức, Trung Quốc, Thái Lan) để đưa ra luận cứ thực tiễn cho việc sửa đổi toàn diện Luật Bảo hiểm xã hội tại Việt Nam.
Hạn chế và hướng phát triển đề tài
- Hạn chế: Nghiên cứu chủ yếu tiếp cận dưới góc độ pháp lý và phân tích số liệu thứ cấp trên bình diện toàn quốc; chưa tiến hành khảo sát xã hội học định lượng sâu trên từng nhóm nghề nghiệp phi chính thức đặc thù (như lao động nền tảng công nghệ, lao động di cư tự do).
- Hướng phát triển tiếp: Mở rộng nghiên cứu đánh giá tác động tài chính – ngân sách dài hạn khi bổ sung các chế độ thai sản, ốm đau vào BHXH tự nguyện; nghiên cứu cơ chế thu BHXH bắt buộc thích ứng với các mô hình kinh tế nền tảng (kinh tế chia sẻ, tài xế công nghệ) tại Việt Nam.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng: Sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Luật An sinh xã hội, Luật Lao động; cán bộ nghiên cứu tại các viện nghiên cứu lập pháp, cơ quan quản lý lao động.
- Nội dung có giá trị tham khảo cao:
- Hệ thống dữ liệu thực chứng và bảng phân tích cấu trúc thu nhập, mức đóng, mức hỗ trợ BHXH tự nguyện tại Chương 2.
- Các luận điểm so sánh lập pháp quốc tế (Thái Lan, Trung Quốc, Đức) tại Chương 1 phục vụ công tác xây dựng chính sách và sửa đổi Luật BHXH.
Câu hỏi thường gặp
1. Lao động khu vực phi chính thức ở Việt Nam hiện nay tham gia loại hình BHXH nào và được hưởng những quyền lợi gì?
Lao động khu vực phi chính thức hiện chủ yếu tham gia loại hình BHXH tự nguyện (do không có hợp đồng lao động để thuộc diện bắt buộc). Khi tham gia, họ chỉ được thụ hưởng 02 chế độ dài hạn là chế độ hưu trí (lương hưu hàng tháng, BHXH một lần, bảo lưu thời gian đóng) và chế độ tử tuất (trợ cấp mai táng, trợ cấp tuất một lần hoặc tuất hàng tháng nếu đủ điều kiện).
2. Mức đóng BHXH tự nguyện và chính sách hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước hiện hành được quy định ra sao?
Người tham gia đóng 22% mức thu nhập tháng do mình lựa chọn. Mức thu nhập đóng thấp nhất bằng chuẩn hộ nghèo khu vực nông thôn (1.500.000 đồng/tháng), cao nhất bằng 20 lần mức lương cơ sở (36.000.000 đồng/tháng). Nhà nước hỗ trợ tiền đóng tối đa 10 năm theo tỷ lệ: 30% đối với hộ nghèo (99.000 đồng/tháng), 25% đối với hộ cận nghèo (82.500 đồng/tháng) và 10% đối với các đối tượng khác (33.000 đồng/tháng).
3. Số liệu thực tế về quy mô tham gia BHXH của lao động phi chính thức giai đoạn 2016–2022 có đặc điểm gì nổi bật?
Năm 2022, dù cả nước có hơn 36 triệu lao động phi chính thức (chiếm 68,54% tổng lao động), có tới 98% không tham gia bất kỳ loại hình bảo hiểm nào. Tuy nhiên, số người tham gia BHXH tự nguyện đã có bước tăng trưởng mạnh từ 203.871 người (năm 2016) lên khoảng 1.460.000 người (năm 2022), tức tăng gấp 7,17 lần với tốc độ tăng bình quân 38,06%/năm.
4. Những rào cản pháp lý chính khiến lao động phi chính thức chưa mặn mà tham gia BHXH tự nguyện là gì?
Có 4 rào cản chính: (1) Thời gian đóng để hưởng lương hưu quá dài (tối thiểu 20 năm); (2) Quyền lợi nghèo nàn, thiếu các chế độ ngắn hạn thiết yếu (ốm đau, thai sản, tai nạn lao động); (3) Mức đóng 22% hoàn toàn do cá nhân tự gánh vác trong khi mức hỗ trợ của Nhà nước còn thấp; (4) Mức sàn thu nhập đóng (1.500.000 đồng) còn cao so với khả năng chi trả của nhóm lao động nghèo, thu nhập bấp bênh.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thái Minh Quang đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận và đánh giá toàn diện bức tranh pháp lý cũng như thực tiễn thi hành chính sách bảo hiểm xã hội cho lao động khu vực phi chính thức tại Việt Nam giai đoạn 2016–2023. Thông qua việc phân tích các dữ liệu thực chứng và khảo cứu kinh nghiệm quốc tế, công trình đã chỉ rõ những nút thắt căn bản về diện bao phủ hẹp, gói quyền lợi đơn điệu và gánh nặng mức đóng của loại hình BHXH tự nguyện. Hệ thống kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp thực thi được đề xuất có giá trị tham khảo thiết thực cho công tác hoàn thiện thể chế an sinh xã hội và sửa đổi Luật Bảo hiểm xã hội trong giai đoạn hiện nay.