đặt vấn đề đảm bảo ASXH đối với nông dân dưới các hình thức bảo BHXH, CTXH, phúc lợi xã hội và tương tế xã hội, cá nhân dành dụm tích lũy để bảo đảm và phát triển chế độ y tế hợp tác tại nông thôn (BHXHVN 2000) [6]. Thứ hai, những nghiên cứu liên quan đến vai trò của Nhà nước trong việc phối hợp các chính sách kinh tế 2 xã hội với chính sách ASXH đối với nông dân. 8 Steffen Abele và các cộng sự (2003) khi phân tích hệ thống ASXH đối với nông dân của các nước thành viên các nước đông Âu (CEE) đã đề cập đến hệ thống lương hưu và bảo hiểm thất nghiệp cũng như các khoản trợ cấp cho đối tượng nông dân. Trong nghiên cứu này, các học giả đã trình bày sự phối hợp giữa các hợp phần đảm bảo ASXH và các chính sách đối với nông dân nhằm đảm bảo cho việc thực hiện ASXH trong điều kiện biến động về dân số, lao động và rủi ro kinh tế.
Nghiên cứu này chỉ ra, để đảm bảo ASXH, đặc biệt là ASXH cho nông dân thì những hỗ trợ đối với hoạt động nông nghiệp, chính sách đất sản xuất, hỗ trợ làm việc bán thời gian và đặc biệt là chính sách thuế cần phải được quan tâm [113]. Quan điểm này cũng có nhiều điểm tương đồng với nghiên cứu của Tổ chức Lao động Thế giới (ILO) khi mà tổ chức này cho rằng, để đảm bảo ASXH, thì các chính sách liên quan đến hỗ trợ thu nhập, giảm thiểu rủi ro về môi trường và điều kiện làm việc, chính sách với lao động di cư, đảm bảo y tế cho các đối tượng yếu thế. là những vấn đề cần được các chính phủ quan tâm thực hiện [104]. Thứ ba, những nghiên cứu liên quan đến vai trò của Nhà nước trong tổ chức kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách ASXH đối với nông dân.
Nghiên cứu về lĩnh vực này thường nằm chung về công tác tổ chức, kiểm tra, giám sát việc thực hiện ASXH nói chung. Chẳng hạn, The ISSA Crisis Monitor Project (2012) khi tiến hành đánh giá về hoạt động quản lý ASXH trong giai đoạn bất ổn đã đưa ra một số tiêu chí để đánh giá đối với việc thực hiện hệ thống ASXH. Cụ thể như: (i) Đối với khía cạnh hành chính: Tuyển dụng cán bộ bổ sung khi thực hiện các chương trình; số tiền được bổ sung để thực hiện mục tiêu tại các đơn vị thực hiện ASXH; tinh giản thủ tục hành chính; tính cập nhật của hệ thống công nghệ thông tin; (ii) Đối với hệ thống cảnh báo: Hiệu quả hoạt động truyền thông, xác định đúng đối tượng để thực hiện đào tạo hỗ trợ đối tượng tiếp cận tốt tới thị trường lao động [114]. Tại Trung Quốc, cùng với cải cách hệ thống, Nhạc Tụng Đông cũng đã đề cập đến vấn đề tổ chức quản lý ASXH đối với nông dân.
Trong cuốn sách “Kêu gọi tiến tới một nền an sinh xã hội kiểu mới” ông đã đề cập đến một loạt những vấn đề liên quan đến vai trò chính phủ trong công tác tổ chức quản lý ASXH nói chung, đối với nông dân nói riêng, chuyển từ quản lý hành chính sang quản lý bằng pháp 9 chế đối với hệ thống an sinh, tiến hành phân cấp, phân hạng trong quản lý an sinh, thành lập ngân hàng ASXH, thiết lập Ủy ban kiểm tra và giám sát quỹ an sinh, thiết lập chế độ mã hóa ASXH suốt đời cho công dân, điều chỉnh và tăng cường các chức năng liên quan đến an sinh của Bộ Lao động và An sinh xã hội,… [6]. Tình hình nghiên cứu ở trong nước Ở Việt Nam, Đảng và Chính phủ ngày càng quan tâm đến các vấn đề xã hội nói chung, ASXH nói riêng nhằm đạt được mục tiêu phát triển kinh tế và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân. Chính vì thế, từ khi tiến hành đổi mới đến nay, đã có rất nhiều đề tài, chương trình, dự án liên quan trực tiếp, gián tiếp đến vấn đề ASXH cho người dân cũng như vai trò của Nhà nước về ASXH đối với người dân nói chung, trong đó có nông dân đã được thực hiện dưới sự tài trợ của Chính phủ, các tổ chức quốc tế như UNDP, ILO, World Bank, UNPFA,… Để phù hợp với chủ đề nghiên cứu này, chúng tôi xin được tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước thành ba nhóm chính như sau: Nhóm thứ nhất: Những nghiên cứu liên quan về các hình thức tham gia của nông dân vào ASXH ở Việt Nam. Các nghiên cứu liên quan đến các hình thức tham gia của nông dân vào hệ thống ASXH, hay các hợp phần ASXH.
Từ trước đến nay ở Việt Nam những khái niệm về ASXH chủ yếu đi theo quan điểm của ILO, tuy nhiên tùy vào từng giai đoạn phát triển cụ thể mà các nhà nghiên cứu có những bổ sung phù hợp với những yêu cầu về ASXH trong quá trình phát triển của xã hội. Nguyễn Hải Hữu (2008) đã chỉ ra các hợp phần của hệ thống ASXH bao gồm: BHXH, BHYT, chính sách việc làm và thất nghiệp, chương trình trợ giúp đặc biệt (thương binh, liệt sĩ, người có công), chương trình TGXH (thường xuyên và đột xuất) [50]. Dựa trên mô hình ESCAP và các quan điểm gần đây của các nhà tư vấn quốc tế, Nguyễn Hữu Dũng (2012) đã đề xuất “Có thể lựa chọn hệ thống chính sách ASXH theo mô hình ba cấp độ”. 10 Cấp độ 1: BHXH gồm BHYT, bảo hiểm tại nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, người lao động nghỉ hưu và người lao động thất nghiệp.
Cấp độ 2: Chính sách thị trường lao động gồm dạy nghề, đào tạo lại, tạo việc làm cho người lao động thuộc mọi thành phần kinh tế, các vùng và các khu vực, hỗ trợ tạo việc làm (chính sách tín dụng), tìm việc làm (dịch vụ giao dịch, thông tin). Cấp độ 3: Trợ giúp xã hội TGXH gồm cứu trợ đột xuất và trợ cấp xã hội (TCXH) thường xuyên [40, tr. Tiếp cận về hệ thống ASXH theo hướng này còn có Nguyễn Trọng Đàm (2012). Theo tác giả, phạm vi ASXH gồm ba nhóm: Nhóm 1: Bảo đảm việc làm, thu nhập tối thiểu và giảm nghèo, gồm các chính sách tạo việc làm, giảm nghèo, BHXH và các chương trình bảo hiểm khác cho người lao động, đặc biệt là người lao động bị mất việc làm, lao động trong các hộ nghèo, người lao động bị thiếu việc làm, lao động nông thôn, lao động phi chính thức và những người lao động khác.
Nhóm 2: Trợ giúp xã hội thường xuyên và đột xuất, cho các nhóm đối tượng có hoàn cảnh khó khăn bao gồm trẻ em mồ côi (TEMC), người già cô đơn không nơi nương tựa, người cao tuổi không có lương hưu, trợ cấp BHXH, người khuyết tật nặng, người nhiễm HIV/AIDS không còn khả năng lao động thuộc gia đình nghèo, người đơn thân đang nuôi con dưới 16 tuổi, người gặp rủi ro thiên tai. Nhóm 3: Bảo đảm tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản ở mức tối thiểu cho người dân về giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch và thông tin, truyền thông. Tập trung ưu tiên cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số thuộc các huyện nghèo, xã nghèo, các xã đặc biệt khó khăn, người dân nông thôn và các đối tượng khác [41, tr. Việc nghiên cứu chuyên sâu về ASXH đối với nông dân được Mai Ngọc Anh phân tích trong các công trình nghiên cứu của mình như: An sinh xã hội đối với nông dân trong điều kiện nền kinh tế thị trường ở Việt Nam (2010) [2], Đảm bảo tài chính thực hiện an sinh xã hội đối với người cao tuổi khu vực nông thôn Việt Nam hiện nay (2011) [3].
Trong các công trình này, tác giả đã chỉ ra các hợp phần của hệ thống ASXH bao gồm: BHXH (bắt buộc và tự nguyện), BHYT (bắt buộc, tự nguyện và BHYT cho người nghèo), chính sách phát triển thị trường lao động, ƯĐXH và TGXH (thường xuyên và đột xuất). 11 Trong công trình nghiên cứu về Chính sách an sinh xã hội với người nông dân sau khi thu hồi đất để phát triển các khu công nghiệp (nghiên cứu tại Bắc Ninh) Nguyễn Văn Nhường (2011) đã cho rằng ASXH gồm 6 hợp phần quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp tới người nông dân bị thu hồi đất để phát triển các khu công nghiệp gồm: (i) Chính sách đền bù, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất; (ii) Chính sách đào tạo nghề và giải quyết việc làm; (iii) Chính sách bảo hiểm xã hội tự nguyện; (iv) Chính sách bảo hiểm y tế tự nguyện; (v) Chính sách trợ giúp xã hội; (vi) Chính sách hỗ trợ xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn [56]. Nhìn chung các quan niệm trên hiểu ASXH theo nghĩa rộng, nhiều chính sách thuộc về các lĩnh vực chính sách xã hội ngoài ASXH như chính sách việc làm, thu nhập, giảm nghèo, cung ứng các dịch vụ xã hội cơ bản khác như nhà ở, giáo dục, y tế, nước sạch, vệ sinh môi trường và thông tin. Trong một nghiên cứu khác của Mai Ngọc Cường (2012) về hệ thống ASXH, tác giả đề cập đến hệ thống ASXH ở phạm vi khác hơn.
Theo tác giả hệ thống ASXH bao gồm ba trụ cột là: 1) ASXH theo nguyên tắc đóng R hưởng bao gồm BHXH, BHYT và bảo hiểm tự nguyện; 2) ASXH không dựa vào đóng góp mà dựa vào sự trợ giúp của Nhà nước và cộng đồng bao gồm trợ giúp xã hội thường xuyên (TGXHTX), trợ giúp xã hội đột xuất (TGXHĐX); 3) ASXH cộng đồng bao gồm các khoản TGXH tự nguyện của các tổ chức xã hội, doanh nghiệp, cá nhân trong xã hội giúp người dân gặp rủi ro và an sinh xã hội tự nguyện (ASXHTN) của người dân khu vực phi chính thức, trước hết là do nông dân tự nguyện tổ chức, tham gia và quản lý, có sự hướng dẫn của Nhà nước và được pháp luật bảo vệ theo mô hình BHXH nông dân Nghệ An [36, tr. Như vậy, quan niệm của Mai Ngọc Cường về hệ thống ASXH nói chung, đối với nông dân nói riêng có điểm hẹp hơn lại có điểm rộng hơn so với nhiều nghiên cứu hiện nay. Hẹp hơn là ở chỗ coi ASXH chỉ bao gồm các hình thức BHXH, BHYT, bảo hiểm tự nguyện (BHTN) và các hình thức TGXH, chứ không đi rộng ra các chính sách xã hội khác. Nhưng rộng hơn là ở chỗ đưa ASXH cộng đồng bao gồm các hình thức TGXH từ cộng đồng trong và ngoài nước, ASXH theo mô hình BHXH nông dân Nghệ An vào hệ thống ASXH.
12 Nhóm thứ hai: Nghiên cứu những vấn đề liên quan đến nội dung vai trò của Nhà nước về ASXH đối với nông dân.