Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế chuyên ngành Kinh tế chính trị (Mã số: 62310102) với đề tài "Vai trò của Nhà nước về an sinh xã hội đối với nông dân ở Việt Nam" được tác giả Phan Thị Kim Oanh thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Mai Ngọc Cường và PGS.TS. Tô Đức Hạnh, bảo vệ năm 2014.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Thực tiễn gần 30 năm đổi mới tại Việt Nam cho thấy sự phát triển của nền kinh tế thị trường đã đem lại tăng trưởng kinh tế và nâng cao thu nhập, nhưng cũng làm gia tăng phân hóa giàu nghèo và bất bình đẳng giữa khu vực nông thôn với thành thị. Nông dân là lực lượng lao động hùng hậu, chiếm tỷ lệ lớn trong cơ cấu dân số (từ hơn 80% thời kỳ đầu đổi mới và khó giảm xuống dưới 40% trong tương lai gần), giữ vị trí ổn định xã hội và an ninh quốc gia. Tuy nhiên, do đặc thù lao động nông nghiệp có năng suất chưa cao, tỷ trọng đóng góp vào GDP còn thấp, vấn đề an sinh xã hội (ASXH) đối với nông dân trong thời gian dài chưa được đặt đúng vị trí trong phạm trù quản lý nhà nước mà chủ yếu chỉ được tiếp cận như sự thể hiện tính ưu việt của chế độ. Hệ thống chính sách về bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT), trợ giúp xã hội (TGXH) và ưu đãi xã hội (ƯĐXH) còn bộc lộ nhiều bất cập, chưa thích ứng kịp với biến động kinh tế - xã hội. Tỷ lệ nông dân tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện (BHXHTN) và bảo hiểm y tế tự nguyện (BHYTTN) còn ở mức rất thấp (năm 2010 toàn quốc chỉ có 61.689 người tham gia BHXHTN, chiếm dưới 1% tổng số 41–42 triệu người thuộc diện tham gia). Khoảng trống nghiên cứu đặt ra là cần phân tích vai trò của Nhà nước trong việc thiết lập thể chế, cơ chế tài chính hỗ trợ, kiểm tra giám sát và phối hợp chính sách để giải quyết bài toán tham gia ASXH của nông dân trong điều kiện thu nhập thấp và rủi ro sinh kế cao.
Mục tiêu nghiên cứu
Luận án xác định hệ thống mục tiêu nghiên cứu như sau:
- Mục tiêu chung: Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn các nước và Việt Nam hiện nay, Luận án đề xuất các phương hướng và giải pháp nhằm tăng cường vai trò của Nhà nước về an sinh xã hội đối với nông dân ở Việt Nam những năm tới.
- Mục tiêu cụ thể:
- Làm rõ những nội dung lý luận vai trò của Nhà nước về ASXH đối với nông dân trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết và kinh nghiệm của một số nước trên thế giới.
- Phân tích thực trạng vai trò của Nhà nước về ASXH đối với nông dân ở Việt Nam; chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân hạn chế trong vai trò của Nhà nước về ASXH đối với nông dân ở Việt Nam.
- Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm tăng cường vai trò của Nhà nước về ASXH đối với nông dân ở Việt Nam những năm tới.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Vai trò của Nhà nước về ASXH đối với nông dân, tập trung vào việc xây dựng hệ thống luật pháp, thể chế chính sách, tổ chức phối hợp chính sách và tổ chức quản lý, kiểm tra giám sát đối với hai hợp phần: ASXH theo nguyên tắc đóng – hưởng và ASXH không dựa trên nguyên tắc đóng góp.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu trên bình diện cả nước, đồng thời tiến hành khảo sát thực chứng chuyên sâu tại 3 tỉnh thuộc vùng Bắc Trung Bộ gồm Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh (địa bàn có mức độ phát triển kinh tế trung bình, bao gồm đầy đủ các vùng sinh thái: đồng bằng, trung du, miền núi và ven biển).
- Phạm vi thời gian: Dữ liệu thứ cấp và sơ cấp được thu thập, phân tích trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2012; các giải pháp và khuyến nghị chính sách được định hướng đến năm 2020.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu chính đã được tổng quan
Tác giả hệ thống hóa các tài liệu khoa học trong và ngoài nước theo 3 nhóm hướng nghiên cứu chính:
1. Các nghiên cứu quốc tế về vai trò của Nhà nước và mô hình an sinh xã hội
- Về nhận diện rủi ro và mô hình thiết kế ASXH: Han Juergen Roesner (2003) phân loại 7 nhóm rủi ro đối với con người (tự nhiên, môi trường, sức khỏe, vòng đời, kinh tế, xã hội, chính trị). J. Ignacio Conde-Ruiz và Jay H. Hong nghiên cứu các mô hình ASXH theo nguyên tắc Bismarck và Beveridge, trong đó Conde-Ruiz chỉ ra các quốc gia vận hành theo mô hình Bismarck có mức độ bất bình đẳng thu nhập thấp hơn các quốc gia áp dụng mô hình Beveridge. Martin Gonzalez-Eiras và Dirk Niepelt (2008), Jean-Olivier Hairault và Francois Langot (2008) phân tích tác động của già hóa dân số đối với quỹ hưu trí theo nguyên tắc đóng – hưởng. Dự báo của UN (2004), EU (2006) và IMF (2004) cho thấy tuổi thọ trung bình tại châu Âu tăng từ 73,8 năm 2005 lên 81 vào năm 2050 đặt ra yêu cầu tái cơ cấu quỹ ASXH. Jon Barnett và cs (2007) cùng Jay H. Hong và cs (2007) phân tích rủi ro biến đổi khí hậu và vai trò của chính phủ trong khắc phục thiên tai. Valerie Schmit (2010) xác định hai cấu phần của hệ thống ASXH gồm bảo hiểm và trợ giúp xã hội.
- Về cải cách hệ thống ASXH khu vực nông nghiệp và phi chính thức: Nghiên cứu tại Trung Quốc chỉ ra việc chuyển đổi BHXH từ mô hình PAYG (pay-as-you-go) sang tài khoản cá nhân cho lao động di cư; tác phẩm của Nhạc Tụng Đông ("Kêu gọi tiến tới một nền an sinh xã hội kiểu mới") đề xuất quản lý ASXH bằng pháp chế, lập ngân hàng ASXH, Ủy ban kiểm tra giám sát quỹ và mã hóa ASXH suốt đời cho công dân. Kinh nghiệm hoàn thiện BHYT toàn dân của Hàn Quốc (từ năm 1963 đến khi hợp nhất hệ thống chính thức và phi chính thức năm 2000) và Đài Loan (BHXH từ 1950, BHYT nông dân từ 1989 và BHYT toàn dân từ 2005) được điểm lại.
- Về phối hợp chính sách và quản lý giám sát: Steffen Abele và cs (2003) nghiên cứu hệ thống ASXH nông dân các nước Đông Âu (CEE), chỉ ra mối quan hệ phối hợp giữa ASXH với chính sách đất đai, thuế và trợ cấp việc làm bán thời gian. Tổ chức Lao động Thế giới (ILO, 2004, 2010) nhấn mạnh việc kết hợp ASXH với hỗ trợ thu nhập và giảm thiểu rủi ro môi trường. Báo cáo ISSA Crisis Monitor Project (2012) cung cấp tiêu chí đánh giá quản lý ASXH qua khía cạnh hành chính và hệ thống cảnh báo.
2. Các nghiên cứu trong nước về cấu trúc và các hình thức tham gia ASXH
- Về cấu trúc hệ thống ASXH: Nguyễn Hải Hữu (2008) chia ASXH thành 5 hợp phần (BHXH, BHYT, việc làm - thất nghiệp, trợ giúp đặc biệt, TGXH). Nguyễn Hữu Dũng (2012) đề xuất mô hình 3 cấp độ (Cấp 1: BHXH; Cấp 2: Chính sách thị trường lao động; Cấp 3: Trợ giúp xã hội). Nguyễn Trọng Đàm (2012) phân loại phạm vi ASXH thành 3 nhóm (Bảo đảm việc làm, thu nhập tối thiểu và giảm nghèo; Trợ giúp xã hội thường xuyên và đột xuất; Bảo đảm tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản). Mai Ngọc Anh (2010, 2011) nghiên cứu chuyên sâu về ASXH nông dân và tài chính ASXH cho người cao tuổi nông thôn. Nguyễn Văn Nhường (2011) xác định 6 hợp phần ASXH đối với nông dân sau khi bị thu hồi đất tại Bắc Ninh. Mai Ngọc Cường (2012) xác định hệ thống ASXH gồm 3 trụ cột: ASXH đóng – hưởng; ASXH không đóng góp (TGXHTX, TGXHĐX); và ASXH cộng đồng (bao gồm mô hình BHXH nông dân Nghệ An).
3. Các nghiên cứu về nội dung vai trò Nhà nước và điều kiện đảm bảo thực thi
- Về nội dung quản lý và cơ chế chính sách: Mai Ngọc Cường (2009), Nguyễn Trọng Đàm (2012), Dương Đăng Chính và Vũ Đình Ánh (2003), Phạm Trường Giang (2010), Nguyễn Ngọc Toản (2011), Hoàng Bích Hồng (2011), Dương Xuân Triệu (2000), Đỗ Văn Sinh (2005, 2011), Phạm Đỗ Nhật Tân (2008), Nguyễn Thị Chính (2010), Lê Bạch Hồng (2012), Phạm Xuân Nam (2012) nghiên cứu về hoàn thiện thể chế thu, quản lý quỹ, chi trả, thanh tra giám sát và mức trợ cấp xã hội tối thiểu.
- Về điều kiện thu nhập và cơ chế hỗ trợ tài chính: Nguyễn Đình Hương (1998) và Lê Du Phong (2007) phân tích việc làm, đất đai và thu nhập của nông dân. Mai Ngọc Anh (2010) đề xuất Nhà nước hỗ trợ 50% mức đóng BHXHTN và BHYTTN cho nông dân. Christina Pantazis (2010) cung cấp khung lý thuyết về các nguồn hình thành thu nhập của nông hộ.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Tổng quan tài liệu cho thấy chưa có công trình nghiên cứu độc lập, toàn diện dưới góc độ chuyên ngành Kinh tế chính trị về vai trò của Nhà nước đối với ASXH cho nông dân. Luận án tập trung giải quyết:
- Xác định rõ các trụ cột và mô hình cấu trúc ASXH phù hợp với đặc thù khu vực phi chính thức của nông dân Việt Nam.
- Đánh giá mức độ đồng bộ của hệ thống pháp luật, cơ chế phối hợp chính sách và hiệu lực thanh tra, giám sát của Nhà nước.
- Giải quyết điểm nghẽn về mối quan hệ giữa khả năng đóng góp của nông dân (thu nhập thấp) với mức độ hỗ trợ từ ngân sách nhà nước (NSNN), từ đó xác lập các giải pháp có tính khả thi đến năm 2020.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết, khái niệm và khung phân tích
- Bản chất kinh tế chính trị của vai trò Nhà nước: Theo chủ nghĩa Mác - Lênin, Nhà nước mang tính giai cấp và tính xã hội (thực hiện chức năng đối nội và đối ngoại). Vai trò của Nhà nước về ASXH đối với nông dân thể hiện bản chất xã hội và trách nhiệm xã hội của Nhà nước trong phân phối, phân phối lại thu nhập quốc dân nhằm bảo vệ các tầng lớp dễ bị tổn thương, phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục rủi ro.
- Khái niệm ASXH đối với nông dân: Là một hệ thống các chính sách, các biện pháp mà Nhà nước, gia đình và xã hội thực hiện nhằm trợ giúp người nông dân đối phó với những rủi ro gây ra bởi các cú sốc về kinh tế - xã hội làm cho người nông dân bị suy giảm hoặc mất nguồn thu nhập, bị rơi vào cảnh nghèo khổ, bần cùng hóa.
- Đặc điểm ASXH đối với nông dân:
- Gắn kết giữa hình thức đóng – hưởng (BHXHTN, BHYTTN) và không dựa trên đóng góp (TGXHTX, TGXHĐX).
- Thuộc phạm vi ASXH cho khu vực phi chính thức (quy mô nhỏ lẻ, phân tán, khó kiểm soát hành chính).
- Tính bền vững tài chính từ phía đối tượng không cao do thu nhập nông dân thấp và không ổn định.
- Mô hình và khung nghiên cứu:
| Nội dung vai trò của Nhà nước về ASXH |
Nhân tố ảnh hưởng đến vai trò của Nhà nước |
Tiêu chí đánh giá vai trò của Nhà nước |
| 1. Xây dựng luật pháp, cơ chế, chính sách về ASXH |
1. Quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước |
Nhóm 1: Mức độ thực hiện vai trò của Nhà nước |
| 2. Phối hợp chính sách ASXH với các chính sách kinh tế - xã hội khác |
2. Khả năng ngân sách nhà nước và thu nhập của nông dân |
- Mức độ đầy đủ, đồng bộ, phù hợp của hệ thống pháp lý |
| 3. Kiểm tra, giám sát việc thực thi chính sách ASXH |
3. Năng lực của bộ máy quản lý ASXH |
- Hiệu lực, hiệu quả của phối hợp chính sách và kiểm tra, giám sát |
|
4. Nhận thức xã hội và công tác tuyên truyền |
Nhóm 2: Sự tham gia của nông dân vào ASXH |
|
|
- Mức độ bao phủ (tỷ lệ tham gia) |
|
|
- Mức độ tác động (mức hưởng lợi, thoát nghèo) |
Công thức và tiêu chí định lượng đánh giá
-
Chỉ số bao phủ BHYTTN đối với nông dân ($C_{bhytnd}$):
$$C_{bhytnd} = \frac{S_{bhytnd}}{D_{cn}} \times 100$$
(Trong đó: $S_{bhytnd}$ là số nông dân tham gia BHYTTN; $D_{cn}$ là tổng số nông dân trong cả nước tại thời điểm nghiên cứu y).
-
Chỉ số bao phủ TGXH đối với nông dân ($C_{tgxh}$):
$$C_{tgxh} = \frac{S_{tcxh}}{D_{btxh}} \times 100$$
(Trong đó: $S_{tcxh}$ là số nông dân nhận trợ cấp xã hội; $D_{btxh}$ là tổng số nông dân thuộc diện trợ cấp xã hội tại thời điểm y).
-
Chỉ số tác động/mức hưởng lợi từ ASXH ($IP_{jy}$):
$$IP_{jy} = \frac{TC_{jy}}{MS_y} \times 100 \quad \text{hoặc} \quad IP_{jy} = \frac{LH_{jy}}{MS_y} \times 100$$
(Trong đó: $TC_{jy}$ hoặc $LH_{jy}$ là mức trợ cấp/trợ giúp đối tượng nhận được; $MS_y$ là mức sống trung bình của dân cư tại thời điểm y).
Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu
- Phương pháp định tính: Vận dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phân tích tổng hợp, phân loại tài liệu, so sánh lịch sử và kinh nghiệm quốc tế (Cộng hòa Liên bang Đức, Trung Quốc).
- Phương pháp định lượng và xử lý dữ liệu:
- Dữ liệu thứ cấp: Báo cáo giai đoạn 2000–2012 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Cục Bảo trợ xã hội, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Chữ thập đỏ Việt Nam và số liệu thống kê tại 3 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh.
- Dữ liệu sơ cấp: Thu thập qua điều tra khảo sát bằng bảng hỏi tại 9 huyện thuộc 3 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh (được phân tổ theo vùng đồng bằng, trung du - miền núi, ven biển và theo phân loại huyện khá, trung bình, nghèo).
- Kỹ thuật xử lý: Thống kê mô tả, phân tổ đối sánh chéo giữa mức thu nhập thực tế và tự đánh giá của hộ; loại bỏ các trường hợp có thu nhập đột biến từ người thân làm việc xa quê gửi về trên 30 triệu đồng/năm để bảo đảm tính khách quan của mẫu nông hộ nghèo/trung bình.
Bảng tổng hợp mẫu điều tra thực tế của luận án:
| Tiêu chí phân loại mẫu điều tra |
Số lượng mẫu |
Tỷ lệ (%) |
| 1. Tổng số huyện khảo sát (3 tỉnh: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh) |
9 |
100,00 |
| - Huyện trung du, miền núi |
3 |
33,33 |
| - Huyện đồng bằng và ven biển |
6 |
66,67 |
| 2. Tổng số hộ nông dân phỏng vấn |
258 |
100,00 |
| - Phân loại hộ: Hộ trung bình |
102 |
39,53 |
| - Phân loại hộ: Hộ cận nghèo |
31 |
12,02 |
| - Trình độ văn hóa chủ hộ: Dưới 8/10 hoặc dưới 10/12 |
116 |
48,95 |
| - Trình độ văn hóa chủ hộ: Từ 8/10 hoặc từ 10/12 trở lên |
121 |
51,05 |
| 3. Tổng số cán bộ quản lý phỏng vấn |
197 |
100,00 |
| - Cán bộ quản lý cấp xã và huyện |
174 |
88,32 |
| - Cán bộ quản lý cấp tỉnh/sở |
23 |
11,68 |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan và phương pháp nghiên cứu vai trò của Nhà nước về an sinh xã hội đối với nông dân
Chương 1 hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về ASXH cho khu vực phi chính thức và vai trò can thiệp của Nhà nước; xác lập khung phân tích lý thuyết gồm 3 trụ cột nội dung vai trò của Nhà nước, 4 nhóm nhân tố bảo đảm thực thi và 2 nhóm tiêu chí đánh giá định tính - định lượng. Chương này trình bày chi tiết quy trình thu thập và xử lý bộ dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2000–2012 cùng bộ dữ liệu sơ cấp điều tra tại 3 tỉnh Bắc Trung Bộ gồm 258 hộ nông dân và 197 cán bộ quản lý chuyên trách.
Chương 2: Vai trò của Nhà nước về an sinh xã hội đối với nông dân: Những vấn đề lý luận và kinh nghiệm thực tiễn
Chương 2 làm rõ cơ sở lý luận về tính tất yếu khách quan của ASXH đối với nông dân xuất phát từ 3 yêu cầu: nhu cầu phòng ngừa và khắc phục rủi ro của con người; yêu cầu khắc phục các khuyết tật của kinh tế thị trường; và yêu cầu xử lý các hệ lụy chuyển đổi sinh kế, mất đất sản xuất do công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Luận án phân tích nội dung vai trò Nhà nước trên 3 bình diện: hoàn thiện thể chế luật pháp; phối hợp liên ngành chính sách kinh tế - xã hội; tổ chức bộ máy quản lý và kiểm tra giám sát. Đồng thời, chương 2 phân tích kinh nghiệm phát triển ASXH nông nghiệp của Cộng hòa Liên bang Đức (hệ thống bảo hiểm tai nạn, hưu trí nông dân độc lập có hỗ trợ tài chính liên bang) và Trung Quốc (chế độ y tế hợp tác nông thôn mới, chuyển đổi PAYG sang tài khoản cá nhân, phân cấp quản lý quỹ), từ đó rút ra bài học kinh nghiệm về sự hỗ trợ ngân sách bắt buộc từ Nhà nước cho nhóm nông dân thu nhập thấp.
Chương 3: Thực trạng vai trò của Nhà nước về an sinh xã hội đối với nông dân ở Việt Nam hiện nay
Chương 3 phân tích thực trạng thực thi chính sách ASXH cho nông dân tại Việt Nam giai đoạn 2000–2012:
- Xây dựng thể chế và chính sách: Đã ban hành Luật Bảo hiểm xã hội (2006), Luật Bảo hiểm y tế (2008), các Nghị định về TGXH (Nghị định 67/2007/NĐ-CP, Nghị định 13/2010/NĐ-CP), Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo. Tuy nhiên, chính sách BHXHTN thiết kế mức đóng 16-22% hoàn toàn do người dân tự chi trả mà không có sự trợ cấp của Nhà nước đã trở thành rào cản tài chính đối với nông dân.
- Kết quả tham gia thực tế: Tỷ lệ bao phủ BHXHTN trên toàn quốc và tại 3 tỉnh khảo sát (Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh) đều ở mức rất thấp (dưới 1% đối tượng tiềm năng). Tỷ lệ tham gia BHYTTN đạt kết quả khá hơn ở nhóm được NSNN cấp thẻ (người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số), nhưng nhóm nông dân tự nguyện tham gia có tỷ lệ thấp do mệnh giá thẻ cao so với thu nhập hộ gia đình.
- Trợ giúp xã hội: TGXHTX và TGXHĐX từ NSNN và cộng đồng (Mặt trận Tổ quốc, Hội Chữ thập đỏ) đã kịp thời hỗ trợ đồng bào khi gặp thiên tai, bão lũ. Tuy nhiên, mức chuẩn trợ cấp xã hội còn thấp so với chuẩn nghèo và mức sống tối thiểu.
- Đánh giá nguyên nhân hạn chế: Năng lực cán bộ cơ sở (xã, huyện) còn yếu (88% cán bộ điều tra phản ánh khối lượng công việc lớn nhưng thiếu phương tiện, chuyên môn); công tác phối hợp liên ngành giữa Lao động - Thương binh và Xã hội với Tài chính, Y tế, Nông nghiệp còn rời rạc; công tác thanh tra, kiểm tra chưa thường xuyên; nhận thức của nông dân về quyền lợi dài hạn của bảo hiểm hưu trí còn hạn chế.
Chương 4: Phương hướng và giải pháp tăng cường vai trò của Nhà nước về an sinh xã hội đối với nông dân Việt Nam những năm tới
Chương 4 dự báo bối cảnh kinh tế - xã hội, cơ cấu lao động nông thôn và đời sống nông hộ đến năm 2020 để đề xuất 5 nhóm giải pháp trọng tâm:
- Đẩy mạnh sản xuất, tăng nguồn thu và nâng cao thu nhập của nông dân: Hoàn thiện chính sách đất đai, tín dụng nông nghiệp, ứng dụng khoa học kỹ thuật, phát triển vùng chuyên canh và đào tạo nghề nông thôn.
- Tăng cường hỗ trợ tài chính từ NSNN: Nhà nước cần thiết lập cơ chế hỗ trợ tối thiểu 30–50% mức đóng BHXHTN cho nông dân và hỗ trợ mức đóng BHYTTN cho các hộ nông nghiệp có mức sống trung bình và cận nghèo; nâng mức chuẩn trợ cấp TGXHTX tiệm cận mức sống tối thiểu.
- Đổi mới mô hình tổ chức quản lý: Tinh giản thủ tục hành chính đóng - hưởng, áp dụng mã số quản lý ASXH điện tử, đa dạng hóa phương thức đóng linh hoạt theo mùa vụ thu hoạch nông sản.
- Tăng cường đào tạo đội ngũ cán bộ: Chuẩn hóa chức danh cán bộ công tác xã hội cấp xã, nâng cao năng lực thẩm định đối tượng và quản lý chi trả quỹ ASXH.
- Nâng cao nhận thức xã hội: Đổi mới nội dung truyền thông chính sách ASXH gắn liền với các tổ chức chính trị - xã hội cơ sở (Hội Nông dân, Hội Phụ nữ).
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Hệ thống hóa và làm rõ bản chất kinh tế chính trị của vai trò Nhà nước đối với ASXH cho nông dân: khẳng định đây là phương thức phân phối lại sản phẩm quốc dân mang tính xã hội của Nhà nước, nhằm phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục rủi ro cho lực lượng lao động nông nghiệp trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.
- Xác lập khung lý thuyết hoàn chỉnh về vai trò của Nhà nước về ASXH đối với nông dân, gồm 3 nội dung can thiệp (luật pháp/chính sách, phối hợp liên ngành, kiểm tra giám sát), 4 nhân tố chi phối và hệ thống tiêu chí đánh giá kết hợp giữa mức độ thực thi của bộ máy với chỉ số bao phủ ($C_{bhytnd}$, $C_{tgxh}$) và chỉ số tác động ($IP_{jy}$).
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Đánh giá toàn diện thực trạng thực thi chính sách ASXH cho nông dân giai đoạn 2000–2012 trên phạm vi cả nước và thông qua mẫu khảo sát thực chứng tại 3 tỉnh Bắc Trung Bộ (Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh), chỉ ra điểm nghẽn lớn nhất khiến nông dân không tham gia BHXHTN là cơ chế "đóng nhiều - hưởng chậm" trong khi không có sự hỗ trợ đóng từ NSNN.
- Cung cấp các bằng chứng thực nghiệm về nhận thức của cán bộ quản lý cấp cơ sở và ý kiến của các hộ nông dân về mức đóng góp, nhu cầu điều chỉnh mức trợ cấp xã hội thường xuyên và đột xuất.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Đề xuất Nhà nước chuyển đổi cơ chế đóng BHXHTN từ "tự đóng hoàn toàn" sang cơ chế "Nhà nước hỗ trợ cùng đóng" (hỗ trợ tài chính trực tiếp từ NSNN tương tự như chính sách hỗ trợ BHYT cho người cận nghèo).
- Kiến nghị điều chỉnh phương thức đóng BHXHTN và BHYTTN linh hoạt theo chu kỳ thu hoạch mùa vụ nông nghiệp thay vì quy định kỳ hạn cứng nhắc theo tháng.
- Đề xuất lộ trình nâng mức chuẩn trợ giúp xã hội thường xuyên theo tinh thần Nghị quyết số 15-NQ/TW và hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa ngành Lao động - Thương binh và Xã hội với các ngành Y tế, Tài chính, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài
- Dữ liệu khảo sát thực chứng sơ cấp mới chỉ tập trung tại 3 tỉnh vùng Bắc Trung Bộ (Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh), đại diện cho khu vực phát triển kinh tế trung bình, chưa mở rộng điều tra sâu tại các vùng kinh tế nông nghiệp trọng điểm khác có đặc thù sinh kế khác biệt như Đồng bằng sông Cửu Long hoặc vùng cao Tây Bắc.
- Phạm vi dữ liệu phân tích tập trung chủ yếu trong giai đoạn 2000–2012, chưa phản ánh đầy đủ tác động sau khi sửa đổi toàn diện Luật Bảo hiểm xã hội và Luật Bảo hiểm y tế ở các giai đoạn tiếp theo.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Mở rộng phạm vi khảo sát thực nghiệm trên các vùng sinh thái nông nghiệp đặc thù trên cả nước nhằm so sánh mức độ sẵn sàng chi trả của nông dân theo từng mô hình sản xuất (chuyên canh cây công nghiệp, lúa nước, đánh bắt thủy hải sản).
- Nghiên cứu mô hình dự báo tài chính dài hạn về gánh nặng ngân sách nhà nước khi áp dụng các mức hỗ trợ tài chính 30%, 50% phí đóng BHXHTN cho nông dân trong bối cảnh tốc độ già hóa dân số diễn ra nhanh chóng tại nông thôn.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Là tài liệu tham khảo chuyên khảo trong các chuyên ngành Kinh tế chính trị, Quản lý kinh tế, Chính sách công và Xã hội học; cung cấp khung phân tích lý luận, phương pháp thiết kế bảng hỏi và kỹ thuật xử lý số liệu điều tra hộ nông dân và cán bộ quản lý cơ sở.
- Đối với các cơ quan hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở khoa học và bằng chứng thực tiễn cho Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Ban Kinh tế Trung ương trong việc sửa đổi Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Việc làm và các quy định về chính sách bảo trợ xã hội.
- Đối với chính quyền địa phương: Cung cấp giải pháp tổ chức bộ máy, phương thức phối hợp liên ngành và kế hoạch phân bổ ngân sách địa phương hỗ trợ nông dân tham gia BHYT và BHXH tại tuyến cơ sở.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa an sinh xã hội đối với nông dân như thế nào?
Luận án xác định: An sinh xã hội đối với nông dân là một hệ thống các chính sách, các biện pháp mà Nhà nước, gia đình và xã hội thực hiện nhằm trợ giúp người nông dân đối phó với những rủi ro gây ra bởi các cú sốc về kinh tế - xã hội làm cho người nông dân bị suy giảm hoặc mất nguồn thu nhập, bị rơi vào cảnh nghèo khổ, bần cùng hóa.
2. Hai hợp phần cơ bản của hệ thống an sinh xã hội đối với nông dân trong luận án gồm những gì?
Hệ thống ASXH đối với nông dân được cấu thành từ hai hợp phần:
- ASXH theo nguyên tắc đóng – hưởng: Bao gồm Bảo hiểm xã hội tự nguyện (BHXHTN) và Bảo hiểm y tế tự nguyện (BHYTTN).
- ASXH không dựa trên nguyên tắc đóng góp: Bao gồm Trợ giúp xã hội thường xuyên (TGXHTX) và Trợ giúp xã hội đột xuất (TGXHĐX) từ nguồn NSNN và huy động từ cộng đồng.
3. Tỷ lệ tham gia BHXHTN của nông dân toàn quốc vào năm 2010 được ghi nhận ở mức nào?
Theo số liệu báo cáo của Bảo hiểm xã hội Việt Nam được luận án trích dẫn, sau 2 năm thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội, năm 2010 toàn quốc chỉ có 61.689 người tham gia BHXHTN, chiếm tỷ lệ dưới 1% tổng số đối tượng thuộc diện tham gia BHXHTN ở nước ta (khoảng 41–42 triệu người).
4. Luận án đã khảo sát thực tế tại những địa phương nào với quy mô mẫu ra sao?
Luận án tiến hành điều tra khảo sát thực chứng tại 9 huyện thuộc 3 tỉnh Bắc Trung Bộ gồm Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh. Quy mô mẫu khảo sát gồm:
- 258 chủ hộ nông dân (trong đó có 102 hộ trung bình chiếm 39,53%; 31 hộ cận nghèo chiếm 12,02%; phân bổ tại vùng đồng bằng, trung du - miền núi và ven biển).
- 197 cán bộ quản lý chuyên trách về chính sách ASXH (trong đó có 174 cán bộ cấp xã và huyện, chiếm 88,32%).
5. Điểm nghẽn căn bản nhất khiến nông dân khó tham gia BHXHTN được luận án chỉ ra là gì?
Điểm nghẽn căn bản là thu nhập của nông dân thấp và bấp bênh, trong khi quy định pháp luật hiện hành buộc người tham gia BHXHTN phải tự đóng 100% mức phí (từ 16% đến 22% mức thu nhập lựa chọn) mà không có bất kỳ sự hỗ trợ tài chính nào từ NSNN, đồng thời quyền lợi hưởng bị giới hạn (chỉ có chế độ hưu trí và tử tuất, không có ốm đau, thai sản, tai nạn lao động như BHXH bắt buộc).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Phan Thị Kim Oanh đã làm rõ cơ sở lý luận kinh tế chính trị về vai trò của Nhà nước trong việc đảm bảo an sinh xã hội đối với nông dân – lực lượng xã hội chiếm tỷ trọng lớn nhưng dễ bị tổn thương tại Việt Nam. Thông qua việc kết hợp nghiên cứu lý thuyết, phân tích dữ liệu thứ cấp toàn quốc giai đoạn 2000–2012 và khảo sát thực chứng tại 3 tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, công trình đã chỉ rõ những bất cập về thể chế, khoảng trống hỗ trợ tài chính từ ngân sách và hạn chế trong năng lực quản lý cơ sở. Các giải pháp do luận án đề xuất, trọng tâm là cơ chế Nhà nước đồng tài trợ mức đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện và bảo hiểm y tế tự nguyện cùng lộ trình điều chỉnh mức trợ giúp xã hội, mang lại giá trị tham khảo khoa học và thực tiễn cho việc hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội nông thôn tại Việt Nam.