CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE QUYEN CON NGƯỜI TRONG PHAP LUAT AN SINH XA HOI ° Khái niệm quyền con người và quyền con người trong pháp luật an sinh xã hội ° Khái niệm quyên con người Ý thức về nhân quyền và việc thực hiện nhân quyén là một quá trình lịch sử lâu đài gắn với lịch sử phát triển của loài người và giải phóng con người, qua các hình thái kinh tế xã hội và các giai đoạn đấu tranh giai cấp, quyén con người trở thành giá trị chung của nhân loại. Quyền con người là mỗi quan tâm lớn của thế giới ngày nay và có nội hàm rộng lớn, đa dạng, từ các quyền trong các lĩnh vực dân sự, chính tri, cho đến các quyền về kinh tế, xã hội, văn hóa. Trên thế giới có hàng chục định nghĩa về quyền con người, tuy nhiên người ta vẫn không thé tim thay một định nghĩa chuẩn, có tinh chat kinh điển nào về nó. Tùy theo góc độ của cơ quan, tổ chức, hoặc người nghiên cứu mà có những quan niệm, cách nhìn nhận khác nhau về quyền con người.
Hiến chương Liên hợp quốc (LHQ) và Tuyên ngôn nhân quyền là hai văn kiện quốc tế quan trọng đầu tiên về nhân quyền. Tuyên ngôn nhân quyền (1948) được đánh giá là một trong những thành tựu to lớn của LHQ và có ý nghĩa lịch sử vì đã đưa ra được những chuẩn mực chung cho tất cả các nước và các dân tộc về quyền con người. Từ đó quyền con người được pháp điển hoá trong một loạt Công ước quốc tế về nhân quyên. Tuy vậy, tuyên ngôn về quyền con người năm 1948 và hai Công ước về nhân quyền năm 1966 - những văn kiện cơ bản là nền tảng của quyên con người - cũng không đưa ra những định nghĩa chính thức nao vé quyên con người mà chỉ đưa ra các tiêu chuẩn có tính chất phổ quát về quyền con người, dé mỗi quốc gia tùy vào đặc điểm, hoàn cảnh của mình mà tiếp nhận và thực thi nó, miễn là đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế này.
Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc hiện nay đưa ra một định nghĩa về quyền con người như sau: “Quyên con người là những bảo đảm pháp lý toàn cẩu có tác dung bảo vệ các ca nhán và các nhóm chong lại những hành động hoặc sự bỏ mặc lam tồn hại đến nhân phẩm, tự do cơ bản của con người ”. Theo Tổ chức Ân xá quốc tế: “Nhân quyên là quyên cơ bản và quyên tự do mà tất cả mọi người được hưởng không phân biệt quốc tịch, giới tính, nguôn gốc quốc gia hay dân tộc, chủng tộc, tôn giáo, ngôn ngữ, hoặc trạng thái khác. Nhân quyên bao gôm các quyên dân sự và chỉnh trị, chang hạn như quyên song, tự do và tự do phát biểu, và các quyên kinh tế văn hóa xã hội bao gồm quyên tham gia vào nên văn hóa, quyên có lương thực, quyên làm việc và nhận được một nên giáo dục. Nhân quyên được bảo vệ và duy trì bởi luật pháp quốc té và quốc gia và các hiệp ước ”.
Ở Việt Nam, nhiều chuyên gia nghiên cứu nhìn nhận: Quyên con người là những nhu cẩu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế. Theo Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người của Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội thì: “. quyền con người cũng được xác định như là những chuẩn mực được cộng đông quốc tế thừa nhận và tuân thủ. Những chuẩn mực này kết tinh những gia trị nhân văn của toàn nhân loại, chỉ áp dung với con người, cho tất cả mọi người.
Nhờ có những chuẩn mực này, mọi thành viên trong gia đình nhân loại mới được bảo vệ nhân phẩm và mới có diéu kiện phát triển đây đủ các năng lực của cá nhân với tư cách là một con người ”. Mặc dù trên thé giới có nhiều cách nhìn nhận và định nghĩa quyền con người, nhưng nhìn chung, quyền con người được xác định dựa trên hai góc độ chủ yếu là giá trị đạo đức và giá trị pháp luật. Dưới góc độ đạo đức, quyền con người là giá trị xã hội cơ bản, vốn có của con người như nhân phẩm, bình đăng xã hội, tự do. Dưới góc độ pháp lý, dé trở thành quyền, những đặc quyền phải được thé chế hóa bằng các chế định pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia.
Như vậy, dù ở góc độ nào hay cấp độ nào thì quyền con người cũng được xác định như là chuân mực được kết tinh từ những giá trị nhân văn của toàn nhân loại, áp dụng cho tất cả mọi người. Đặc tính của quyên con người - Tinh pho biến: Tính phổ biến của quyền con người thể hiện ở chỗ quyền con người được áp dụng chung cho tất cả mọi người, không phân biệt màu da, dân tộc, giới tính, tôn giáo, độ tuôi, thành phần xuất thân. Con người, dù ở trong những chế độ xã hội riêng biệt, thuộc những truyền thống văn hóa khác nhau vẫn được công nhận là con người và được hưởng những quyên và sự tự do cơ bản. - Tĩnh đặc thù: Mặc dù tất cả mọi người đều được hưởng quyền con người nhưng mức độ thụ hưởng quyền có sự khác biệt, phụ thuộc vào năng lực cá nhân của từng người, hoàn cảnh chính trị, truyền thống văn hóa xã hội mà người đó đang sống.
Ở mỗi vùng, mỗi quốc gia khác nhau, vấn đề quyền con người mang những sắc thái, đặc trưng riêng gan liền với trình độ phát triển kinh tế - xã hội ở khu vực đó. - Tinh không thể bị tước bỏ: Trong quan niệm chung của cộng đồng quốc tế, quyền con người không thé tùy tiện bi tước bỏ hay hạn chế một cách tùy tiện bởi bat cứ chủ thé nào, ké cả các cơ quan và quan chức nhà nước. Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhất định được pháp luật quy định trước, chỉ có những chủ thé đặc biệt mới có thé hạn chế quyên con người. - Tinh liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau giữa các quyên: Tất cả các quyền con người đều có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, việc thực hiện tốt quyền này sẽ là tiền đề để thực hiện quyền kia.
Ngược lại, khi có một quyền bị xâm phạm thi sẽ ảnh hưởng đến các quyên khác. Vi dụ: nếu một người không được đối xử bình đắng trong lĩnh vực việc làm, mức lương không đảm bảo cuộc song thì kéo theo đó là những bat bình dang trong quyền hưởng ASXH, chăng hạn như hạn chế việc tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản về y té, giao duc, nước sạch,. Hon nữa, khi thu nhập không dam bao mức song tối thiểu thi NLD cũng không chú ý đến việc thực hiện các quyền dan sự - chính trị như quyền bầu cử hoặc quyền tham gia quản lý nhà nước, xã hội. Phân loại quyén con người Cách phân loại quyền con người cơ bản và chủ yếu được thừa nhận rộng rãi hiện nay đó là phân loại quyền con người theo lĩnh vực.
Trong các lĩnh vực của đời sống, quyền con người được phân thành hai nhóm chính: nhóm các quyền dân sự - chính trị và nhóm các quyền kinh tế - xã hội - văn hóa. Day cũng là cách phân chia được sử dụng khi soạn thảo bộ luật nhân quyền quốc tế. Nhóm quyền dân sự - chính trị bao gồm các quyền như: quyền bầu cử, ứng cử; quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội; các quyền tự do cơ bản; quyền được bảo dam an ninh cá nhân; quyền bình dang;. Nhóm quyền kinh tế - xã hội - văn hóa bao gồm quyền làm việc, quyền có nơi cư trú, quyền sở hữu, quyền kinh doanh, quyền được bảo vệ sức khỏe, quyền được học tập và sáng tạo; quyền hoạt động văn hóa - nghệ thuật.
Ngoài ra, dựa vào lịch sử phát triển của tư tưởng và pháp luật về quyền con người ở châu Âu, học giả Karel Vasak (1929-2015), Cộng hòa Séc, đã phân chia các quyền con người thành ba thế hệ (generations of human rights) vào năm 1977 như sau: e Thé hệ 1: Các quyén ca nhan trong linh vuc dan su, chinh tri, cac quyén bình dang và tự do cá nhân. e 7é hệ 2: Các quyền cá nhân trong lĩnh vực kinh tế - xã hội - văn hoá. e 7é hệ 3: Các quyền tập thê như quyền dân tộc cơ bản, tự quyết, bình dang giữa các dân tộc và quốc gia; quyền phát triển, quyền thông tin, quyền được sông trong hoà bình, trong môi trường lành mạnh. Tuy nhiên ngày nay việc phân chia hệ thống các quyền con người thành ba nhóm đã được thay thế bởi nhận thức sâu sắc về tính không thê tách rời được và sự phụ thuộc tương hỗ giữa tất cả các khía cạnh của quyền con người.
Không thê có được các quyền chính trị và dân sự, nếu một người không có được những điều kiện kinh tế tối thiểu cho cuộc sống, hay việc bảo đảm các thành tựu kinh tế và xã hội cũng luôn đi liền với quyền được tiếp cận thông tin, quyền bình dang nam nữ. ° Khái niệm an sinh xã hội Xuất phát từ mục tiêu khắc phục rủi ro và giúp đỡ con người vượt qua khó khăn, ôn định đời sống, các hoạt động trợ giúp đã được hình thành từ lâu trong lịch sử, chăng hạn như sự hỗ trợ của các tổ chức tôn giáo, các phường hội kinh doanh với thành viên, với những người kém may mắn trong xã hội. Tuy nhiên, các hoạt động trợ giúp ban đầu sơ khai đó chỉ mang tính tự phát, tự nguyện và chủ yếu được điều chỉnh bằng tập quán và đạo đức xã hội. Cùng với sự phát triển của xã hội, những biện pháp phòng ngừa và khắc phục rủi ro hiện đại với vai trò quan trọng của nhà nước như: bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiép.
đã xuất hiện, được pháp luật quốc tế và pháp luật các quốc gia ghi nhận. Nước Đức là quốc gia đầu tiên trên thế giới thông qua một chương trình về ASXH vào năm 1889 dưới thời của Thủ tướng Duc - Otto von Bismarck đặt nền móng cho sự phát triển của ASXH trên khắp thé giới. Về mặt thuật ngữ thì “An sinh xã hội” được ghi nhận lần đầu tiên trong Đạo luật về ASXH của Hoa Kỳ thông qua ngày 14 tháng § năm 1935 dưới thời Tổng thống Franklin Delano Roosevelt (1882 — 1945) và được sử dụng rộng rãi trên thế giới từ khi Tổ chức lao động quốc tế xuất bản một báo cáo quan trọng mang tên Tiếp cận An sinh xã hội vào năm 1940.