chương 1 là tiền đề để luận án xây dựng vấn đề nghiên cứu và khung phân tích. Chương 2: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Chương 2 của luận án tập trung làm rõ 3 nội dung cơ bản bao gồm: khái niệm nghiên cứu, lý thuyết nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu. Việc thao tác hóa những khái niệm cơ bản của luận án, phân tích các luận điểm lý thuyết liên quan đến chủ đề nghiên cứu giúp luận án xây dựng bảng hỏi cũng như giải thích hành vi tham gia BHXH, BHYT của người lao động trong nội dung của luận án. Ngoài ra, giới thiệu phương pháp nghiên cứu, mẫu nghiên cứu và địa bàn nghiên nhằm làm rõ độ tin cậy của luận án.
Chương 3: Tham gia bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội của người lao động Nội dung chương 3 tập trung mô tả chân dung người lao động tham gia BHYT, BHXH, nhận thức và đánh giá của họ về chương trình BHYT, BHXH. Đồng thời, nội dung chương 3 cũng làm rõ những rào cản mà người lao động gặp phải trong quá trình tham gia hai chương trình này. Chương 4: Một số yếu tố ảnh hưởng đến tham gia bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội của người lao động 12 luan an Nội dung chương 4 tập trung làm rõ những yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tham gia BHYT, BHXH của người lao động. Những yếu tố này xuất phát từ đặc điểm cá nhân, gia đình, nơi cư trú, đánh giá của người lao động cũng như từ chính nội dung của chính sách.
Kết quả nghiên cứu chương 4 cũng đưa ra phát hiện về tính chủ động “tự an sinh” của người lao động trong bối cảnh người lao động ít tham gia các chương trình ASXH do nhà nước cung cấp. 13 luan an CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 1. Việc làm trong khu vực phi chính thức Vai trò quan trọng của nền kinh tế phi chính thức Trong hai thập kỷ qua, việc làm trong khu vực kinh tế PCT đã tăng nhanh chóng ở tất cả các khu vực trên thế giới.
Trước cuộc khủng hoảng kinh tế Châu Á gần đây, chỉ các nền kinh tế đang phát triển ở Đông và Đông Nam Á có sự tăng trưởng đáng kể về việc làm trong khu vực chính thức. Tuy nhiên, sau cuộc khủng hoảng đó, phần lớn các nước này đều có sự suy giảm việc làm trong khu vực chính thức và tăng việc làm trong khu vực PCT. Ngay cả trước cuộc khủng hoảng, số liệu thống kê chính thức cho thấy khu vực kinh tế PCT chiếm hơn một nửa tổng số việc làm phi nông nghiệp ở Mỹ Latinh và Caribê, gần một nửa ở Đông Á và 80% ở các khu vực khác của châu Á và châu Phi. Về việc làm ở thành thị, khu vực kinh tế PCT chiếm hơn ½ ở châu Phi và châu Á và ¼ ở Châu Mỹ Latinh và Caribê [73].
Hiện nay, lao động trong khu vực PCT trên thế giới vào khoảng 2 tỷ người (chiếm 61% lực lượng lao động toàn cầu). Ở Châu Phi, 85,8% việc làm thuộc khu vực phi chính thức. Tỷ lệ này là 68,2% ở châu Á - Thái Bình Dương, 68,6% ở các nước Ả Rập, 40,0% ở châu Mỹ và 25,1% ở châu Âu và Trung Á. Lao động khu vực PCT thuộc nhiều nhóm dân cư khác nhau xét về loại hình nghề nghiệp, địa vị xã hội và tình trạng pháp lý [91].
Sự đóng góp của khu vực PCT là khá lớn, không chỉ ở quy mô của nó. Nếu không tính khu vực nông nghiệp, vào thời điểm 2012 – 2013, đóng góp thu nhập từ khu vực kinh tế PCT vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP) ở một số nước Bắc Phi là 20,6%, tại khực Châu Phi cận Sahara là 25,1%, tại Châu Mỹ Latinh là 21,8% [72: 28]. Phụ nữ và việc làm khu vực phi chính thức Các nghiên cứu của tổ chức Liên Hợp Quốc UN (2000) và Tổ chức Lao động quốc tế ILO (2018) cho thấy ở hầu hết các nước đang phát triển, nguồn lao động chính trong khu vực kinh tế PCT là phụ nữ. Một số quốc gia ở Châu Phi và vùng hạ Sahara, hầu như tất cả nữ lao động phi nông nghiệp đều thuộc khu vực kinh tế PCT.
Khu vực PCT chiếm hơn 95% lao động nữ ngoài nông nghiệp ở Bénin, Chad và 14 luan an Mali. Tại Ấn Độ và Indonesia, cứ 10 phụ nữ làm việc ngoài lĩnh vực nông nghiệp thì có tới 9 người làm việc ở khu vực PCT. Với những số liệu có sẵn ở 10 nước Mỹ Latinh và 4 nước Đông Á cho thấy ít nhất ½ số lao động phi nông nghiệp nữ làm việc trong khu vực kinh tế PCT [109]. Theo ILO (2018) nếu tính trên toàn thế giới, số lượng nam giới làm việc trong khu vực phi chính thức cao hơn nữ giới.
Tuy nhiên, có khoảng 55,5% các nước có tỉ lệ nữ giới làm việc trong khu vực PCT cao hơn nam giới, và phần lớn các nước này thuộc nhóm quốc gia có thu nhập thấp và trung bình thấp. Việc làm của 90% nữ giới thuộc các nước Châu Phi cận Sahara, 89% nữ giới ở các nước Nam Á và 75% nữ giới ở các nước Mỹ Latin thuộc khu vực PCT [91: 21]. Nữ giới thường làm những công việc dễ bị tổn thương hơn so với nam giới trong khu vực PCT, điển hình như lao động không được trả công trong gia đình, lao động giúp việc gia đình,… Và có mối liên hệ giữa phụ nữ- làm việc trong khu vực PCT – tình trạng nghèo đói. Một tỉ lệ lớn lao động nữ trong khu vực kinh tế PCT ở trong tình trạng nghèo đói trong mối tương quan so sánh với lao động trong khu vực chính thức.
Tính dễ bị tổn thương của lao động trong khu vực phi chính thức Đặc trưng của lao động trong khu vực PCT là tính dễ bị tổn thương, thể hiện ở tình trạng việc làm không ổn định, thu nhập thấp, điều kiện làm việc nguy hiểm. Và phụ nữ luôn chịu nhiều thiệt thòi hơn nam giới trong khu vực này. So với lao động trong khu vực chính thức, họ phải đối mặt với tình trạng không an toàn về công việc, làm việc trong điều kiện căng thẳng hơn. Đa số phải làm việc nhiều thời gian hơn so với quy định.
Gần một nửa số công nhân làm việc ở Bangladesh và Mỹ Latinh cho biết họ phải làm việc điều kiện làm việc thiếu an toàn, dẫn đến tình trạng sức khỏe của lao động trong khu vực này kém đi. Hơn 60% phụ nữ trong khu vực PCT ở Ấn Độ cho biết sức khỏe thể chất kém đi do điều kiện sống và làm việc. Tại Nam Phi, tỷ lệ thương tích ở nơi làm việc tại khu vực PCT cao hơn 7,2 lần so với chính thức; Ở Phi-líp-pin, hơn 50% thương tích không gây tử vong là ở những người lao động tự trả công trong khu vực PCT [103]. Không chỉ làm việc trong điều kiện thiếu/kém an toàn mà thu nhập của lao động trong khu vực PCT cũng rất thấp.
Nếu không tính khu vực nông nghiệp, thu nhập trong khu vực PCT thấp nhất so với các khu vực còn lại. Tiền lương/ tiền công 15 luan an của nữ giới luôn thấp hơn so với nam giới. Những loại hình công việc mà phụ nữ hay đảm nhận là lao động không trả công trong gia đình, bán hàng rong… khiến họ dễ gặp rủi ro hơn về an toàn cá nhân cũng như sức khỏe [94]. Chính điều kiện làm việc kém an toàn dẫn đến tình trạng thương tật và ốm đau gia tăng.
Những bệnh tật gắn với công việc trong khu vực PCT đã tạo ra nhiều khó khăn trong gia đình do mất thu nhập và chi phí phát sinh trong quá trình điều trị - đặc biệt là đối với các bệnh mãn tính hoặc tình trạng suy nhược cơ thể. Mất thu nhập, khó khăn về tài chính lại khiến lao động trong khu vực này trì hoãn việc chữa trị, dẫn đến tình trạng bệnh tật ngày càng trầm trọng hơn, từ đó chi phí chữa trị lại nhiều hơn. Nhiều người bán hàng rong tại Ghana cho biết tai nạn nghề nghiệp có thể tiêu tốn từ 2-6 tuần thu nhập của họ. Tại Ấn Độ, 92% lao động trong khu vực PCT cho biết họ bị mất thu nhập do ốm đau, 17% bị mất việc và 57% bị mất thu nhập tương đương với 10 ngày làm việc [103].
Trong khi đó, nhiều lao động trong khu vực PCT có rất ít các nguồn lực. 80% lao động khu vực PCT ở Ấn Độ thuộc nhóm nghèo. Tại Campuchia, trên 55% lao động khu vực PCT sống dưới chuẩn nghèo. Hơn 1/3 lao động trong khu vực này chỉ nhận được dưới 1,25 đô la cho một ngày lao động của mình [103].
Thu nhập thấp khiến tình trạng nghèo đói gia tăng trong các hộ gia đình có lao động làm việc trong khu vực PCT. Nghiên cứu của Roxana Maurizio (2010) tại 4 nước Châu Mỹ Latinh bao gồm Argentina, Chile, Peru và Braxin cho thấy có mối liên hệ giữa tình trạng nghèo đói và việc làm trong khu vực PCT. Trong mọi trường hợp tình trạng PCT được chứng minh là một yếu tố độc lập quyết định thu nhập thấp hơn. Ngoài ra, các phân tích mô tả và mô phỏng nhỏ cho thấy tình trạng PCT và nghèo đói có quan hệ tỉ lệ thuận.
Tuy nhiên, nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng việc loại bỏ tình trạng PCT không thể xóa hết nghèo, bởi vẫn tồn tại của các yếu tố khác ảnh hưởng đến nghèo đói. Tỉ lệ thất nghiệp cao và trình độ học vấn thấp dẫn tới thu nhập thấp ngay cả đối với người lao động chính thức (hoặc người lao động trong khu vực chính thức), đi kèm với phân phối thu nhập bất bình đẳng cũng là yếu tố gắn liền với nghèo đói. Tính chất công việc bấp bênh không chỉ ảnh hưởng đến bản thân lao động PCT mà còn ảnh hưởng đến các thành viên khác trong gia đình. Với mức thu nhập 16 luan an thấp và không ổn định, lao động trong khu vực PCT khó khăn trong việc đầu tư học hành cho con cái, chăm sóc sức khỏe cho bản thân họ và các thành viên trong gia đình.
Ngoài ra, họ cũng khó có thể tiết kiệm cho trường hợp khẩn cấp hoặc phát sinh trong cuộc sống [94]. Trẻ em là đối tượng dễ bị ảnh hưởng nhất bởi tình trạng dễ bị tổn thương của cha mẹ làm việc trong khu vực PCT. Không chỉ bị ảnh hưởng về cơ hội tiếp cận giáo dục, trẻ em có thể gặp vấn đề sức khoẻ trực tiếp từ công việc của cha mẹ chúng.