Thực trạng đời sống của bà mẹ đơn thân tại KCN Thụy Vân - Nguyễn Thu Phương

Tìm hiểu thực trạng đời sống của các bà mẹ đơn thân tại khu công nghiệp Thụy Vân, Việt Trì, Phú Thọ cùng những khó khăn và giải pháp hỗ trợ thiết thực hiện nay.

Chuyên ngành

Xã hội học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2022

104
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan đời sống bà mẹ đơn thân ở khu công nghiệp Thụy Vân

Khu công nghiệp Thụy Vân thuộc thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ tập trung lực lượng lớn lao động nữ nhập cư. Trong số đó, các bà mẹ đơn thân là nhóm xã hội đặc thù với nhiều gánh nặng kép. Nghiên cứu xã hội học cho thấy xu hướng làm mẹ đơn thân tại đây xuất phát từ nhiều nguyên nhân như ly hôn, ly thân hoặc tự nguyện sinh con. Lựa chọn này phản ánh sự biến đổi trong nhận thức cá nhân và cấu trúc gia đình hiện đại. Nữ công nhân đơn thân phải vừa hoàn thành công việc sản xuất theo ca kíp, vừa đảm nhận toàn bộ trách nhiệm chăm sóc và nuôi dạy con cái. Thu nhập từ lương công nhân trực tiếp quyết định khả năng chi trả tiền thuê trọ, học phí và sinh hoạt phí hàng ngày. Thiếu hụt nguồn hỗ trợ từ người bạn đời khiến quỹ thời gian cá nhân bị thu hẹp tối đa. Sự hiện diện của nhóm lao động này đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với việc đánh giá toàn diện các chính sách an sinh xã hội địa phương.

1.1. Bối cảnh lao động nữ tại khu công nghiệp Thụy Vân

Khu công nghiệp Thụy Vân thu hút hàng chục nghìn công nhân từ các huyện lân cận và tỉnh lân cận về làm việc. Môi trường công nghiệp đòi hỏi kỷ luật lao động cao với các ca làm việc kéo dài và luân phiên. Phần lớn lao động nữ làm việc trong các ngành dệt may, linh kiện điện tử và chế biến thực phẩm. Mức lương cơ bản thường chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu chi tiêu ngày càng tăng tại đô thị. Điều kiện nhà ở xung quanh khu công nghiệp chủ yếu là các phòng trọ tự xây có diện tích chật hẹp và hạ tầng hạn chế.

1.2. Xu hướng và đặc điểm nhân khẩu của bà mẹ đơn thân

Độ tuổi của các bà mẹ đơn thân tại khu công nghiệp Thụy Vân tập trung chủ yếu từ 22 đến 35 tuổi. Trình độ học vấn phổ biến là tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc trung học cơ sở. Hầu hết đối tượng nghiên cứu nuôi từ một đến hai con nhỏ ở độ tuổi nhà trẻ và mẫu giáo. Hoàn cảnh gia đình ở xa khiến việc nhờ người thân hỗ trợ chăm sóc con hàng ngày trở nên rất khó khăn. Nhóm lao động này ít có cơ hội tham gia các khóa đào tạo nâng cao tay nghề do thiếu thời gian và kinh phí.

II. Phân tích khó khăn của bà mẹ đơn thân tại khu công nghiệp Thụy Vân

Đời sống vật chất và tinh thần của các bà mẹ công nhân đơn thân tại Thụy Vân chịu nhiều áp lực đan xen. Về kinh tế, thu nhập trung bình hàng tháng của lao động nữ chủ yếu dựa vào việc tăng ca và làm thêm giờ. Khi không tăng ca, mức lương cơ bản chỉ đủ trang trải các khoản chi thiết yếu nhất. Chi phí thuê phòng trọ, điện nước và tiền gửi trẻ chiếm phần lớn tổng thu nhập. Về mặt chăm sóc con cái, hơn 64% công nhân làm việc theo ca luân phiên ngày và đêm. Khung giờ làm việc này hoàn toàn không khớp với lịch hoạt động của các trường mầm non công lập. Do đó, phần lớn các mẹ buộc phải gửi con tại các điểm trông giữ trẻ tự phát của người dân quanh khu trọ. Về tâm lý, sự cô đơn, mặc cảm xã hội và nỗi lo về tương lai của con cái luôn thường trực, ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe tinh thần của người mẹ.

2.1. Gánh nặng kinh tế và vấn đề nhà trọ

Thu nhập bấp bênh khiến các bà mẹ đơn thân luôn trong tình trạng căng thẳng tài chính. Phần lớn tiền lương được chi trả cho tiền thuê nhà, bỉm sữa và tiền thuốc men khi con ốm đau. Các khu nhà trọ công nhân gần khu công nghiệp Thụy Vân thường thiếu không gian vui chơi an toàn cho trẻ nhỏ. Môi trường sống ẩm thấp và thiếu tiện nghi ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển thể chất của trẻ em. Khả năng tích lũy tài chính của nhóm đối tượng này gần như bằng không, khiến họ dễ rơi vào khủng hoảng khi xảy ra biến cố.

2.2. Bất cập trong việc gửi trẻ và thời gian chăm sóc con

Hệ thống trường mầm non công lập tại địa bàn có mức học phí hợp lý nhưng thời gian đón trẻ cố định trước 17 giờ. Lịch trình này không phù hợp với các ca làm việc kéo dài đến 20 hoặc 22 giờ đêm của nữ công nhân. Tỷ lệ lớn bà mẹ đơn thân phải lựa chọn hình thức gửi con tại các cơ sở tư nhân tự phát. Mặc dù thời gian gửi linh hoạt, điều kiện an toàn và chất lượng chăm sóc tại các điểm này chưa thực sự đảm bảo. Người mẹ luôn đối mặt với cảm giác tội lỗi vì thiếu thời gian ở bên cạnh con.

III. Giải pháp nâng cao đời sống bà mẹ đơn thân ở KCN Thụy Vân Phú Thọ

Để cải thiện chất lượng cuộc sống cho các bà mẹ đơn thân tại khu công nghiệp Thụy Vân, cần có sự phối hợp đồng bộ giữa nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng. Doanh nghiệp cần đóng vai trò nòng cốt bằng việc điều chỉnh chế độ làm việc linh hoạt. Các chính sách miễn giảm tăng ca đêm đối với lao động nữ nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi cần được thực hiện nghiêm túc. Đồng thời, tổ chức công đoàn cơ sở nên xem xét hỗ trợ các gói trợ cấp nuôi con và học bổng khuyến học định kỳ. Về phía chính quyền địa phương, việc đầu tư xây dựng các trường mầm non công lập có dịch vụ trông trẻ theo ca là giải pháp cấp bách. Các tổ chức xã hội như Hội Liên hiệp Phụ nữ cần triển khai các chương trình tư vấn tâm lý, câu lạc bộ đồng đẳng và hỗ trợ vay vốn ưu đãi để phát triển kinh tế hộ gia đình.

3.1. Chính sách hỗ trợ từ doanh nghiệp và công đoàn

Doanh nghiệp tại khu công nghiệp Thụy Vân cần sắp xếp ca làm việc phù hợp cho lao động nữ đơn thân. Việc hạn chế phân công làm ca đêm giúp người mẹ có thêm thời gian chăm sóc con nhỏ buổi tối. Công đoàn cơ sở cần chủ động rà soát danh sách nữ công nhân có hoàn cảnh khó khăn để kịp thời trợ cấp. Các quỹ tương trợ nội bộ có thể hỗ trợ chi phí khám chữa bệnh và dụng cụ học tập cho trẻ em. Xây dựng môi trường làm việc thân thiện giúp nâng cao năng suất và gắn kết người lao động với doanh nghiệp.

3.2. Hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội địa phương

Chính quyền thành phố Việt Trì cần quy hoạch phát triển hệ thống nhà ở xã hội dành riêng cho công nhân thu nhập thấp. Cần ưu tiên các căn hộ giá rẻ có đầy đủ tiện ích cơ bản cho các hộ gia đình đơn thân. Địa phương nên mở rộng các điểm trông giữ trẻ công lập gần khu công nghiệp với mức phí được trợ cấp. Các trạm y tế cơ sở cần tăng cường dịch vụ khám chữa bệnh lưu động và tư vấn sức khỏe sinh sản miễn phí. Việc đơn giản hóa thủ tục hành chính giúp công nhân dễ dàng tiếp cận các gói an sinh xã hội.

IV. Định hướng an sinh cho bà mẹ đơn thân tại khu công nghiệp Thụy Vân

Nghiên cứu về đời sống của các bà mẹ đơn thân tại khu công nghiệp Thụy Vân cung cấp căn cứ thực tiễn quan trọng cho công tác hoạch định chính sách lao động. Việc hỗ trợ nhóm đối tượng này không chỉ bảo đảm quyền bình đẳng giới mà còn trực tiếp thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền công nghiệp địa phương. Trẻ em trong các gia đình đơn thân cần được tạo điều kiện học tập và phát triển toàn diện về thể chất lẫn tinh thần. Sự chung tay của toàn xã hội giúp xóa bỏ định kiến, tạo điểm tựa tinh thần vững chắc cho nữ công nhân. Từng giải pháp can thiệp về kinh tế, nhà ở và giáo dục mầm non khi được thực hiện hiệu quả sẽ giảm thiểu rủi ro xã hội. Xây dựng môi trường công nghiệp nhân văn là mục tiêu cốt lõi để nâng cao chỉ số hạnh phúc cho người lao động tại tỉnh Phú Thọ.

4.1. Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào hoạch định chính sách

Dữ liệu khảo sát xã hội học tại khu công nghiệp Thụy Vân là cơ sở để các cơ quan quản lý lao động điều chỉnh quy định bảo trợ xã hội. Các chính sách an sinh cần hướng trực tiếp vào nhu cầu thực tế về nhà ở và giữ trẻ theo ca. Việc lượng hóa những khó khăn đặc thù giúp xây dựng các mô hình can thiệp xã hội hiệu quả hơn. Các tổ chức phi chính phủ và quỹ từ thiện có thể dựa trên dữ liệu này để triển khai các dự án hỗ trợ sinh kế và học bổng cho con em công nhân.

4.2. Tầm nhìn phát triển cộng đồng công nhân bền vững

Chăm lo đời sống cho các bà mẹ đơn thân là bước đi thiết yếu để ổn định nguồn nhân lực công nghiệp tại Phú Thọ. Môi trường an sinh tốt giúp người lao động yên tâm sản xuất và giảm tỷ lệ biến động nhân sự tại các nhà máy. Xây dựng các thiết chế văn hóa, nhà trẻ và khu thể thao quanh khu công nghiệp góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống toàn diện. Một cộng đồng công nhân phát triển bền vững phải là nơi mọi hoàn cảnh gia đình đều được bảo vệ và tôn trọng.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

15/06/2026
Thực trạng đời sống của các bà mẹ đơn thân ở khu công nghiệp thụy vân thành phố việt trì tỉnh phú thọ hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài Chương 2: Thực trạng đời sống vật chất và đời sống tinh thần của các bà mẹ công nhân đơn thân ở khu công nghiệp Thụy Vân, tỉnh Phú Thọ Chương 3: Những yếu tố ảnh hưởng đến đời sống của các bà mẹ công nhân đơn thân. 13 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA NGHIÊN CỨU 1. Thao tác hóa khái niệm Khái niệm bà mẹ đơn thân Mẹ đơn thân hay bà mẹ đơn thân, hoặc phụ nữ đơn thân là khái niệm để chỉ những người phụ nữ, vì những lí do khác nhau đã sinh và nuôi dạy con cái một mình, không có sự hiện diện của người đàn ông bên cạnh. Đây là khái niệm đã được một số tác giả đã sử dụng trong một số các công trình nghiên cứu của mình.

Theo quan niệm của Lê Thi [35], “phụ nữ đơn thân là những phụ nữ không có chồng, phụ nữ thiếu vắng chồng, những phụ nữ không có chồng sống bên cạnh, do nhiều lý do, nhiều hoàn cảnh khác nhau. Với quan niệm vậy, Lê Thi chia nhóm phụ nữ đơn thân thành hai nhóm nhỏ. Nhóm thứ nhất là nhóm phụ nữ đơn thân đã lập gia đỉnh, và nhóm phụ nữ đã góa chồng. ly dị, ly thân, hoặc chồng đi vắng xa lâu ngày không tin tức.

Nhóm thứ hai là nhóm phụ nữ đơn thân chưa lập gia đình nhưng đã nhiều tuổi. Lê Thi còn lưu ý rằng ở Việt Nam những chị em từ 30 tuổi trở lên đặc biệt ở nông thôn rất khó lấy chồng, được coi như “ế chồng”. Những người phụ nữ “ế chồng” bao gồm hai nhóm: 1/Những phụ nữ không có chồng nhưng có con ngoài giá thú; 2/Phụ nữ không có chồng, không có con Như vậy, dưới một góc nhìn nhất định, khái niệm phụ nữ đơn thân mà Lê Thi đề cập đến ở trên là khái niệm bao trùm khái niệm phụ nữ làm mẹ đơn thân. Điểm đáng lưu ý ở đây là, khái niệm phụ nữ làm mẹ đơn thân cần được thảo luận sâu vì đây là khái niệm làm việc cơ bản của luận văn.

Phụ nữ làm mẹ đơn thân thuộc về khái niệm bố/mẹ đơn thân (single parent). Theo 14 Gucciardi và cộng sự thì bố/mẹ đơn thân là khái niệm chỉ những người có con nhưng chưa bao giờ kết hôn, hay đã ly thân, ly dị và hiện không sống với người bạn đời được thừa nhận về mặt luật pháp, hoặc góa bụa [55]. Một tác giả khác là Wolfinger khi đề cập đến phụ nữ làm mẹ đơn thân (single mother) lại nhân mạnh rằng đó là những phụ nữ có con và họ đã kết hôn nhưng ly hôn, hoặc ly thân, hay chưa bao giờ kết hôn (2015). Khi phân loại các hình thái gia đình, Mai Huy Bích [7] cũng đã đưa ra quan điểm về gia đình có cha hoặc mẹ đơn thân (one-parent family).

Theo ông thì đó là một biến thể của gia đình hạt nhân gồm hai thế hệ (cha hoặc mẹ và con cái chưa kết hôn), trong thế hệ thứ nhất (tức thế hệ cha mẹ), không đủ hai người của cặp vợ chồng, mà chỉ có một người (hoặc cha hoặc mẹ) do nhiều nguyên nhân khác nhau (ly hôn, góa, hay đơn giản là không hoặc chưa kết hôn mà có con…) Như vậy, chúng ta có thể hiểu rằng khái niệm phụ nữ làm mẹ đơn thân đề cập đến bốn nhóm phụ nữ: nhóm có con và đã ly hôn, nhóm có con và đã ly thân, nhóm có con và góa chồng, nhóm không kết hôn và sinh con, nuôi con một mình. Trong đề tài nghiên cứu này, tác giả sử dụng khái niệm “Bà mẹ đơn thân” để đề cập tới những người nữ công nhân vì cả 4 lý do trên nên trở thành bà mẹ công nhân đơn thân. Khái niệm đời sống vật chất Đời sống vật chất là những sinh hoạt dựa trên những yếu tố về vật chất. Chúng ta có thể thấy đời sống vật chất là phương tiện, phương thức thể hiện của đời sống tinh thần.

Nói cách khác, đời sống vật chất là phương tiện thể hiện mặt bản thể luận của đời sống tinh thần. Trong đề tài, đời sống tinh thần của các bà mẹ công nhân đơn thân được thể hiện qua những điều kiện sống mà con người có được để tồn tại bao 15 gồm: thu nhập, chi tiêu; việc làm; nhà ở, đồ dùng sinh hoạt, đồ trang trí có giá trị vật chất như: xe máy, ti vi, tủ lạnh. Nói đến đời sống vật chất là nói đến sự sở hữu, những thứ có thể nhìn thấy, cầm nắm, tính đếm được. Khái niệm đời sống tinh thần Đời sống tinh thần được hiểu bao gồm tất cả những gì liên quan đến lĩnh vực tinh thần: từ những giá trị, sản phẩm tinh thần đến những hiện tượng, quá trình tinh thần, từ những hoạt động tinh thần (sản xuất tinh thần, phân phối, tiêu dùng giá trị tinh thần như phim ảnh, sách báo, tivi, internet, game, công viên, các câu lạc bộ, .) đến những quan hệ tinh thần (trong trao đổi, giao tiếp tinh thần như gặp gỡ, thăm hỏi.

Nói đến đời sống tinh thần là nói đến tính liên tục về thời gian, tính rộng lớn về không gian của tất cả những hiện tượng, những quá trình tinh thần. Khái niệm đời sống tinh thần được sử dụng trong đề tài nói lên các hoạt động liên quan tới sinh hoạt văn hóa và tinh thần của con người. Tác giả sẽ quan tâm tới các hoạt động ngoài giờ làm việc của người công nhân như: thời gian nghỉ ngơi, nội dung và thời lượng tham gia các hoạt động vui chơi giải trí, các hoạt động thăm viếng gia đình, bạn bè và những người thân hay các hoạt động hỗ trợ lẫn nhau về tinh thần của những người cùng cảnh ngộ. Như vậy, trên cơ sở hai chỉ báo lớn là đời sống vật chất và đời sống tinh thần với các dạng hoạt động, việc phân tích tình hình đời sống của những bà mẹ công nhân đơn thân ở khu công nghiệp Thụy Vân hiện nay sẽ được xem xét dưới góc độ chính sách xã hội để chỉ ra những điểm được và chưa được, từ đó đề xuất những kiến nghị nhằm giảm nhẹ những tổn thương mà họ phải chịu đựng.

Khái niệm khu công nghiệp Khái niệm KCN đã được quy định trong Nghị định 36/NĐ-CP ngày 24/4/1997 của Chính phủ về “Quy chế hoạt động của các KCN, KCX, Khu 16 công nghệ cao”. Theo đó, KCN là khu tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định (có tường rào bao quanh), không có dân cư sinh sống, do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập. - Trước hết, KCN là một khu vực khép kín, biệt lập với các khu dân cư và có diện tích xác định. Thứ hai, KCN ra đời và tồn tại trước khi các cơ sở công nghiệp được xây dựng và sẽ có thời kỳ trong KCN không có bất kỳ một cơ sở sản xuất công nghiệp nào.

Thứ ba, việc thành lập KCN phải do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định. - Hiện nay, đã xuất hiện hàng trăm các KCN vừa và nhỏ, các cụm công nghiệp ở các địa phương do chính quyền địa phương quyết định thành lập như ở Phú Thọ hiện nay có 29 khu công nghiệp đã được phê duyệt. Mặc dù có một số đặc điểm đặc thù (quy mô thường nhỏ hơn, ảnh hưởng thường hẹp hơn), nhưng về bản chất thì các KCN không có sự khác biệt so với các KCN do Trung ương thành lập. Vậy khái niệm KCN phải bao hàm cả các KCN loại này (các KCN do chính quyền địa phương thành lập).

Khái niệm Chính Sách xã hội Khái niệm chính sách xã hội, hiện nay có rất nhiều ý kiến khác nhau nhưng trong nghiên cứu này đề tài tham khảo các khái niệm sau đây: Trong cuốn giáo trình về chính sách xã hội của Lê Ngọc Hùng [23] có ba cách định nghĩa về chính sách xã hội. Thứ nhất, chính sách xã hội là một lĩnh vực nghiên cứu khoa học và đào tạo về chính sách xã hội. Thứ hai, chính sách xã hội là hệ thống các dịch vụ xã hội đảm bảo phúc lợi xã hội, bảo trợ xã hội, phát triển xã hội, phát triển con người. Thứ ba, chính sách xã hội là quá trình xã hội trong đó chính sách được xây dựng và thực thi nhằm đạt được các mục tiêu xác định là nâng cao phúc 17 lợi xã hội, bảo trợ xã hội, phát triển con người và phát triển xã hội bền vững Hiện nay ở nước ta, chính sách xã hội thường được nhìn nhận theo hai hướng.

Thứ nhất, theo nghĩa hẹp là chính sách xã hội cho những nhóm lao động xã hội gọi là “đối tượng chính sách” và “đối tượng xã hội”. Thứ hai, theo nghĩa rộng bao hàm cả chính sách giai cấp, chính sách đối với các tầng lớp, những nhóm xã hội lớn như thanh niên, trí thức, chính sách dân tộc, tôn giáo… Vậy khái niệm chính sách xã hội là sự tác động của nhà nước vào việc phân phối và ổn định các hoàn cảnh sống cho con người thuộc các nhóm xã hội khác nhau trong lĩnh vực thu nhập, việc làm, sức khoẻ, nhà ở và giáo dục trên cơ sở mở rộng, bình đằng và công bằng xã hội trong một bối cảnh lịch sử và cấu trúc xã hội nhất định. Khái niệm an sinh xã hội Trong cuốn Từ điển Xã hội học Oxford, an sinh xã hội được hiểu là những hệ thống duy trì thu nhập do nhà nước quản lý nhằm tránh cho mọi người khỏi rơi vào tình trạng nghèo hoặc cứ nghèo mãi. Một số hệ thống an sinh dựa trên quy chế công dân, một số khác thì dự trên nơi cư trú của người thụ hưởng.

Hệ thống chính sách an sinh xã hội Việt Nam gồm 3 nhóm chính sách chính: - Chính sách thị trường lao động; - Bảo hiểm xã hội; - Trợ giúp xã hội. Các lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu 1. Lý thuyết trao đổi xã hội Lý thuyết trao đổi xã hội được giới thiệu vào năm 1958 bởi các nhà xã hội học George Homans với việc xuất bản tác phẩm của mình "Hành vi xã hội như Exchange". Ông đã xác định trao đổi xã hội như việc trao đổi các hoạt động, hữu hình hay vô hình, và nhiều hơn hoặc ít hơn đáng hoặc tốn kém, 18 giữa ít nhất hai người.

Sau Homans thành lập lý thuyết, các nhà lý thuyết khác vẫn tiếp tục viết về nó, đặc biệt là Peter M. Blau và Richard M. Emerson, người ngoài Homans thường được coi như là các nhà phát triển chính của việc trao đổi quan điểm xã hội học.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Cách trích dẫn tài liệu này

Chuẩn Việt Nam
Nguyễn Thu Phương (2022), Thực trạng đời sống của các bà mẹ đơn thân ở khu công nghiệp Thụy Vân, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ hiện nay, Luận văn thạc sĩ, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội.
APA 7
Nguyễn, T. P. (2022). Thực trạng đời sống của các bà mẹ đơn thân ở khu công nghiệp Thụy Vân, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ hiện nay [Luận văn thạc sĩ, Học viện Báo chí và Tuyên truyền]. vn-document.net. https://vn-document.net/document/thuc-trang-doi-song-cua-cac-ba-me-don-than-o-khu-cong-nghiep-thuy-van-thanh-pho-viet-tri-tinh-phu-tho-hien-nay/9768754466
IEEE
T. P. Nguyễn, "Thực trạng đời sống của các bà mẹ đơn thân ở khu công nghiệp Thụy Vân, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ hiện nay," Luận văn thạc sĩ, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội, 2022. [Online]. Available: https://vn-document.net/document/thuc-trang-doi-song-cua-cac-ba-me-don-than-o-khu-cong-nghiep-thuy-van-thanh-pho-viet-tri-tinh-phu-tho-hien-nay/9768754466

Tạo trích dẫn cho tài liệu khác