Chương I. Khái quát về Phật giáo và ca dao. tục ngừ người Việt. Chương nảy trình bày nguồn gốc.
quá trình du nhập vào Việt Nam và các triết lý cơ băn cùa Phật giáo. chúng tỏi sẽ khái lược về ca dao. lục ngữ như: Định nghĩa, nội dung, nghệ thuật. Dặc biệt, chi rõ ánh hưởng cùa Phật giáo vào các thể loại vân học dân gian.
Dấu ấn Phật giáo trong ca dao. tục ngừ người Việt - Nhìn từ phương diện nội dung: Ánh hướng của Phật giáo gán với đời sống hàng ngày, dấu ấn cùa Phật giáo gắn với đời sống tâm linh trong ca dao. tục ngừ người Việt. Dấu ấn Phật giáo trong ca dao.
tục ngừ người Việt - Nhìn từ phương diện nghệ thuật: Ngôn ngữ mang màu sấc Phật giáo, hĩnh ánh mang màu sắc Phật giáo, không gian nghệ thuật mang màu sẳc Phật giáo, thời gian nghệ thuật mang màu sắc Phật giáo. Dặc biệt là phần phụ lục, chúng tôi đã sưu tầm và chọn lọc ra 1333 đơn vị ca dao. tục ngữ mang màu sac Phậl giáo và xếp theo thứ lự báng chừ cái liếng Việt để bạn đọc thuận tiện hơn trong quá trinh học tập, nghiên cứu được thuận lợi hơn. Phun này là minh chứng cho thấy sự ảnh hưởng sâu rộng cùa Phật giáo đổi với người Việi trong tư duy.
tình cam dược bộc lộ qua ngôn ngữ và sinh hoạt sống. KHÁI QUÁT VÉ PHẶT GIÁO VÀ CA DAO, TỤC NGŨ NGƯỜI VIỆT 1. Khái quát về Phật giáo ỉ. Sự hình thành Phật giáo và quá trình Phật giáo du nhập vào nước ta l.
Sự hình thành cũa Phật giáo Diều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội về điều kiện tự nhiên: Án Dộ cổ đại là inột lục địa nằm ớ phía Nam Châu Á thuộc khu vực Đông Nam Ả: Lãnh thô vừa có núi cao. vừa có bìcn rộng, vừa có đồng bằng, lại có sa mạc; Khí hậu vừa có nắng nóng, vữa có tuyết rơi; Phía Dòng có sông hằng chày về, Phía Tây có sông Ấn chày về. về kinh tế - xã hội: Vào khoáng the ki X - I (TTL) là nền kinh tế chiếm hừu nô lệ. nông nghiệp phát triển mạnh mẽ với mô hình “Công xã nông thôn" ruộng đất thuộc về nhã nước.
Chinh điều này lâm cho xã hội Án Độ phân hóa và tồn tại bồn đắng cấp. • Giai cấp Bà La Môn - dăng cấp có địa vị xã hội cao nhất, gồm những nhà hoụt động tôn giáo chuyên nghiệp. - Giai cấp Sát Đế LỊ - dăng cấp vua quan và võ sì. - Giai cấp Vệ Xá - đăng cấp cùa người bình dân như nông dãn, thợ thù công, thương nhân.
- Giai cấp Thù Dã La - giai cấp thấp nhất gồm nhừng người bị bại trận, phá săn. không có tư liệu sàn xuất Sự phân biệt dăng cấp vô cùng khắc nghiệt trên nhiều mặt. Thú Đà La là giai cấp thẩp nhất nên chịu nhiêu áp bức bóc lột nhất, hụ vô cùng câm ghét ba dang cấp trên. xã hội Ân Độ còn có sự phân biệt chung tộc.
dòng dõi và tôn giáo làm cho xà hội vô cùng ngột ngạt. Mặt khác, giai đoạn này các học phái đua nhau phát khởi. Phật giáo - kêu gọi tình yêu thương, sự binh dãng xã hội và chống lại sự phân biệt chùng tộc ra đời trong giai đoạn này là ước mơ, là khát vọng, là điềm tựa của các giai cấp dưới Vì the nó vấp phái làn sóng phàn đoi của đạo Bàlamôn và chế độ phân biệt dăng cấp 12 l. Người sáng lập ra dạo Phật Người sáng lập ra đạo Phật là Đức phật Thích - Ca ông sinh ngày 8 tháng 4 nám 563 trước Tây lịch và mắt năm 483 trước Tây lịch.
Ngài tên là Tất - Dụt - Da vốn là Thái tư của Án Độ. con vua Tịnh - Phạn. Mầu thân là hoàng hậu Ma - Da. Năm 29 tuồi Ngãi đà quyết (âm xuất gia lầm đạo để giãi thoát khổ đau cho con ngtrời trong xã hội.
Trái qua sáu năm tu hành khô hạnh. Ngài nhận ra muốn tìm được chân lý phái theo con đường trung đạo. Sau bốn mươi chín ngày ngày nhập định dưới cây bỗ đề. Đức Phật đã giác ngộ được đạo quá vô - thượng, chính - đãng, chính - giác.
Tại vườn Lộc Uyển, Dức Phật đa bát đầu bãi pháp đẩu tiên đó là "Tử diệu đế”. Lúc bấy giờ Ngài 35 tuôi. Ngải đà đi khắp nơi truyền bá lư tường cua minh dồng thời sáng lập ra tôn giáo mới dó là Phật giáo. Tư tương Phật ban dầu được truyền miệng, sau khi Phật nhập niết bàn.
giáo pháp cùa ngãi được các chúng dệ tử kct tập lại thành giáo dicn qua bốn lần diễn ra tại những dịa diem và thời gian khác nhau đà viết thành văn. gọi là "Tam tợng” gồm: • Tạng kinh: Ghi lại lời Phật dạy. - Tạng luật: Gồm các giới luật cùa đạo Phật. - Tạng luận: Gồm các bài kinh, các (ác phẩm luận giãi, bình chú về giáo pháp cua các cao tãng.
học gia ihế hệ sau. Sự du nhập cùa Phật giáo vào nước ta Trước khi Phật giáo du nhập vào nước ta. nhân dân ta dã có dời song tín ngưỡng khá phong phú, trong đó có tín ngường đa thần như thần mây, thằn mưa, thần sấm. Đen thế kỷ thử II.
nen kinh tế phát triển, đặc biệt là chính sách mớ rộng đà thu hút các đoàn thương nhân Án Độ, trong đõ có thương nhản Phật từ và Tâng sĩ người Án Dộ. Ban đầu họ đi theo với mục đích cầu an. về sau trong quá trinh giao thương và sinh sống họ bắt đẩu truyền bá những tin ngưỡng Phật giáo vào nước la Bảng sự linh hoạt và uyển chuyền, đạo Phật đà từng bước hòa nhập váo đời sống người Việt, dược người Việt chấp nhận bời tư tirớng và triết lý nhân vãn cùa nó. Theo các cứ liệu lịch sừ.
Chữ Đồng Từ là người Phật lừ Việt Nam đầu tiên học pháp từ Phật Quang còn mang nặng mâu sắc Ân Dộ. Den Man Nương bảt đầu Việt Nam hóa dần. Sau này Man Nương được xem là người Phật mẫu trong tín ngưỡng Phật giáo Việt Nam được thờ tại chùa Phúc Nghiêm. Kế đến là tin ngưỡng lử pháp đặc biệt là Phật Pháp Vàn.
Diều đó cho 13 thấy quá trình bân địa hóa Phật giáo cùa Việt Nam và ngược lại một cách tự nhiên, nhẹ nhãng không có sự chống đoi, xung khấc với văn hóa bân địa. Sau Chữ Dồng Tử có nhiều danh sĩ bán dịa hoặc nước ngoài như Khâu Dã La và Ma Ha kỳ Vực người Án Độ. Các Tu sĩ người Trung Quốc sang lánh nạn, các nhân vật lịch sừ như Tu Định. Man Nương sinh sống ơ nước ta trong thời gian dài.
họ đà có những ánh hường nhất định với nền văn hóa nước ta và ngược lại. Trong đó có nhùng vị cao tảng liếng tám lững lẫy như Màu Tứ. Khương Tâng Hội. Qua hơn 2000 năm, Phật giáo ờ Việt Nam lúc suy, lúc thịnh qua từng thời đại có sự khác nhau.
Vào thời dại nhà Lý và nhà Trần. Phật giáo phát then cực thịnh và được xem là quốc đạo. Đen thời nhà Hậu Lê rồi Nguyền Triều, Nho giáo chiếm ưu thế phục vụ cho việc cai trị dàn tộc. Phật giáo dần suy thoái.
Khi Pháp sang xâm lược nước la, Phật giáo càng suy đồi, không còn thuần túy, cao siêu mà chì là một tôn giáo thở thần với nhiệm vụ lo việc cúng bái. Vào nhừng thập niên đầu thể kỹ XX. do anh hường phong trào chấn hưng Phật giáo trên thế giới. Phật giáo Việt Nam cùng bất đầu chuyền mình phục hưng.
các hội đoản Phật giáo miền Nam Việt Nam dã thống nhất thành Giáo HỘI Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất. Năm 19X1 chín tồ chức Phật giáo trong ca nước đà tố chức đại hội, thống nhất làm một và lấy danh hiệu là "Giảo Hội Phật Giáo Việt Nam Dù trãi qua nhiêu thảng trầm cùng vận mệnh cùa đất nước, nhưng Phật giáo luôn đồng cam cộng khố trong công cuộc dựng nước, giữ nước cùa dân lộc. Tuy hòa mình chây vào lòng dân tộc nhưng Phật giáo vẫn giữ dược vè dẹp riêng và những dóng góp to lớn. quan trọng trong đời sống linh thằn cùa nhân dân ta.
Nội dung cơ hán của Phật giáo ì. Thuyết Nhân - duyên - qua Theo đức Phật con người làm chu các hành vi cua minh, con người làm chủ số phận cùa mình. Không có một đấng quyền năng nào ban phát số phận cua con người mà chi có họ mới tạo nên sổ phận cùa chính mình mà tất cà đều tuân theo quy luật Iiliân - duyên - quá hay côn gọi là luật Nhân quà. Luật nhân quá là cái hoàn toàn tự nhiên, thiên nhiên không chi trong thề giới con người mà cà trong vù trụ và vạn vật Luật này con người không thế dật ra mà chi có thê khám phá ra Nhân là chi nguyên nhân, quả là kết quá.
Nhân quá là một định luật lẩl nhiên có tương quan mật thiết với nhau và chi phối tất cà mọi vật. Tuy nhiên, nhân quá là một định luật năm 14 trong lý nhân duyên. Trong vũ trụ mọi vật đcu có mối quan hệ mật thiết với nhau, kế thừa nhau. Hay nói đúng hơn là mọi vật đều có nhân duyên với nhau, không có cái nào biệt lập với cái nào.
nhân lã chinh cua quá và ngược lại. Tuy nhiên, đe đi từ nhân đen quã phái có yếu 10 duyên. Duyên là quá trình, là yếu tố quyết định từ nhân dền qua. Chảng hạn một qua trứng không thê nơ ra con gà nếu không có điều kiện nhiệt độ thích hợp ta gọi trứng là nhân, gà là quà, nhiệt dộ là duyên.
Mọi sự vật trong vù trụ đều là do nhiều nhân duyên hợp thành, không có nhàn nào lự kết thành quà nếu không có duyên, không có nhân nào tồn tại độc lập mà không có sự trợ duyên cua các nhân khác. Nhân nào thì quá ấy. Nhân tốt cho ra qua tốt vã ngược lại. Hay đúng hơn nhân đi đôi với qua.
khi thay đổi nhân thì quá cùng thay đổi. gieo nhân càng nhiều thì gặt qua càng nhiều. Nhưng quá còn phụ thuộc vào duyên ví dụ ta gieo thật nhiều đậu nếu không lưới nước, bón phân thì chăn chần hạt náy mầm sỗ ít quả không nhiều Vì the. con người có the thay dồi quà bàng cách thay đổi duyên.
Trong cuộc sống con người cần gieo nhân lãnh thì mới gộp quá tốt. gieo nhân ác đương nhiên sỗ gặp quá xấu. Tuy nhiên, nếu la lầm lỡ làm diều sai la cổ gắng thay đồi duyên bảng cách sám hối. tu tập sứa minh đe tránh nhừng quá xấu.
Sự phái triển lừ nhân đến quà không nhầl thiết như nhau, có khi nhanh hoặc chậm tùy vào duyên.