Cấu trúc xã hội của cư dân làng nghề tại đồng bằng sông Hồng hiện nay

Tài liệu nghiên cứu Luận án cấu trúc xã hội của cư dân làng nghề đồng bằng sông hồng hiện nay, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về .

Chuyên ngành

Xã Hội Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2014

188
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1. Hướng nghiên cứu về cấu trúc xã hội - dân số làng nghề

1.2. Hướng nghiên cứu về cấu trúc xã hội - gia đình làng nghề

1.3. Hướng nghiên cứu về cấu trúc xã hội - nghề nghiệp làng nghề

1.4. Hướng nghiên cứu về cấu trúc xã hội - dân số làng nghề

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẤU TRÚC XÃ HỘI CỦA CƯ DÂN LÀNG NGHỀ

2.1. Các khái niệm cơ bản

2.2. Một số lý thuyết

2.3. Một số quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước liên quan đến đề tài

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CẤU TRÚC XÃ HỘI CỦA CƯ DÂN LÀNG NGHỀ

3.1. Một số đặc điểm của làng nghề đồng bằng sông Hồng

3.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội và làng nghề ở huyện Thường tín

3.3. Đặc điểm kinh tế - xã hội của xã Vạn Điêm và xã Duyên Thái

3.4. Các phân hệ cấu trúc xã hội của làng nghề đồ gỗ Vạn Điểm và làng nghề sơn mài Hạ Thái

3.5. Phân tích mô hình công ty nghề và mô hình gia đình nghề của làng nghề gỗ Vạn điểm và làng nghề sơn mài Hạ thái

4. CHƯƠNG 4: CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CẤU TRÚC XÃ HỘI CƯ DÂN LÀNG NGHỀ VÀ GỢI Ý MỘT SỐ GIẢI PHÁP

4.1. Một số yếu tố tác động đến cấu trúc xã hội cư dân làng nghề

4.2. Một số vấn đề đặt ra và gợi ý một số giải pháp

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giới thiệu về cấu trúc xã hội cư dân làng nghề đồng bằng sông Hồng

Cấu trúc xã hội cư dân làng nghề đồng bằng sông Hồng phản ánh sự đa dạng và phong phú trong các mối quan hệ xã hội, kinh tế và văn hóa. Cư dân làng nghề không chỉ là những người sản xuất mà còn là những thành viên tích cực trong cộng đồng. Sự phát triển của làng nghề truyền thống đã tạo ra một mạng lưới xã hội chặt chẽ, nơi mà các mối quan hệ gia đình, bạn bè và đồng nghiệp được củng cố. Theo báo cáo, các làng nghề ở đồng bằng sông Hồng đã đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế - xã hội của khu vực, đồng thời bảo tồn và phát huy văn hóa cư dân. Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc nghiên cứu cấu trúc xã hội trong bối cảnh hiện đại hóa và đô thị hóa.

1.1. Đặc điểm của làng nghề đồng bằng sông Hồng

Làng nghề đồng bằng sông Hồng có những đặc điểm riêng biệt, bao gồm sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại. Ngành nghề truyền thống như gốm, mây tre đan, và đồ gỗ không chỉ mang lại thu nhập mà còn giữ gìn bản sắc văn hóa. Sự phát triển của các mô hình gia đình nghềcông ty nghề đã tạo ra một hệ thống sản xuất linh hoạt, giúp cư dân thích ứng với những thay đổi của thị trường. Theo nghiên cứu, các làng nghề này thường có quy mô nhỏ, nhưng lại có khả năng tạo ra giá trị kinh tế cao nhờ vào sự khéo léo và sáng tạo của người dân. Điều này cho thấy sự cần thiết phải bảo tồn và phát triển các làng nghề này trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

II. Các yếu tố tác động đến cấu trúc xã hội cư dân làng nghề

Cấu trúc xã hội của cư dân làng nghề bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, bao gồm kinh tế làng nghề, văn hóa cư dân, và xã hội nông thôn. Sự chuyển mình của nền kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp đã tạo ra những thay đổi lớn trong cấu trúc xã hội. Các yếu tố như chính sách của Nhà nước, sự phát triển của hạ tầng cơ sở, và xu hướng đô thị hóa đã tác động mạnh mẽ đến đời sống của cư dân. Nghiên cứu cho thấy, những làng nghề có sự hỗ trợ từ chính quyền địa phương thường phát triển mạnh mẽ hơn, nhờ vào việc tiếp cận các nguồn lực và thị trường. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng chính sách phù hợp để phát huy thế mạnh của làng nghề truyền thống.

2.1. Tác động của chính sách và môi trường kinh tế

Chính sách phát triển làng nghề của Nhà nước có vai trò quan trọng trong việc định hình cấu trúc xã hội của cư dân. Các chương trình hỗ trợ tài chính, đào tạo nghề, và phát triển hạ tầng đã giúp cư dân nâng cao năng lực sản xuất và cải thiện đời sống. Theo số liệu thống kê, những làng nghề được đầu tư phát triển thường có mức thu nhập cao hơn và tỷ lệ thất nghiệp thấp hơn. Điều này cho thấy rằng, việc xây dựng một môi trường kinh tế thuận lợi là yếu tố then chốt để phát triển bền vững các làng nghề truyền thống.

III. Thực trạng cấu trúc xã hội cư dân làng nghề

Thực trạng cấu trúc xã hội cư dân làng nghề đồng bằng sông Hồng cho thấy sự phân tầng rõ rệt giữa các nhóm nghề nghiệp. Nghề nghiệp truyền thống vẫn giữ vai trò chủ đạo, nhưng có sự xuất hiện của các ngành nghề mới, tạo ra sự đa dạng trong cấu trúc xã hội. Nghiên cứu cho thấy, cư dân làng nghề thường có trình độ học vấn cao hơn so với trước đây, điều này giúp họ dễ dàng tiếp cận với công nghệ mới và thị trường. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại những thách thức như ô nhiễm môi trường và sự cạnh tranh từ các sản phẩm công nghiệp. Điều này đòi hỏi cần có những giải pháp đồng bộ để bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.

3.1. Phân tích mô hình gia đình nghề

Mô hình gia đình nghề trong các làng nghề đồng bằng sông Hồng thể hiện sự kết hợp giữa sản xuất và sinh hoạt. Các gia đình thường tham gia vào sản xuất hàng hóa, đồng thời duy trì các giá trị văn hóa truyền thống. Nghiên cứu cho thấy, mô hình này không chỉ giúp tăng cường sự gắn kết trong gia đình mà còn tạo ra một mạng lưới hỗ trợ lẫn nhau giữa các hộ gia đình. Điều này góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của các sản phẩm làng nghề trên thị trường. Tuy nhiên, sự thay đổi trong cấu trúc gia đình và xu hướng đô thị hóa đang đặt ra nhiều thách thức cho mô hình này.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. HƯỚNG NGHIÊN CỨU VỀ CẤU TRÚC XÃ HỘI - DÂN SỐ LÀNG NGHỀ Nghiên cứu về cấu trúc giới tính, cấu trúc tuổi trong lao động và tổ chức sản xuất làng nghề, tác giả Bùi Xuân Đính trong công trình Làng nghề thủ công huyện Thanh Oai (Hà Nội) truyền thống và biến đổi đã mô tả khung tổ chức lao động trong làng nghề, với mô hình “gia đình”. Thành phần lao động bao gồm tất cả các thành viên trong gia đình từ lớn tuổi nhất đến nhỏ tuổi nhất và nam giới vẫn giữ vị trí quan trọng trong các công việc chủ chốt, còn nữ giới giữ vị trí quan trọng trong các công việc đòi hỏi sự tinh xảo, khéo léo. Trong sản xuất nghề làm quạt “khâu đơn giản là xếp các nan đã được chẻ thành bộ, trẻ em từ 12 tuổi đã có thể làm được.

Trẻ 14 tuổi chốt đinh đầu (chốt nhài), 16 tuổi phất quạt (song việc này phụ nữ làm là chính, chính vì sự nhẹ nhàng, nếu làm mạnh tay, giấy sẽ bị rách). Các công đoạn còn lại chủ yếu là do nam giới” [24, tr. Trong phân công lao động theo giới ở làng nghề thì phần lớn nam giới ở độ tuổi thanh niên hoặc trung niên tham gia gián tiếp, tập trung ở công đoạn: liên hệ mua nguyên vật liệu, tìm thị trường tiêu thụ và thực hiện các giao dịch mua bán [24, tr. Nghiên cứu này của tác giả là gợi ý thú vị cho luận án tìm hiểu nhóm xã hội theo độ tuổi, theo giới tính trong cấu trúc xã hội - dân số làng nghề.

Báo cáo của Bộ Tài nguyên và môi trường về môi trường làng nghề Việt Nam, năm 2008 đã đưa ra thống kê cụ thể về các biểu hiện thay đổi số lượng lao động thủ công và các hiệp hội làng nghề cho thấy sự thay đổi tích cực về số lượng cũng như thành phần tham gia sản xuất, thúc đẩy mô hình sản xuất làng nghề với quy mô lớn hơn về nhân công. Báo cáo cho biết làng nghề đã thu hút nhiều thành phần kinh tế cùng tham gia, trong đó kinh tế tập thể chiếm 18%, doanh nghiệp tư nhân chiếm 10% và kinh tế cá thể chiếm 72%; 15 không chỉ thu hút nhiều thành phần tham gia mà ngành thủ công mỹ nghệ còn thu hút số lượng lao động cũng đã tăng lên tới 11 triệu lao động chiếm 30% lao động nông thôn. Tỷ lệ thời gian làm việc sử dụng lao động trong độ tuổi của khu vực nông thôn năm 2005 chiếm 80%. Các làng nghề cũng đã dần xuất hiện chuyên môn hóa với các hội như: hội nghề nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa ngành nghề nông thôn hoặc các trung tâm giao lưu buôn bán, cụm dân cư [trích theo 9, tr.

Về trình độ kỹ thuật ở các làng nghề hiện nay cho thấy trong cấu trúc lao động về mặt chuyên môn kỹ thuật phần lớn là lao động chân tay, thủ công. Theo kết quả điều tra của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn “chất lượng lao động và trình độ chuyên môn kỹ thuật ở các làng nghề nhìn chung còn thấp, chủ yếu là lao động phổ thông, số lao động chỉ tốt nghiệp cấp I, II chiếm trên 60%” [9, tr15]. Điều này gợi ý tác giả luận án tiếp tục nghiên cứu về nguồn nhân lực của làng nghề. Qua cấu trúc lao động về chuyên môn kỹ thuật như vậy có thể thấy phần lớn công nghệ và kỹ thuật áp dụng cho sản xuất trong các làng nghề nông thôn còn lạc hậu, tính cổ truyền chưa được chọn lọc và đầu tư khoa học kỹ thuật để nâng cao chất lượng sản phẩm còn thấp, do đó chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường và khó có thể nâng cao sức cạnh tranh.

Nghiên cứu về chất lượng lao động làng nghề, tác giả Trần Minh Yến với nghiên cứu về Làng nghề truyền thống ở nông thôn Việt Nam đã đưa ra bức tranh tổng quan về chất lượng lao động ở làng nghề. Trong đó số người có trình độ học vấn cao chiếm một tỉ trọng thấp, còn đa số lao động có trình độ học vấn trung học cơ sở trở xuống. Cụ thể nghiên cứu này cho thấy cần có sự quan tâm hơn về trình độ học vấn của lao động làng nghề, bởi tính chất làng nghề nên trình độ học vấn chưa được coi trọng không chỉ trong đối tượng thợ, mà ngay cả đối tượng là các chủ doanh nghiệp thì trình độ và kiến thức 16 quản lý vẫn còn hạn chế [109]. Cấu trúc lao động về trình độ học vấn là một trong những điểm yếu có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả sản xuất, chất lượng sản phẩm và bảo vệ môi trường trong hoạt động của các làng nghề.

Về đặc trưng các mối quan hệ trong làng nghề: Trong bài viết Phong trào khôi phục tập quán - tín ngưỡng cổ truyền ở một số làng xã vùng châu thổ sông Hồng của Lê Mạnh Năm [trích theo 69, tr.60-66], và bài viết Người nông dân đồng bằng sông Hồng và quan hệ cộng đồng trong thời kỳ đổi mới của Nguyễn Đức Truyến [trích theo 96, tr.45-51] đều cùng nhấn mạnh mối quan hệ làng - xã chủ yếu dựa trên truyền thống, vận hành theo những nguyên tắc tổ chức, các nhóm xã hội khác nhau, các tác giả đã phân tích làm rõ thêm mô hình họ hàng, thôn xóm như một đơn vị kinh tế, với các hoạt động nghi lễ thờ cúng tổ tiên, các sự kiện quan trọng trong hộ gia đình, sự giúp đỡ, tương trợ lẫn nhau, tương tự các vị trí quan trọng, chủ chốt trong làng cũng sẽ được phân chia theo dòng họ nào có đông người hơn trong làng, xóm. Các nghiên cứu này giúp tác giả hình dung ra những hoạt động của các nhóm xã hội trong nông thôn đồng bằng sông Hồng. Tương tự, nhóm tác giả Mai Văn Hai và cộng sự viết về Bản sắc làng việt trình bày tính cộng đồng làng xã với chế độ công điền, công thổ đã hình thành tâm lý bám làng, tập trung quần tụ và chia sẻ công việc cho tất cả mọi người [31]. Cùng nghiên cứu về vấn đề này, tác giả Nguyễn Thị Phương Châm trong tác phẩm Biến đổi văn hóa ở các làng quê hiện nay với trường hợp làng Đồng Kỵ, Trang Liệt và Đình Bảng thuộc huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh đã đưa ra những đặc trưng biến đổi văn hóa làng trong sự phát triển kinh tế hiện nay.

Cụ thể là “quan hệ làng xóm trong các làng vẫn giữ được tính chất của làng quê xưa: đoàn kết, tình nghĩa. Đặc biệt, trong điều kiện kinh tế thị trường phát triển hiện nay sự đoàn kết, nghĩa tình này còn được củng cố hơn trước” 17 [12, tr. Song “cũng không quá khó để nhận ra một số những mâu thuẫn đã nảy sinh trong quan hệ làng xóm và đã xuất hiện những cạnh tranh mang tính chất thể diện trong cộng đồng”. Đặc biệt những làng buôn, làng nghề tiểu thủ công nghiệp có tốc độ sản xuất và phát triển không ngừng nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của thị trường trong và ngoài nước [12].

Công trình này, giúp tác giả nhận diện và có ý tưởng nghiên cứu sự kết nối cấu trúc xã hội giữa truyền thống và hiện đại ở các làng nghề đồng bằng sông Hồng hiện nay. Trong quá trình chuyển đổi về cấu trúc xã hội - dân số của làng nghề tại nông thôn đã xuất hiện sự phân tầng xã hội trên tất cả các mặt, đặc biệt phân tầng trong các yếu tố của dân số như lao động, mức sống, trình độ, v.v, theo như Talcott Parsons, sự phân tầng chính là kết quả trực tiếp của sự phân công lao động xã hội và sự phân hóa giữa các nhóm xã hội khác nhau [120, tr. Nghiên cứu về vấn đề này, tác giả Tô Duy Hợp khi bàn về Thực trạng và xu hướng chuyển đổi cơ cấu xã hội nông thôn đồng bằng Bắc Bộ hiện nay đã trình bày các mô hình phân tầng trong làng - xã, như xuất hiện các tầng gia đình giàu, khá giả, trung bình và nghèo. Trong đó có sự phân tầng của những làng nghề truyền thống, sự phân hóa rõ rệt của từng làng về mức thu nhập tạo ra đặc trưng thu nhập cho các hộ tại từng làng, góp phần hTnh thành nên các cấu trúc xã hội kiểu mới [42, tr.

Tóm lại, các nghiên cứu về cấu trúc xã hội - dân số có ý nghĩa về mặt thực tiễn hết sức to lớn đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa công nghiệp nông thôn Việt Nam. Thông qua quá trình nghiên cứu tài liệu của các tác giả như Bùi Xuân Đính, Trần Minh Yến, Lê Mạnh Năm, Mai Văn Hai và cộng sự, Nguyễn Thị Phương Châm, Tô Duy Hợp và báo cáo của Bộ Tài nguyên và môi trường về Môi trường làng nghề Việt Nam đã giải quyết được nhiều vấn đề về dân số đang tồn đọng tại các làng nghề của nông thôn Việt 18 Nam như thất nghiệp, tệ nạn, nghèo đói, đào tạo. Tuy nhiên, bên cạnh đó, các làng nghề vẫn không tránh khỏi những biến đổi tiêu cực trong quá trình biến đổi cấu trúc xã hội - dân số, điều đó đòi hỏi cần có sự nghiên cứu khoa học và lâu dài đối với các đối tượng của cấu trúc xã hội - dân số làng nghề nhằm phát triển làng nghề nói chung và phát triển cấu trúc xã hội - dân số bền vững trong các làng nghề nói riêng. HƯỚNG NGHIÊN CỨU VỀ CẤU TRÚC XÃ HỘI - GIA ĐÌNH LÀNG NGHỀ Sự phân tầng xã hội ở nông thôn nói chung đã dẫn đến sự phân tầng trong từng đơn vị của làng - xã, trong đó có các gia đình.

Về điều này, tác giả Trương Xuân Trường với Một số biến đổi kinh tế - xã hội ở nông thôn vùng châu thổ sông Hồng hiện nay đã đưa ra các chỉ số sinh hoạt gia đình dưới tác động của nền kinh tế thị trường, từ đó dẫn đến sự biến đổi trong cấu trúc gia đình về quy mô, vai trò gia đình, vị thế chủ hộ và các mối quan hệ thứ bậc - trên dưới, quan hệ giới trong gia đình. Điều đó thể hiện rõ trong quan điểm về việc lập gia đình. Nghiên cứu này chỉ rõ rằng quan điểm lập gia đình giờ đã thay đổi so với trước. Thành viên trong gia đình lập gia đình là tự bản thân quyết định, khác với truyền thống chủ yếu là do sự sắp xếp của cha mẹ.

Ngoài ra kinh tế hộ gia đình đã được coi trọng, cấu trúc gia đình hạt nhân hai thế hệ dần thay thế gia đình nhiều thế hệ; quy mô trung bình có từ 4 - 5 nhân khẩu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Cấu trúc xã hội của cư dân làng nghề tại đồng bằng sông Hồng hiện nay" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tổ chức xã hội và các mối quan hệ trong cộng đồng cư dân làng nghề tại khu vực đồng bằng sông Hồng. Tác giả phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc xã hội, từ truyền thống đến hiện đại, và cách mà các yếu tố này tương tác với nhau trong bối cảnh phát triển kinh tế và xã hội hiện nay. Bài viết không chỉ giúp độc giả hiểu rõ hơn về đặc điểm xã hội của cư dân làng nghề mà còn mở ra những vấn đề nghiên cứu thú vị cho những ai quan tâm đến xã hội học và văn hóa địa phương.

Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo bài viết "Luận văn về chính sách trợ giúp xã hội tại Thái Bình trong lĩnh vực xã hội học", nơi cung cấp cái nhìn về chính sách xã hội trong một bối cảnh khác tại Việt Nam. Ngoài ra, bài viết "Luận văn thạc sĩ về ẩn dụ tri nhận trong thơ Nguyễn Bính" cũng có thể mang lại những góc nhìn thú vị về văn hóa và xã hội thông qua nghệ thuật ngôn từ. Cuối cùng, bài viết "Luận văn về hôn nhân và gia đình của người Khơ Mú ở huyện Phương, tỉnh Viêng Chăn, Lào (1975-2015)" sẽ giúp bạn khám phá thêm về cấu trúc gia đình và các mối quan hệ xã hội trong một cộng đồng dân tộc khác. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn đa chiều hơn về các vấn đề xã hội học tại Việt Nam.