Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. HƯỚNG NGHIÊN CỨU VỀ CẤU TRÚC XÃ HỘI - DÂN SỐ LÀNG NGHỀ Nghiên cứu về cấu trúc giới tính, cấu trúc tuổi trong lao động và tổ chức sản xuất làng nghề, tác giả Bùi Xuân Đính trong công trình Làng nghề thủ công huyện Thanh Oai (Hà Nội) truyền thống và biến đổi đã mô tả khung tổ chức lao động trong làng nghề, với mô hình “gia đình”. Thành phần lao động bao gồm tất cả các thành viên trong gia đình từ lớn tuổi nhất đến nhỏ tuổi nhất và nam giới vẫn giữ vị trí quan trọng trong các công việc chủ chốt, còn nữ giới giữ vị trí quan trọng trong các công việc đòi hỏi sự tinh xảo, khéo léo. Trong sản xuất nghề làm quạt “khâu đơn giản là xếp các nan đã được chẻ thành bộ, trẻ em từ 12 tuổi đã có thể làm được.
Trẻ 14 tuổi chốt đinh đầu (chốt nhài), 16 tuổi phất quạt (song việc này phụ nữ làm là chính, chính vì sự nhẹ nhàng, nếu làm mạnh tay, giấy sẽ bị rách). Các công đoạn còn lại chủ yếu là do nam giới” [24, tr. Trong phân công lao động theo giới ở làng nghề thì phần lớn nam giới ở độ tuổi thanh niên hoặc trung niên tham gia gián tiếp, tập trung ở công đoạn: liên hệ mua nguyên vật liệu, tìm thị trường tiêu thụ và thực hiện các giao dịch mua bán [24, tr. Nghiên cứu này của tác giả là gợi ý thú vị cho luận án tìm hiểu nhóm xã hội theo độ tuổi, theo giới tính trong cấu trúc xã hội - dân số làng nghề.
Báo cáo của Bộ Tài nguyên và môi trường về môi trường làng nghề Việt Nam, năm 2008 đã đưa ra thống kê cụ thể về các biểu hiện thay đổi số lượng lao động thủ công và các hiệp hội làng nghề cho thấy sự thay đổi tích cực về số lượng cũng như thành phần tham gia sản xuất, thúc đẩy mô hình sản xuất làng nghề với quy mô lớn hơn về nhân công. Báo cáo cho biết làng nghề đã thu hút nhiều thành phần kinh tế cùng tham gia, trong đó kinh tế tập thể chiếm 18%, doanh nghiệp tư nhân chiếm 10% và kinh tế cá thể chiếm 72%; 15 không chỉ thu hút nhiều thành phần tham gia mà ngành thủ công mỹ nghệ còn thu hút số lượng lao động cũng đã tăng lên tới 11 triệu lao động chiếm 30% lao động nông thôn. Tỷ lệ thời gian làm việc sử dụng lao động trong độ tuổi của khu vực nông thôn năm 2005 chiếm 80%. Các làng nghề cũng đã dần xuất hiện chuyên môn hóa với các hội như: hội nghề nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa ngành nghề nông thôn hoặc các trung tâm giao lưu buôn bán, cụm dân cư [trích theo 9, tr.
Về trình độ kỹ thuật ở các làng nghề hiện nay cho thấy trong cấu trúc lao động về mặt chuyên môn kỹ thuật phần lớn là lao động chân tay, thủ công. Theo kết quả điều tra của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn “chất lượng lao động và trình độ chuyên môn kỹ thuật ở các làng nghề nhìn chung còn thấp, chủ yếu là lao động phổ thông, số lao động chỉ tốt nghiệp cấp I, II chiếm trên 60%” [9, tr15]. Điều này gợi ý tác giả luận án tiếp tục nghiên cứu về nguồn nhân lực của làng nghề. Qua cấu trúc lao động về chuyên môn kỹ thuật như vậy có thể thấy phần lớn công nghệ và kỹ thuật áp dụng cho sản xuất trong các làng nghề nông thôn còn lạc hậu, tính cổ truyền chưa được chọn lọc và đầu tư khoa học kỹ thuật để nâng cao chất lượng sản phẩm còn thấp, do đó chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường và khó có thể nâng cao sức cạnh tranh.
Nghiên cứu về chất lượng lao động làng nghề, tác giả Trần Minh Yến với nghiên cứu về Làng nghề truyền thống ở nông thôn Việt Nam đã đưa ra bức tranh tổng quan về chất lượng lao động ở làng nghề. Trong đó số người có trình độ học vấn cao chiếm một tỉ trọng thấp, còn đa số lao động có trình độ học vấn trung học cơ sở trở xuống. Cụ thể nghiên cứu này cho thấy cần có sự quan tâm hơn về trình độ học vấn của lao động làng nghề, bởi tính chất làng nghề nên trình độ học vấn chưa được coi trọng không chỉ trong đối tượng thợ, mà ngay cả đối tượng là các chủ doanh nghiệp thì trình độ và kiến thức 16 quản lý vẫn còn hạn chế [109]. Cấu trúc lao động về trình độ học vấn là một trong những điểm yếu có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả sản xuất, chất lượng sản phẩm và bảo vệ môi trường trong hoạt động của các làng nghề.
Về đặc trưng các mối quan hệ trong làng nghề: Trong bài viết Phong trào khôi phục tập quán - tín ngưỡng cổ truyền ở một số làng xã vùng châu thổ sông Hồng của Lê Mạnh Năm [trích theo 69, tr.60-66], và bài viết Người nông dân đồng bằng sông Hồng và quan hệ cộng đồng trong thời kỳ đổi mới của Nguyễn Đức Truyến [trích theo 96, tr.45-51] đều cùng nhấn mạnh mối quan hệ làng - xã chủ yếu dựa trên truyền thống, vận hành theo những nguyên tắc tổ chức, các nhóm xã hội khác nhau, các tác giả đã phân tích làm rõ thêm mô hình họ hàng, thôn xóm như một đơn vị kinh tế, với các hoạt động nghi lễ thờ cúng tổ tiên, các sự kiện quan trọng trong hộ gia đình, sự giúp đỡ, tương trợ lẫn nhau, tương tự các vị trí quan trọng, chủ chốt trong làng cũng sẽ được phân chia theo dòng họ nào có đông người hơn trong làng, xóm. Các nghiên cứu này giúp tác giả hình dung ra những hoạt động của các nhóm xã hội trong nông thôn đồng bằng sông Hồng. Tương tự, nhóm tác giả Mai Văn Hai và cộng sự viết về Bản sắc làng việt trình bày tính cộng đồng làng xã với chế độ công điền, công thổ đã hình thành tâm lý bám làng, tập trung quần tụ và chia sẻ công việc cho tất cả mọi người [31]. Cùng nghiên cứu về vấn đề này, tác giả Nguyễn Thị Phương Châm trong tác phẩm Biến đổi văn hóa ở các làng quê hiện nay với trường hợp làng Đồng Kỵ, Trang Liệt và Đình Bảng thuộc huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh đã đưa ra những đặc trưng biến đổi văn hóa làng trong sự phát triển kinh tế hiện nay.
Cụ thể là “quan hệ làng xóm trong các làng vẫn giữ được tính chất của làng quê xưa: đoàn kết, tình nghĩa. Đặc biệt, trong điều kiện kinh tế thị trường phát triển hiện nay sự đoàn kết, nghĩa tình này còn được củng cố hơn trước” 17 [12, tr. Song “cũng không quá khó để nhận ra một số những mâu thuẫn đã nảy sinh trong quan hệ làng xóm và đã xuất hiện những cạnh tranh mang tính chất thể diện trong cộng đồng”. Đặc biệt những làng buôn, làng nghề tiểu thủ công nghiệp có tốc độ sản xuất và phát triển không ngừng nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu thụ của thị trường trong và ngoài nước [12].
Công trình này, giúp tác giả nhận diện và có ý tưởng nghiên cứu sự kết nối cấu trúc xã hội giữa truyền thống và hiện đại ở các làng nghề đồng bằng sông Hồng hiện nay. Trong quá trình chuyển đổi về cấu trúc xã hội - dân số của làng nghề tại nông thôn đã xuất hiện sự phân tầng xã hội trên tất cả các mặt, đặc biệt phân tầng trong các yếu tố của dân số như lao động, mức sống, trình độ, v.v, theo như Talcott Parsons, sự phân tầng chính là kết quả trực tiếp của sự phân công lao động xã hội và sự phân hóa giữa các nhóm xã hội khác nhau [120, tr. Nghiên cứu về vấn đề này, tác giả Tô Duy Hợp khi bàn về Thực trạng và xu hướng chuyển đổi cơ cấu xã hội nông thôn đồng bằng Bắc Bộ hiện nay đã trình bày các mô hình phân tầng trong làng - xã, như xuất hiện các tầng gia đình giàu, khá giả, trung bình và nghèo. Trong đó có sự phân tầng của những làng nghề truyền thống, sự phân hóa rõ rệt của từng làng về mức thu nhập tạo ra đặc trưng thu nhập cho các hộ tại từng làng, góp phần hTnh thành nên các cấu trúc xã hội kiểu mới [42, tr.
Tóm lại, các nghiên cứu về cấu trúc xã hội - dân số có ý nghĩa về mặt thực tiễn hết sức to lớn đối với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa công nghiệp nông thôn Việt Nam. Thông qua quá trình nghiên cứu tài liệu của các tác giả như Bùi Xuân Đính, Trần Minh Yến, Lê Mạnh Năm, Mai Văn Hai và cộng sự, Nguyễn Thị Phương Châm, Tô Duy Hợp và báo cáo của Bộ Tài nguyên và môi trường về Môi trường làng nghề Việt Nam đã giải quyết được nhiều vấn đề về dân số đang tồn đọng tại các làng nghề của nông thôn Việt 18 Nam như thất nghiệp, tệ nạn, nghèo đói, đào tạo. Tuy nhiên, bên cạnh đó, các làng nghề vẫn không tránh khỏi những biến đổi tiêu cực trong quá trình biến đổi cấu trúc xã hội - dân số, điều đó đòi hỏi cần có sự nghiên cứu khoa học và lâu dài đối với các đối tượng của cấu trúc xã hội - dân số làng nghề nhằm phát triển làng nghề nói chung và phát triển cấu trúc xã hội - dân số bền vững trong các làng nghề nói riêng. HƯỚNG NGHIÊN CỨU VỀ CẤU TRÚC XÃ HỘI - GIA ĐÌNH LÀNG NGHỀ Sự phân tầng xã hội ở nông thôn nói chung đã dẫn đến sự phân tầng trong từng đơn vị của làng - xã, trong đó có các gia đình.
Về điều này, tác giả Trương Xuân Trường với Một số biến đổi kinh tế - xã hội ở nông thôn vùng châu thổ sông Hồng hiện nay đã đưa ra các chỉ số sinh hoạt gia đình dưới tác động của nền kinh tế thị trường, từ đó dẫn đến sự biến đổi trong cấu trúc gia đình về quy mô, vai trò gia đình, vị thế chủ hộ và các mối quan hệ thứ bậc - trên dưới, quan hệ giới trong gia đình. Điều đó thể hiện rõ trong quan điểm về việc lập gia đình. Nghiên cứu này chỉ rõ rằng quan điểm lập gia đình giờ đã thay đổi so với trước. Thành viên trong gia đình lập gia đình là tự bản thân quyết định, khác với truyền thống chủ yếu là do sự sắp xếp của cha mẹ.
Ngoài ra kinh tế hộ gia đình đã được coi trọng, cấu trúc gia đình hạt nhân hai thế hệ dần thay thế gia đình nhiều thế hệ; quy mô trung bình có từ 4 - 5 nhân khẩu.