Tổng quan luận án
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Làng nghề truyền thống giữ vai trò quan trọng trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn Việt Nam, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng "ly nông bất ly hương", giải quyết việc làm và gia tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ. Trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng Cộng sản Việt Nam đã định hướng: "Phát triển mạnh công nghiệp, dịch vụ và làng nghề gắn với bảo vệ môi trường. Triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới phù hợp với đặc điểm từng vùng theo các bước đi cụ thể, vững chắc trong từng giai đoạn; giữ gìn và phát huy những truyền thống văn hoá tốt đẹp của nông thôn Việt Nam". Vùng đồng bằng sông Hồng với bề dày văn minh lúa nước là cái nôi hình thành mạng lưới làng nghề phong phú. Huyện Thường Tín (thành phố Hà Nội) sở hữu 46 làng nghề được công nhận trên tổng số 126 làng có nghề, phản ánh đầy đủ đặc điểm chuyển đổi từ truyền thống sang hiện đại dưới tác động của đô thị hóa và hội nhập kinh tế.
Về mặt lý luận, các công trình nghiên cứu trước đây về làng nghề chủ yếu tiếp cận dưới góc độ kinh tế học hoặc văn hóa học, tập trung vào thị trường, vốn, công nghệ hoặc phong tục, lễ hội. Mảng nghiên cứu chuyên sâu từ xã hội học về cấu trúc xã hội làng nghề còn hạn chế, đặc biệt là việc phân tích cấu trúc xã hội với tính cách là một hệ thống quan hệ xã hội đan xen giữa các chiều cạnh "ngang" (các nhóm xã hội, nghề nghiệp) và "dọc" (phân tầng xã hội theo kinh tế, chính trị, uy tín). Việc thiếu vắng các nghiên cứu vận dụng các lý thuyết xã hội học hiện đại (như lý thuyết hệ thống xã hội và lý thuyết cấu trúc hóa) để giải thích quá trình biến đổi các phân hệ cấu trúc xã hội làng nghề chính là khoảng trống khoa học mà luận án xác định giải quyết.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là tìm hiểu cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng các phân hệ cấu trúc xã hội của cư dân làng nghề và phân tích các yếu tố tác động; từ đó nhận định các vấn đề đặt ra và gợi ý giải pháp phát huy thế mạnh cấu trúc xã hội của cư dân làng nghề đồng bằng sông Hồng trong thời kỳ đổi mới.
Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu:
- Làm rõ cơ sở lý luận, các khái niệm nghiên cứu cấu trúc xã hội của cư dân làng nghề đồng bằng sông Hồng hiện nay.
- Khảo sát thực địa, phân tích thực trạng các phân hệ của cấu trúc xã hội cư dân làng nghề đồ gỗ Vạn Điểm (xã Vạn Điểm) và làng nghề sơn mài Hạ Thái (xã Duyên Thái) thuộc huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội.
- Phân tích các yếu tố tác động đến các phân hệ cấu trúc xã hội cư dân làng nghề.
- Nhận định một số vấn đề đặt ra và gợi ý một số giải pháp nhằm hoàn thiện cấu trúc xã hội của cư dân làng nghề đồng bằng sông Hồng.
Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
Luận án giải quyết 3 câu hỏi nghiên cứu:
- Cấu trúc xã hội của cư dân làng nghề đồng bằng sông Hồng hiện nay biểu hiện như thế nào qua các phân hệ cấu trúc xã hội?
- Phân hệ cấu trúc xã hội nào là nổi bật nhất trong cấu trúc xã hội của cư dân làng nghề đồng bằng sông Hồng hiện nay?
- Cấu trúc xã hội với các phân hệ của nó chịu tác động như thế nào từ các yếu tố nào ở làng nghề đồng bằng sông Hồng?
Tương ứng với các câu hỏi là 3 giả thuyết nghiên cứu:
- Giả thuyết 1: Cấu trúc xã hội của cư dân làng nghề đồng bằng sông Hồng hiện nay gồm các phân hệ cơ bản: cấu trúc xã hội - dân số, cấu trúc xã hội - gia đình, cấu trúc xã hội - nghề nghiệp, cấu trúc xã hội - mức sống.
- Giả thuyết 2: Cấu trúc xã hội của cư dân làng nghề đồng bằng sông Hồng hiện nay nổi bật nhất là phân hệ cấu trúc xã hội - nghề nghiệp theo mô hình gia đình nghề và mô hình công ty nghề.
- Giả thuyết 3: Các phân hệ cấu trúc xã hội của cư dân làng nghề đồng bằng sông Hồng chịu tác động chủ yếu từ đặc điểm nhân khẩu - xã hội của chủ hộ gia đình và loại nghề của hộ gia đình.
Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các phân hệ cấu trúc xã hội của cư dân làng nghề đồng bằng sông Hồng hiện nay.
- Khách thể nghiên cứu: Cư dân làng nghề đồ gỗ và làng nghề sơn mài ở huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội.
- Phạm vi thời gian: Thu thập và khảo sát dữ liệu thực tế từ năm 2012 đến năm 2014.
- Phạm vi không gian: Làng Vạn Điểm, xã Vạn Điểm (làng nghề đồ gỗ Vạn Điểm) và làng Hạ Thái, xã Duyên Thái (làng nghề sơn mài Hạ Thái), huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội.
Việc lựa chọn hai địa bàn này dựa trên 3 tiêu chí:
- Về địa lý: Cùng thuộc huyện Thường Tín nhưng nằm ở hai vị trí đối lập: làng sơn mài Hạ Thái ở đầu huyện (giáp trung tâm Hà Nội), làng đồ gỗ Vạn Điểm ở cuối huyện.
- Về lịch sử: Làng nghề đồ gỗ Vạn Điểm hình thành gần 50 năm, phát triển mạnh trong thời kỳ đổi mới; làng sơn mài Hạ Thái có lịch sử truyền thống lâu đời trên 200 năm.
- Về kinh tế - xã hội: Cùng chịu sự quản lý hành chính của một huyện nhưng khác biệt về tính chất ngành nghề thủ công, cho phép so sánh sự tương đồng và dị biệt giữa các phân hệ cấu trúc xã hội.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tổng thuật các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo 4 hướng tiếp cận chính:
1. Hướng nghiên cứu về cấu trúc xã hội - dân số làng nghề
Các công trình tập trung vào phân công lao động theo độ tuổi, giới tính và chất lượng nhân lực:
- Bùi Xuân Đính trong công trình Làng nghề thủ công huyện Thanh Oai (Hà Nội) truyền thống và biến đổi mô tả tổ chức lao động theo mô hình gia đình: nam giới đảm nhiệm khâu chủ chốt, giao dịch thị trường, tìm mua nguyên liệu; nữ giới làm khâu tinh xảo, khéo léo (như phất quạt); trẻ em từ 12-14 tuổi tham gia các khâu phụ trợ.
- Báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường (2008) chỉ ra cơ cấu thành phần kinh tế tham gia làng nghề: kinh tế cá thể chiếm 72%, kinh tế tập thể 18%, doanh nghiệp tư nhân 10%; ngành thủ công mỹ nghệ thu hút 11 triệu lao động (chiếm 30% lao động nông thôn).
- Báo cáo điều tra của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ghi nhận trình độ chuyên môn kỹ thuật ở làng nghề còn thấp, lao động có học vấn cấp I, cấp II chiếm trên 60%.
- Trần Minh Yến trong Làng nghề truyền thống ở nông thôn Việt Nam nhấn mạnh học vấn của cả thợ lẫn chủ cơ sở sản xuất đều hạn chế, ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực quản lý và ứng dụng kỹ thuật.
- Lê Mạnh Năm, Nguyễn Đức Truyến, Mai Văn Hai và cộng sự (Bản sắc làng Việt), Nguyễn Thị Phương Châm (Biến đổi văn hóa ở các làng quê hiện nay qua trường hợp Đồng Kỵ, Trang Liệt, Đình Bảng tại Bắc Ninh) và Tô Duy Hợp (Thực trạng và xu hướng chuyển đổi cơ cấu xã hội nông thôn đồng bằng Bắc Bộ hiện nay) phân tích sự biến đổi tính cộng đồng, họ hàng và sự phân tầng dân số trong điều kiện kinh tế thị trường.
2. Hướng nghiên cứu về cấu trúc xã hội - gia đình làng nghề
- Trương Xuân Trường (Một số biến đổi kinh tế - xã hội ở nông thôn vùng châu thổ sông Hồng hiện nay) phân tích sự chuyển dịch từ gia đình nhiều thế hệ sang gia đình hạt nhân (quy mô 4-5 nhân khẩu), vai trò chủ hộ gắn liền với người có năng lực tổ chức sản xuất và tạo ra thu nhập chính.
- Nguyễn Đức Truyến (Lịch sử hình thành và phát triển của làng ở đồng bằng Sông Hồng nhìn từ kinh tế hộ gia đình) nhấn mạnh tính gắn kết kinh tế hộ gia đình và quan hệ bình đẳng giữa các thành viên.
- Bùi Xuân Đính và Phan Gia Bền (Sơ khảo lịch sử phát triển thủ công Việt Nam) làm rõ tính chất truyền nghề nội bộ và nền tảng kinh tế gia đình trong làng nghề.
- Lê Hồng Lý (Nghề thủ công mỹ nghệ đồng bằng Sông Hồng, tiềm năng, thực trạng và một số khuyến nghị) cảnh báo tình trạng thanh thiếu niên làng nghề giảm tỷ lệ học lên THPT, đại học và nguy cơ tệ nạn xã hội.
- Mai Văn Hai và cộng sự nghiên cứu tập quán "nội hôn" và giữ "bí mật nhà nghề" nhằm bảo lưu bí quyết sản xuất.
- Nghiên cứu của Viện Xã hội học (Sự chuyển đổi cơ cấu xã hội ở nông thôn đồng bằng Bắc Bộ trong điều kiện kinh tế mới), Vũ Tuấn Anh, Phí Văn Ba, Đỗ Thái Đồng, Mai Huy Bích phân tích sự biến đổi chức năng gia đình sau chính sách khoán sản, khoán hộ.
3. Hướng nghiên cứu về cấu trúc xã hội - nghề nghiệp làng nghề
- P. Ory và Pierre Gourou (Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ) từng nhìn nhận thủ công nghiệp làng xã xưa chỉ là nghề phụ tranh thủ lúc nông nhàn với công cụ thô sơ.
- Hoàng Kim Giao (Làng nghề truyền thống, mô hình làng nghề và phát triển nông thôn), Nguyễn Kế Tuấn (Một số vấn đề tổ chức sản xuất ở các làng nghề thủ công), Vũ Quốc Tuấn (Làng nghề, phố nghề Thăng Long - Hà Nội trên đường phát triển) phân tích sự xuất hiện của các hình thức tổ chức sản xuất mới như công ty nghề, phố nghề.
- Đỗ Thiên Kính, Mai Huy Bích, Trịnh Duy Luân, Bùi Thế Cường, Bùi Quang Dũng, Trần Từ và công trình trọng điểm cấp Nhà nước KX.14/06-10 do Tạ Ngọc Tấn chủ biên (Một số vấn đề về biến đổi cơ cấu xã hội Việt Nam hiện nay) phân tích sự dịch chuyển cơ cấu nghề nghiệp và 5 phân hệ cơ bản của cơ cấu xã hội Việt Nam.
4. Hướng nghiên cứu về cấu trúc xã hội - mức sống làng nghề
- Lưu Hồng Minh (Tính năng động của người dân nông thôn đồng bằng Bắc Bộ với phân tầng xã hội), Trịnh Xuân Thắng, Bùi Văn Vượng (Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam), Bùi Thế Cường (Đề tài KX.10), Nguyễn Thu Minh và Trần Văn Lạng (Khái quát một số nét về làng nghề truyền thống tỉnh Bắc Giang) khẳng định mức sống khá giả ở nông thôn gắn liền với việc chuyển dịch sang các ngành nghề phi nông nghiệp.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Tổng quan cho thấy các nghiên cứu trước đây chưa tiếp cận một cách chỉnh thể hệ thống cấu trúc xã hội cư dân làng nghề dưới góc độ xã hội học chuyên sâu; thiếu sự phân tích đa tầng (liên cấp từ cá nhân, hộ gia đình đến cộng đồng làng xã và thể chế chính sách) cũng như chưa vận dụng lý thuyết hệ thống và lý thuyết cấu trúc hóa để mổ xẻ sự tương tác giữa các phân hệ và cơ chế vận hành của mô hình gia đình nghề, công ty nghề.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và hệ thống khái niệm
Luận án dựa trên nền tảng phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối phát triển làng nghề của Đảng, Nhà nước; đồng thời tích hợp hai lý thuyết xã hội học hiện đại:
- Lý thuyết hệ thống xã hội của Talcott Parsons: Xem xét cấu trúc xã hội như một chỉnh thể bao gồm các phân hệ vi mô và vĩ mô tương tác, duy trì trạng thái cân bằng và thực hiện các chức năng thích ứng, đạt mục tiêu, hội nhập và duy trì khuôn mẫu.
- Lý thuyết cấu trúc hóa của Anthony Giddens: Cấu trúc xã hội không bất biến mà được tạo ra và tái tạo liên tục thông qua hành động xã hội của các chủ thể khi họ huy động các nguồn lực và tuân thủ/điều chỉnh các quy tắc (cả quy tắc pháp lý chính thức lẫn tập quán phi chính thức).
- Quan điểm phân tầng xã hội của Max Weber: Phân tích vị thế xã hội theo 3 chiều cạnh: kinh tế (tài sản, thu nhập), chính trị (quyền lực) và xã hội (uy tín, danh tiếng).
Các khái niệm cơ bản được định nghĩa và thao tác hóa:
- Cấu trúc xã hội cư dân làng nghề: Các kiểu quan hệ tương đối ổn định, bền vững của các thành phần cơ bản (tổ chức, nhóm xã hội, vị thế, vai trò, thiết chế, mạng lưới xã hội) cấu thành nên cộng đồng làng nghề.
- Cư dân làng nghề: Toàn bộ các cá nhân, hộ gia đình, tổ chức sinh sống và làm việc tại địa bàn làng nghề.
- Làng nghề: Hình thức tổ chức đời sống, sản xuất ở nông thôn nơi đa số cư dân cùng thực hiện một loại hoạt động nghề nghiệp nhất định để sinh sống (đối chiếu Thông tư 116/2006/TT-BNN với 3 tiêu chí công nhận).
- Các phân hệ cấu trúc: Cấu trúc xã hội - dân số, cấu trúc xã hội - gia đình, cấu trúc xã hội - nghề nghiệp (gồm mô hình gia đình nghề và công ty nghề), cấu trúc xã hội - mức sống.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp hỗn hợp (kết hợp định tính và định lượng):
- Phân tích tài liệu: Tổng hợp văn bản chính sách, báo cáo phát triển kinh tế - xã hội địa phương và các nghiên cứu chuyên ngành.
- Phương pháp định tính:
- Phỏng vấn sâu: 36 chủ hộ gia đình làm nghề truyền thống, 08 giám đốc công ty làng nghề, 02 chủ tịch UBND xã, 02 trưởng thôn, 04 nghệ nhân, 02 chủ tịch hiệp hội làng nghề.
- Thảo luận nhóm tập trung: Tổ chức thảo luận với ban lãnh đạo của 02 xã (Vạn Điểm và Duyên Thái).
- Quan sát thực địa và tham dự: Quan sát trực tiếp quy trình sản xuất, sinh hoạt gia đình và hoạt động giao thương tại các cơ sở, xưởng nghề.
- Phương pháp định lượng:
- Điều tra bằng bảng hỏi trực tiếp với chủ hộ gia đình/chủ cơ sở sản xuất.
- Cỡ mẫu được xác định theo công thức Krejcie & Morgan (1970):
$$\mathcal{S} = \frac{X^2 N P (1-P)}{d^2 (N-1) + X^2 P (1-P)}$$
Với $X^2 = 3{,}841$ (độ tin cậy 95%), $P = 0{,}50$, $d = 0{,}05$. Từ tổng số 708 hộ ở Vạn Điểm tính ra mẫu $S=249$; từ 1.046 hộ ở Hạ Thái tính ra mẫu $S=281$. Tổng quy mô mẫu thiết kế là 530 hộ.
- Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu xác suất ngẫu nhiên đơn giản từ danh sách hộ khẩu do UBND hai xã cung cấp năm 2012.
- Kết quả thu về: 515 phiếu hợp lệ đưa vào phân tích thống kê.
- Phương pháp xử lý số liệu: Nhập và xử lý bằng phần mềm SPSS; thực hiện thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ phần trăm, giá trị trung bình, min, max) và phân tích tương quan hai chiều kiểm định Chi-Square ($X^2$).
Đặc điểm mẫu khảo sát định lượng ($N=515$)
| Tiêu chí phân loại |
Phân nhóm |
Số lượng ($N$) |
Tỷ lệ (%) |
| 1. Địa bàn làng nghề |
Đồ gỗ Vạn Điểm |
246 |
47,8 |
|
Sơn mài Hạ Thái |
269 |
52,2 |
| 2. Giới tính chủ hộ |
Nam |
376 |
73,0 |
|
Nữ |
139 |
27,0 |
| 3. Độ tuổi chủ hộ |
Dưới 40 tuổi |
191 |
37,1 |
|
Từ 40 đến 50 tuổi |
176 |
34,2 |
|
Trên 50 tuổi |
148 |
28,7 |
| 4. Trình độ học vấn |
Tiểu học và THCS |
198 |
38,4 |
|
THPT trở lên |
317 |
61,6 |
| 5. Loại nghề của hộ |
Làm nghề truyền thống |
425 |
82,5 |
|
+ Chỉ làm nghề truyền thống |
61 |
11,8 |
|
+ Làm nông nghiệp kết hợp nghề truyền thống |
364 |
70,7 |
|
Không làm nghề truyền thống |
90 |
17,5 |
| Tổng cộng |
|
515 |
100,0 |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Chương 1 hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo bốn hướng phân hệ: cấu trúc xã hội - dân số, gia đình, nghề nghiệp và mức sống. Tác giả chỉ ra rằng các nghiên cứu làng nghề ở Việt Nam đã chỉ ra được sự dịch chuyển từ kinh tế nông nghiệp thuần túy sang phi nông nghiệp, nhưng chưa làm rõ cơ chế tương tác cấu trúc giữa các phân hệ dưới góc nhìn xã hội học chỉnh thể. Chương này xác lập cơ sở để luận án kế thừa phương pháp luận và xây dựng khung phân tích riêng dựa trên lý thuyết hệ thống và cấu trúc hóa.
Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CẤU TRÚC XÃ HỘI CỦA CƯ DÂN LÀNG NGHỀ
Chương 2 trình bày khung lý thuyết và hệ thống các khái niệm công cụ:
- Xác định cấu trúc xã hội gồm các thành phần cốt lõi: nhóm xã hội, vị thế xã hội, vai trò (vai) xã hội, thiết chế xã hội và mạng lưới xã hội.
- Phân tích sự vận dụng lý thuyết hệ thống xã hội của Parsons (đặt làng nghề như một tiểu hệ thống thích ứng với thị trường) và lý thuyết cấu trúc hóa của Giddens (giải thích quá trình hình thành, tái sản xuất các mô hình sản xuất thông qua hành động của chủ hộ, nghệ nhân, doanh nhân).
- Phân tích các chủ trương, nghị quyết của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước liên quan đến bảo tồn, phát triển làng nghề và chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn.
- Xây dựng khung nghiên cứu xác định mối quan hệ giữa biến độc lập (nhân khẩu của chủ hộ, loại nghề), biến trung gian (thể chế, chính sách, môi trường làng xã) và biến phụ thuộc (4 phân hệ cấu trúc xã hội).
Chương 3: THỰC TRẠNG CẤU TRÚC XÃ HỘI CỦA CƯ DÂN LÀNG NGHỀ
Chương 3 phân tích thực trạng cấu trúc xã hội tại hai làng nghề thông qua dữ liệu thống kê và khảo sát thực địa:
- Bối cảnh kinh tế - xã hội địa phương: Phân tích giá trị và tỷ trọng sản lượng kinh tế của xã Vạn Điểm (Bảng 3.1) và xã Duyên Thái (Bảng 3.2) năm 2013, làm rõ sự áp đảo của tiểu thủ công nghiệp và thương mại dịch vụ so với nông nghiệp.
- Phân hệ cấu trúc xã hội - dân số:
- Tỷ lệ giới tính chủ hộ: 73,0% nam, 27,0% nữ (Bảng 3.3). Phân bố độ tuổi lao động tập trung dưới 50 tuổi (chiếm trên 71%, Biểu 3.1).
- Trình độ học vấn: 61,6% đạt từ THPT trở lên (Bảng 3.5), cho thấy mặt bằng học vấn được nâng cao so với các khảo sát làng nghề trước đây.
- Vị thế - vai trò xã hội trong gia đình: Nam giới giữ vai trò chủ đạo trong điều hành kinh tế và kỹ thuật chính, nữ giới đảm nhiệm quản lý tài chính nội bộ và các khâu hoàn thiện sản phẩm (Bảng 3.4). Định hướng nghề nghiệp cho con cái phản ánh tính nối nghiệp gia đình (Biểu 3.2).
- Phân hệ cấu trúc xã hội - gia đình:
- Quy mô hộ gia đình làng nghề phổ biến là gia đình hạt nhân từ 4-5 nhân khẩu (Bảng 3.6).
- Số lượng lao động làm nghề bình quân từ 2-3 người/hộ (Bảng 3.7).
- Cấu trúc thế hệ làm nghề truyền thống: Duy trì đan xen giữa gia đình 2 thế hệ và gia đình 3 thế hệ cùng làm nghề (Bảng 3.8).
- Phân hệ cấu trúc xã hội - nghề nghiệp và mức sống:
- Cơ cấu nghề nghiệp: 82,5% hộ tham gia nghề truyền thống (trong đó 70,7% kết hợp nông nghiệp và nghề, 11,8% chuyên nghề), 17,5% hộ không làm nghề (Bảng 3.9, Biểu 3.3).
- Phân tầng mức sống: Thu nhập và chi tiêu trung bình hàng tháng của chủ hộ, cơ sở sản xuất có sự phân hóa rõ nét giữa nhóm làm nghề và không làm nghề (Bảng 3.10, Bảng 3.11, Bảng 3.12, Bảng 3.13). Tỷ lệ tự đánh giá đời sống nâng cao so với 5 năm trước chiếm đa số (Bảng 3.14). Thâm niên làm nghề của các gia đình tạo nên sự tích lũy vốn và uy tín xã hội (Bảng 3.15).
- So sánh mô hình gia đình nghề và mô hình công ty nghề:
- Bảng 3.16 đối sánh các đặc trưng cơ bản giữa hai mô hình: quy mô vốn, tổ chức lao động, công nghệ, tư cách pháp nhân và phương thức quản lý.
- Phân tích các nguồn lực (vốn tài chính, nhân lực, công nghệ, mạng lưới xã hội) của công ty nghề (Biểu 3.4), khẳng định công ty nghề là bước phát triển bậc cao của gia đình nghề dưới tác động cấu trúc hóa.
Chương 4: CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CẤU TRÚC XÃ HỘI CƯ DÂN LÀNG NGHỀ VÀ GỢI Ý MỘT SỐ GIẢI PHÁP
Chương 4 kiểm định các mối quan hệ tác động bằng phân tích tương quan và kiểm định Chi-Square:
- Tác động của yếu tố nhân khẩu - xã hội và loại nghề:
- Thu nhập bình quân hàng tháng có tương quan ý nghĩa với giới tính (Bảng 4.1), độ tuổi của chủ hộ (Bảng 4.2), loại nghề của hộ gia đình (Bảng 4.3) và số năm làm nghề (Bảng 4.4).
- Quy mô gia đình có mối liên hệ với số lao động làm nghề truyền thống (Bảng 4.5); số thế hệ trong gia đình gắn với độ tuổi chủ hộ (Bảng 4.6).
- Giới tính và độ tuổi của chủ hộ có tương quan chặt chẽ với việc lựa chọn loại nghề của hộ (Bảng 4.7, Bảng 4.8).
- Tác động của môi trường kinh tế, văn hóa, xã hội và chính sách:
- Môi trường chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội làng xã tác động rõ rệt đến mức thu nhập (Bảng 4.9) và việc lựa chọn loại nghề (Bảng 4.10) theo từng địa bàn khảo sát.
- Các chủ trương, chính sách hỗ trợ làng nghề, vay vốn, mặt bằng sản xuất và bảo tồn di sản tác động trực tiếp đến thu nhập và cơ cấu nghề của cư dân (Bảng 4.11).
- Vấn đề đặt ra và giải pháp đề xuất:
- Nhận diện các mâu thuẫn: ô nhiễm môi trường do sản xuất tại khu dân cư, thiếu mặt bằng tập trung, thiếu hụt lao động tay nghề cao có đào tạo bài bản, nguy cơ mai một bí quyết truyền thống.
- Đề xuất các nhóm giải pháp: hoàn thiện quy hoạch cụm công nghiệp làng nghề; nâng cao trình độ quản lý cho chủ cơ sở/giám đốc công ty nghề; đổi mới chính sách tín dụng và đào tạo nghề; củng cố vai trò của hiệp hội làng nghề và phát huy mạng lưới liên kết xã hội.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Vận dụng thành công lý thuyết hệ thống xã hội của Talcott Parsons và lý thuyết cấu trúc hóa của Anthony Giddens vào nghiên cứu thực nghiệm cấu trúc xã hội làng nghề ở đồng bằng sông Hồng.
- Thao tác hóa và làm sâu sắc thêm hệ thống khái niệm chuyên ngành: cấu trúc xã hội cư dân làng nghề, các phân hệ cấu trúc xã hội (dân số, gia đình, nghề nghiệp, mức sống), khái niệm "gia đình nghề" và "công ty nghề".
- Chứng minh quá trình cấu trúc hóa đang diễn ra mạnh mẽ trong làng nghề: các cá nhân, hộ gia đình chủ động huy động nguồn lực truyền thống và hiện đại để biến đổi cấu trúc nghề nghiệp, tạo lập các thiết chế kinh tế - xã hội thích ứng với kinh tế thị trường.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Cung cấp bộ dữ liệu thực nghiệm toàn diện, cập nhật giai đoạn 2012-2014 về thực trạng cấu trúc xã hội tại hai làng nghề tiêu biểu của Hà Nội (làng đồ gỗ Vạn Điểm và làng sơn mài Hạ Thái).
- Phát hiện cấu trúc xã hội - nghề nghiệp của cư dân làng nghề vận động nổi bật thông qua hai mô hình song hành: mô hình gia đình nghề (linh hoạt, dựa trên quan hệ huyết thống) và mô hình công ty nghề (chuyên nghiệp hóa, mở rộng tư cách pháp nhân và quy mô thị trường).
- Đưa ra các căn cứ khoa học giúp các cơ quan hoạch định chính sách xây dựng giải pháp quy hoạch mặt bằng, hỗ trợ chuyển giao công nghệ, bảo vệ môi trường làng nghề và giải quyết việc làm nông thôn bền vững.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Nghiên cứu trường hợp tập trung khảo sát định lượng và định tính tại hai làng nghề thuộc huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội trong khung thời gian 2012-2014; do đó phạm vi không gian và thời gian chưa bao quát toàn bộ các loại hình làng nghề khác nhau trên toàn vùng đồng bằng sông Hồng.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh liên vùng đối với các nhóm làng nghề chế biến nông sản, dệt may, gốm sứ; khảo sát sâu hơn về di động xã hội giữa các thế hệ trong làng nghề và tác động của công nghệ số, thương mại điện tử đến mạng lưới xã hội của cư dân làng nghề.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên, giảng viên ngành Xã hội học: Tài liệu cung cấp khung lý thuyết kết hợp giữa hệ thống xã hội và cấu trúc hóa; quy trình thiết kế mẫu khảo sát theo công thức Krejcie & Morgan; hệ thống bảng hỏi và kỹ thuật phân tích thống kê SPSS (mô tả và kiểm định Chi-Square).
- Đối với nhà nghiên cứu văn hóa và kinh tế nông thôn: Cung cấp tư liệu chi tiết về tổ chức lao động gia đình, sự biến đổi quan hệ họ hàng, làng xóm và cơ cấu thu chi của hộ gia đình làng nghề.
- Đối với nhà quản lý và hoạch định chính sách: Cung cấp các luận cứ thực tế tại Chương 3 và Chương 4 để xây dựng chính sách phát triển làng nghề gắn với xây dựng nông thôn mới, bảo vệ môi trường và quy hoạch không gian sản xuất phi nông nghiệp.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án sử dụng cỡ mẫu bao nhiêu và được tính toán theo công thức nào?
Luận án áp dụng công thức xác định cỡ mẫu của Krejcie và Morgan (1970) với độ tin cậy 95% ($X^2 = 3{,}841$) và sai số $d = 0{,}05$. Từ tổng số 708 hộ tại Vạn Điểm và 1.046 hộ tại Hạ Thái năm 2012, mẫu tính toán là 530 hộ. Tác giả phát 530 phiếu và thu về 515 phiếu hợp lệ đưa vào xử lý dữ liệu SPSS (gồm 246 hộ Vạn Điểm và 269 hộ Hạ Thái).
2. Hai lý thuyết xã hội học chủ đạo được tác giả vận dụng là gì?
Luận án vận dụng Lý thuyết hệ thống xã hội của Talcott Parsons (để xem xét các phân hệ cấu trúc xã hội từ vi mô đến vĩ mô) và Lý thuyết cấu trúc hóa của Anthony Giddens (để giải thích quá trình các chủ thể hành động huy động nguồn lực và quy tắc nhằm tái tạo, chuyển đổi mô hình gia đình nghề thành công ty nghề).
3. Tỷ lệ cơ cấu nghề nghiệp của các hộ gia đình trong mẫu khảo sát như thế nào?
Trong tổng số 515 hộ gia đình khảo sát, có 425 hộ làm nghề truyền thống (chiếm 82,5%), trong đó có 61 hộ chỉ chuyên làm nghề truyền thống (11,8%) và 364 hộ làm kết hợp cả nông nghiệp và nghề truyền thống (70,7%). Nhóm hộ không làm nghề truyền thống gồm 90 hộ (chiếm 17,5%).
4. Luận án so sánh hai mô hình tổ chức sản xuất nào trong cấu trúc xã hội - nghề nghiệp?
Luận án tập trung so sánh mô hình "gia đình nghề" (sản xuất dựa trên quy mô gia đình, lao động huyết thống, truyền nghề nội bộ) và mô hình "công ty nghề" (doanh nghiệp thành lập tại làng nghề, có tư cách pháp nhân, tổ chức phân công lao động chuyên môn hóa và mở rộng mạng lưới giao thương).
5. Phương pháp nghiên cứu định tính của luận án gồm những kỹ thuật gì?
Nghiên cứu định tính gồm: phỏng vấn sâu 36 chủ hộ gia đình làm nghề, 08 giám đốc công ty làng nghề, 02 chủ tịch UBND xã, 02 trưởng thôn, 04 nghệ nhân, 02 chủ tịch hiệp hội làng nghề; thảo luận nhóm tập trung với ban lãnh đạo 02 xã; cùng phương pháp quan sát thực địa và quan sát tham dự đời sống cư dân tại địa bàn.
Kết luận
Luận án tiến sĩ xã hội học của tác giả đã làm rõ bức tranh toàn diện về các phân hệ cấu trúc xã hội của cư dân làng nghề đồng bằng sông Hồng thông qua nghiên cứu thực nghiệm tại làng đồ gỗ Vạn Điểm và làng sơn mài Hạ Thái (huyện Thường Tín, Hà Nội). Bằng việc tích hợp lý thuyết hệ thống xã hội của Parsons và lý thuyết cấu trúc hóa của Giddens cùng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp chặt chẽ, công trình đã chứng minh sự chuyển đổi mạnh mẽ từ mô hình gia đình nghề sang công ty nghề. Các kết quả thống kê mô tả và kiểm định tương quan đã cung cấp bằng chứng khoa học xác thực về tác động của nhân khẩu chủ hộ, loại nghề và chính sách thể chế đến phân tầng mức sống và quan hệ xã hội làng nghề. Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và thực tiễn cao cho công tác nghiên cứu xã hội học nông thôn cũng như hoạch định chính sách phát triển kinh tế làng nghề hiện nay.