Chương 1: Cơ sở lý luận 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm công tác xã hội Công tác xã hội (CTXH) được xem như là một nghề mang tính chuyên nghiệp ở nhiều quốc gia từ gần thế kỷ nay. CTXH tồn tại và hoạt động khi xuất hiện những vấn đề cần giải quyết như tình trạng nghèo đói, bất bình đẳng giới, và giúp đỡ những thành phần dễ bị tổn thương như trẻ mồ côi, người tàn tật, trẻ đường phố, trẻ bị lạm dụng… Tuy nhiên ở Việt Nam, CTXH thường được nghĩ như là một việc làm từ thiện.
Để cho thấy CTXH không phải là công việc đơn giản như công tác từ thiện, cần có cái nhìn đầy đủ ý nghĩa về CTXH. Có khá nhiều định nghĩa khác nhau về CTXH, dưới đây là một số định nghĩa về CTXH. Theo Hiệp hội Quốc gia nhân viên công tác xã hội (NASW):” Công tác xã hội là hoạt động nghề nghiệp giúp đỡ các cá nhân, nhóm hay cộng đồng để nhằm nâng cao hay khôi phục tiềm năng của họ để giúp họ thực hiện chức năng xã hội và tạo ra các điều kiện xã hội phù hợp với các mục tiêu của họ. Công tác xã hội tồn tại để cung cấp các dịch vụ xã hội mang tính hiệu quả và nhân đạo cho cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng và xã hội giúp họ tăng năng lực và cải thiện cuộc sống.” [14] Hội đồng Đào tạo Công tác xã hội tại Mỹ( Council on Social Work Education, 1959) định nghĩa:” Công tác xã hội là một nghề nhằm tăng cường các chức năng xã hội của cá nhân hay nhóm người bằng những hoạt động tập trung vào can thiệp mối quan hệ xã hội để thiết lập sự tương tác giữa con người và môi trường có hiệu quả”.[9, tr 14] Theo Liên đoàn Chuyên nghiệp Xã hội Quốc tế (IFSW) tại Hội nghị Quốc tế Montreal, Canada, vào tháng 7/2000: CTXH chuyên nghiệp thúc đẩy sự thay đổi xã hội, tiến trình giải quyết vấn đề trong mối quan hệ con người, sự tăng quyền lực và giải phóng cho con người, nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái và dễ chịu.
Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và các hệ thống xã hội. CTXH can thiệp ở những điểm tương tác giữa con người và môi trường của họ.[14] Theo cách hiểu của một số nhà nghiên cứu: Định nghĩa cổ điển: CTXH nhằm giúp cá nhân và cộng đồng tự giúp. Nó không phải là một 10 hành động ban bố của từ thiện mà nhằm phát huy sứ mệnh của hệ thống thân chủ (cá nhân, nhóm và cộng đồng) để họ tự giải quyết vấn đề của mình. [10] Theo Quyết định số 32/2010/QĐ- TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010- 2020 nêu rõ: “CTXH góp phần giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa con người và con người, hạn chế phát sinh các vấn đề xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của thân chủ xã hội, hướng tới một xã hội lành mạnh, công bằng, hạnh phúc cho người dân và xây dựng hệ thống an sinh xã hội tiên tiến.” [2] Từ những khái niệm trên, tôi sử dụng khái niệm CTXH trong khóa luận này như sau: “Công tác xã hội là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nhằm nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình, cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội.
Khái niệm nhân viên xã hội Thực tế, có nhiều cách được sử dụng để gọi người làm nghề Công tác xã hội như: Nhân viên xã hội, Cán sự xã hội, Cán bộ xã hội, người trợ giúp… Đối với các nước trên thế giới thường dùng phổ biến thuật ngữ là Social Worker. Nhân viên xã hội( social worker) được Hiệp hội các nhà công tác xã hội chuyên nghiệp Quốc tế- IASW định nghĩa: “Nhân viên xã hội là người được đào tạo và trang bị các kiến thức và kỹ năng trong công tác xã hội, họ có nhiệm vụ: Trợ giúp các đối tượng nâng cao khả năng giải quyết và đối phó với vấn đề trong cuộc sống, tạo cơ hội để các đối tượng tiếp cận được nguồn lực cần thiết, thúc đẩy sự tương tác giữa các cá nhân, giữa cá nhân với môi trường tạo ảnh hưởng tới chính sách xã hội, các cơ quan, tổ chức vì lợi ích của cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng thông qua các hoạt động nghiên cứu và hoạt động thực tiễn”.[9,tr 141] Ở hầu hết các nước có nền công tác xã hội đã khá phát triển, nhân viên xã hội phải được đào tạo ít nhất từ trình độ đại học trở lên. Những NVXH phải có bằng hành nghề mới được phép mở các cơ sở cung cấp dịch vụ. NVXH được cấp bằng phải thi sát hạch bởi hội đồng nghề nghiệp và 11 được quản lý nghiêm ngặt với những quy định về kiểm tra định kì sau vài năm hành nghề.
NVXH cần phải thực thi các hoạt động nghề nghiệp của mình như: Trợ giúp cá nhân, gia đình giải quyết vấn đề khó khăn. Nối kết họ với các dịch vụ và nguồn lực trong xã hội. Thúc đẩy sự cung cấp dịch vụ trợ giúp và nguồn lực có hiệu quả. Tham gia vào xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội.
Trong khóa luận này, NVXH tôi nghiên cứu là những giáo viên trực tiếp giảng dạy tại trung tâm Sao Mai. Họ thực hiện các công việc cụ thể với phụ huynh như kịp thời trao đổi để nắm bắt thông tin về trẻ, hiểu trẻ và hoàn cảnh gia đình; bàn bạc để cùng nhau xây dựng kế hoạch giáo dục cá nhân cho trẻ; tư vấn để cha mẹ/người chăm sóc trẻ thực hành từng mục tiêu của kế hoạch giáo dục cá nhân trong môi trường với người thân gia đình; cung cấp tài liệu và tập huấn, chia sẻ để trang bị thêm kiến thức cho phụ huynh trong lĩnh vực này … 1. Khái niệm vai trò Vai trò thường là từ dùng để nói về vị trí chức năng, nhiệm vụ mục đích của sự vật, sự việc, hiện tượng trong một hoàn cảnh, bối cảnh và một mối quan hệ nào đó. Theo Robertsons vai trò là một tập hợp các chuẩn mực, hành vi, quyền lợi và nghĩa vụ được gắn liền với một vị thế xã hội nhất định.
Vai trò xã hội của một người có nghĩa là người đó phải đảm nhận hay thể hiện đầy đủ các hành vi, nghĩa vụ, hệ thống chuẩn mực trên cơ sở vị thế của người đó. Đồng thời họ cũng nhận được những quyền lợi xã hội tương ứng với việc thực hiện vai trò của họ. Mỗi cá nhân có vô vàn vai trò, có bao nhiêu mối quan hệ xã hội thì có bấy nhiêu vai trò xã hội. Mỗi cá nhân có nhiều vị thế và vai trò khác nhau ở gia đình, ngoài xã hội… và tùy theo vai trò của mình mà cá nhân sẽ có cách ứng xử, hành vi, tác phong, hành động với vai trò mà cá nhân đảm trách.
[6] Thuật ngữ vai trò được dùng để xác định thành phần các mô hình văn hóa gắn liền với một địa vị cụ thể. Nó bao gồm tâm thế, giá trị hành vi do xã hội gán cho bất cứ ai hoặc những người chiếm một vị trí cụ thể. Nó bao gồm những kì vọng được hợp pháp hóa của những người giữ chức vụ đối với hành vi người khác hướng đến họ. [11] 12 Có rất nhiều khái niệm về vai trò nhưng trong bài khóa luận này, tôi sử dụng khái niệm: “Vai trò là một thuật ngữ dùng để nói về vị trí chức năng, nhiệm vụ gắn liền với một vị thế xã hội nhất định.
Nó là tập hợp các mong đợi, các quyền và những nghĩa vụ được gán cho một địa vị cụ thể. Mỗi cá nhân có vô vàn vai trò, có bao nhiều mối quan hệ xã hội thì có bấy nhiêu vai trò xã hội. Mỗi cá nhân có nhiều vị thế và vai trò khác nhau ở gia đình, ngoài xã hội… và tùy theo vai trò của mình mà cá nhân sẽ có cách ứng xử, hành vi, tác phong, hành động tương ứng với vai trò mà cá nhân đảm trách. Vai trò của nhân viên xã hội Khi NVXH ở những vị trí xã hội khác nhau thì vai trò và các hoạt động của họ cũng rất khác nhau, tùy theo chức năng và nhóm đối tượng mà họ làm việc.
Vai trò của NVXH là can thiệp vào cuộc sống của cá nhân, gia đình, nhóm người có cùng vấn đề, cộng đồng và các hệ thống xã hội nhằm hỗ trợ thân chủ đạt được sự thay đổi về mặt xã hội, giải quyết các vấn đề trong các mối quan hệ với con người và con người nhằm nâng cao an sinh xã hội. Theo quan điểm của Feyerico (1973), người nhân viên xã hội có những vai trò sau: Vai trò là người vận động nguồn lực: Là người trợ giúp đối tượng( cá nhân, gia đình, cộng đồng…) tìm kiếm nguồn lực( nội lực và ngoại lực) cho giải quyết vấn đề. Nguồn lực có thể bao gồm về con người, về cơ sở vật chất, về tài chính, kỹ thuật, thông tin, sự ủng hộ về chính sách, chính trị và quan điểm… Vai trò là người kết nối- còn gọi là trung gian: NVXH là người có được những thông tin về các dịch vụ, chính sách và giới thiệu cho đối tượng các dịch vụ, chính sách, nguồn tài nguyên đang sẵn có từ các cá nhân, cơ quan tổ chức để họ tiếp cận với các nguồn lực, chính sách, tài chính, kỹ thuật để có thêm sức mạnh trong giải quyết vấn đề. Vai trò là người biện hộ: là người bảo vệ quyền lợi cho đối tượng để họ được hưởng những dịch vụ, chính sách, quyền lợi của họ đặc biệt trong những trường hợp họ bị từ chối những dịch vụ, chính sách lẽ ra họ được hưởng.
13 Vai trò là người vận động/ hoạt động xã hội: là nhà vận động xã hội tổ chức các hoạt động xã hội để biện hộ, bảo vệ quyền lợi cho đối tượng, cổ vũ tuyên truyền. Vai trò là người giáo dục: Là người cung cấp kiến thức kỹ năng liên quan tới vấn đề họ cần giải quyết, nâng cao năng lực cho cá nhân, gia đình, nhóm hay cộng đồng qua tập huấn, giáo dục cộng đồng để họ có hiểu biết tự tin và tự mình nhìn nhận vấn đề đánh giá vấn đề phân tích và tìm kiếm nguồn lực cho vấn đề cần giải quyết.