Giáo trình nhập môn công tác xã hội - TS Mai Thị Kim Thanh (162 trang)

Chuyên ngành

Công tác xã hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Giáo trình
162
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về giáo trình nhập môn công tác xã hội của TS

Giáo trình Nhập môn Công tác Xã hội do TS. Mai Thị Kim Thanh biên soạn là tài liệu học thuật có hệ thống, dài 162 trang, phục vụ giảng dạy và học tập tại các trường đại học Việt Nam. Tác phẩm ra đời trong bối cảnh nhu cầu tìm hiểu về ngành công tác xã hội tăng mạnh sau khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 32/2010/QĐ-TTg về đề án phát triển nghề Công tác Xã hội giai đoạn 2010–2020. Giáo trình cung cấp cái nhìn tổng quan về bản chất, chức năng và vị trí của công tác xã hội trong hệ thống khoa học xã hội. Nội dung được chia thành 3 chương chính: Chương 1 xác định công tác xã hội là một khoa học; Chương 2 trình bày nền tảng khoa học của ngành; Chương 3 phân tích các nhóm đối tượng dễ bị tổn thương. Đây là tài liệu tham khảo quan trọng cho sinh viên, giảng viên và cán bộ xã hội muốn nắm vững kiến thức nền tảng về nghề nghiệp này tại Việt Nam.

1.1. Bối cảnh ra đời và ý nghĩa của giáo trình

Giáo trình được biên soạn trong thời điểm ngành công tác xã hội Việt Nam đang hình thành tư cách nghề chuyên môn. Quyết định 32/2010/QĐ-TTg tạo nền pháp lý để phát triển ngành, nhưng tài liệu giảng dạy còn rất thiếu. TS. Mai Thị Kim Thanh đã tổng hợp nhiều nguồn tài liệu trong và ngoài nước, biên soạn thành giáo trình phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Cuốn sách lấp đầy khoảng trống tài liệu học thuật, đặc biệt hữu ích cho sinh viên năm nhất tiếp cận ngành lần đầu.

1.2. Cấu trúc và phạm vi nội dung 162 trang

Với 162 trang, giáo trình bao phủ toàn bộ kiến thức nhập môn cần thiết. Chương 1 làm rõ định nghĩa, lịch sử hình thành và đặc điểm khoa học của ngành. Chương 2 trình bày các lý thuyết nền tảng như thuyết hệ thống, thuyết hiện sinh, thuyết hành vi. Chương 3 phân tích cụ thể các nhóm đối tượng như trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật. Cấu trúc logic từ lý luận đến thực tiễn giúp người học xây dựng nền tảng vững chắc trước khi tiếp cận các môn chuyên sâu.

II. Phân tích nền tảng khoa học và lý thuyết trong giáo trình nhập môn công tác xã hội

Giáo trình của TS. Mai Thị Kim Thanh xây dựng nền tảng lý luận dựa trên nhiều trường phái lý thuyết khác nhau. Công tác xã hội được khẳng định là khoa học độc lập, có hệ thống khái niệm, nguyên lý và phương pháp riêng. Các định nghĩa từ nhiều tổ chức quốc tế được đối chiếu và phân tích, trong đó nổi bật là quan điểm của Liên đoàn Công tác Xã hội Quốc tế (IFSW) và Hiệp hội các trường đào tạo Công tác Xã hội thế giới (IASSW). Giáo trình nhấn mạnh rằng công tác xã hội không chỉ là hoạt động từ thiện hay nhân đạo đơn thuần, mà là nghề chuyên môn dựa trên tri thức khoa học về con người và xã hội. Các giá trị cốt lõi như tôn trọng nhân phẩm, quyền tự quyết, công bằng xã hội được phân tích kỹ lưỡng. Thuyết hiện sinh, thuyết hệ thống sinh thái và các mô hình thực hành được trình bày có hệ thống, giúp người học hiểu được cơ sở triết học và khoa học của ngành.

2.1. Các lý thuyết nền tảng được trình bày trong giáo trình

Giáo trình phân tích nhiều lý thuyết quan trọng. Thuyết hiện sinh nhấn mạnh quyền tự do hành động của cá nhân và ý thức về sự tồn tại của bản thân. Thuyết hệ thống sinh thái xem xét con người trong mối quan hệ tương tác với môi trường sống. Thuyết hành vi phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi con người. Mỗi lý thuyết cung cấp góc nhìn khác nhau về con người và xã hội, trang bị cho nhân viên xã hội công cụ phân tích đa chiều khi tiếp cận thân chủ.

2.2. Giá trị và nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp

Nguyên tắc đạo đức là trụ cột của công tác xã hội chuyên nghiệp. Giáo trình trình bày các giá trị cốt lõi bao gồm: tôn trọng nhân phẩm con người, đề cao quyền tự quyết, bảo đảm bí mật thông tin thân chủ và thúc đẩy công bằng xã hội. Nhân viên xã hội phải duy trì ranh giới nghề nghiệp rõ ràng và luôn đặt lợi ích của thân chủ lên trên. Đây là nền tảng phân biệt công tác xã hội chuyên nghiệp với hoạt động tình nguyện hay từ thiện thông thường.

III. Phương pháp tiếp cận và kỹ năng thực hành trong giáo trình TS

Giáo trình không dừng lại ở lý luận mà chú trọng hướng dẫn phương pháp và kỹ năng thực hành. Ba phương pháp cơ bản được trình bày là công tác xã hội cá nhân, công tác xã hội nhóm và phát triển cộng đồng. Mỗi phương pháp có quy trình, kỹ thuật và phạm vi ứng dụng riêng. Công tác xã hội cá nhân tập trung vào mối quan hệ một-một giữa nhân viên xã hội và thân chủ. Công tác xã hội nhóm khai thác sức mạnh tập thể để hỗ trợ các thành viên. Phát triển cộng đồng hướng đến thay đổi cấu trúc và điều kiện xã hội. Giáo trình cũng phân tích kỹ năng giao tiếp, lắng nghe, vấn đàm và đánh giá nhu cầu. Đây là những kỹ năng không thể thiếu khi làm việc với các nhóm đối tượng dễ bị tổn thương trong thực tiễn.

3.1. Ba phương pháp thực hành công tác xã hội cơ bản

Phương pháp cá nhân áp dụng khi một người cần hỗ trợ giải quyết vấn đề riêng như khủng hoảng tâm lý, hoàn cảnh kinh tế khó khăn hay mâu thuẫn gia đình. Phương pháp nhóm phù hợp với đối tượng có chung hoàn cảnh, cùng hỗ trợ nhau phát triển kỹ năng sống. Phát triển cộng đồng tác động ở tầm vĩ mô, vận động nguồn lực và thay đổi chính sách. Nhân viên xã hội cần thành thạo cả ba phương pháp để ứng phó linh hoạt với nhiều tình huống thực tế.

3.2. Kỹ năng thực hành và tiến trình làm việc với thân chủ

Tiến trình làm việc gồm các bước: tiếp nhận, đánh giá, lập kế hoạch, can thiệp và kết thúc. Kỹ năng lắng nghe tích cực giúp nhân viên xã hội hiểu đúng vấn đề của thân chủ. Kỹ năng vấn đàm cho phép thu thập thông tin một cách có cấu trúc. Kỹ năng kết nối nguồn lực giúp thân chủ tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ cần thiết. Giáo trình nhấn mạnh rằng thực hành hiệu quả đòi hỏi kết hợp kiến thức lý luận với phán đoán nghề nghiệp được rèn luyện qua thực tế.

IV. Ứng dụng giáo trình nhập môn công tác xã hội trong đào tạo và thực tiễn Việt Nam

Giáo trình của TS. Mai Thị Kim Thanh có giá trị ứng dụng cao trong cả môi trường học thuật lẫn thực tiễn nghề nghiệp tại Việt Nam. Trong đào tạo đại học, cuốn sách cung cấp khung kiến thức chuẩn cho sinh viên ngành công tác xã hội, xã hội học và các ngành liên quan. Giảng viên sử dụng tài liệu này như cơ sở thiết kế chương trình giảng dạy phù hợp với chuẩn quốc tế. Trong thực tiễn, các nhân viên xã hội làm việc tại bệnh viện, trường học, tòa án, trung tâm bảo trợ xã hội đều có thể tham chiếu các nguyên tắc và phương pháp được trình bày. Đặc biệt, phần về các nhóm đối tượng dễ bị tổn thương ở Chương 3 cung cấp kiến thức trực tiếp áp dụng vào công việc hàng ngày. Sự phát triển của ngành công tác xã hội Việt Nam từ sau năm 2010 cho thấy tầm quan trọng ngày càng lớn của tài liệu nền tảng như giáo trình này.

4.1. Vai trò của giáo trình trong hệ thống đào tạo đại học

Giáo trình đáp ứng nhu cầu cấp thiết về tài liệu học thuật chuẩn hóa cho các trường đại học có ngành công tác xã hội. Trước khi tác phẩm ra đời, tài liệu giảng dạy còn rất rời rạc và thiếu hệ thống. Cuốn sách tổng hợp kiến thức từ nhiều nguồn quốc tế, điều chỉnh cho phù hợp với bối cảnh Việt Nam. Đây là nền tảng để sinh viên tiếp tục học các môn chuyên sâu như can thiệp khủng hoảng, quản lý trường hợp hay vận động chính sách xã hội.

4.2. Tác động đến sự phát triển nghề công tác xã hội chuyên nghiệp

Việt Nam đang xây dựng hệ thống công tác xã hội chuyên nghiệp theo chuẩn quốc tế. IFSW có trên 500.000 thành viên từ 78 quốc gia, đặt ra tiêu chuẩn cao cho nghề này toàn cầu. Giáo trình giúp các cán bộ xã hội Việt Nam hiểu và tiếp cận chuẩn mực đó. Sự phổ biến tài liệu nền tảng như tác phẩm của TS. Mai Thị Kim Thanh góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ xã hội, bảo vệ tốt hơn các nhóm yếu thế trong cộng đồng.

22/04/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

GIÁO TRÌNH NHẬP MÔN CÔNG TÁC XÃ HỘI GIÁO TRÌNH NHẬP MÔN CÔNG TÁC XÃ HỘI Tác giả: TS. Mai Thị Kim Thanh LỜI NÓI ĐẦU Công tác Xã hội có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền con người, bảo vệ giá trị, nhân phẩm của con người và góp phần trong việc bảo đảm bình đẳng xã hội. Trên thế giới, Công tác Xã hội được công nhận là một nghề và tuỳ theo đặc điểm hoàn cảnh của mỗi nước mà Công tác Xã hội có những sắc thái riêng nhưng hầu hết vẫn tuân theo những nguyên tắc, giá trị chuẩn mực chung. Ở Việt Nam, Công tác Xã hội đang ngày càng nhận được sự quan tâm của xã hội. Đảng và Nhà nước cũng đã có những chính sách phát triển Công tác Xã hội, cụ thể là việc thực hiện quyết định 32/2010/QĐ–TTg của Thủ tướng Chính phủ về đề án phát triển nghề Công tác Xã hội giai đoạn 2010 – 2020. Đây là một sự kiện ảnh hưởng rất lớn trong việc phát triển Công tác Xã hội như một ngành khoa học, một nghề chuyên môn mang tính chuyên nghiệp tại Việt Nam. Nhu cầu tìm hiểu về Công tác Xã hội ngày một tăng tuy nhiên tài liệu giảng dạy, học tập và tham khảo cho giáo viên, sinh viên đại học còn ít, chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế. Chính vì vậy, cuốn sách này được viết trong khuôn khổ những kiến thức khái quát để phục vụ cho việc tham khảo, việc dạy và học về Công tác Xã hội. Chúng tôi hy vọng rằng, cuốn giáo trình Nhập môn Công tác Xã hội sẽ góp phần trong việc giúp đỡ người đọc có được một cái nhìn tổng quan và khái quát nhất về Công tác Xã hội. Đó là sự khác nhau giữa Công tác Xã hội và các ngành khoa học khác, chức năng và nhiệm vụ của Công tác Xã hội, nền tảng khoa học, các quan điểm giá trị, nguyên tắc đạo đức của nghề, các phương pháp, kỹ năng áp dụng, một số đối tượng chính của Công tác Xã hội,… Các kiến thức trong giáo trình đã được tham khảo, biên soạn từ nhau nguồn tài liệu khác nhau ở trong và ngoài nước. Nội dung của giáo trình được chia thành 3 chương: Chương 1: Công tác Xã hội là một khoa học. Chương 2: Nền tàng khoa học của Công tác Xã hội. Chương 3: Các nhóm đối tượng dễ bị tổn thương. Trong quá trình biên soạn, mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng có thể không tránh khỏi những sai sót, rất mong nhận được những đóng góp từ các nhà chuyên môn và bạn đọc gần xa nhằm hoàn thiện hơn nữa nội dung của cuốn giáo trình này. Thư góp ý xin gửi về: Công ty Cổ phần sách Đại học – Dạy nghề HEVOBCO, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, 25 Hàn Thuyên – Hà Nội. Xin trân trọng cảm ơn! TS. Mai Thị Kim Thanh Chương 1. CÔNG TÁC XÃ HỘI LÀ MỘT KHOA HỌC 1. KHÁI NIỆM CÔNG TÁC XÃ HỘI Công tác Xã hội cũng như bất kỳ môn khoa học nào, nó không xuất hiện ngay một lúc dưới dạng hoàn chỉnh với một hệ thống khái niệm, quy luật nguyên lý và phương pháp của nó. Vì vậy để hiểu và trả lời được câu hỏi “Công tác Xã hội là gì?” thì cho tới nay đã có rất nhiều cách hiểu và định nghĩa khác nhau về nó.Lulu Pablo – Bộ trưởng Bộ Xã hội Philippin: Công tác Xã hội vừa là một nghệ thuật vừa là một môn khoa học, là một nghề chuyên môn giúp con người giải quyết những vấn đề của cá nhân, của nhóm (đặc biệt gia đình), của cộng đồng và để đạt được những mối quan hệ thoả đáng về cá nhân nhóm, cộng đồng thông qua các hoạt động xã hội như: Công tác Xã hội cá nhân, Công tác Xã hội nhóm, tổ chức cộng đồng, quản lý xã hội và nghiên cứu. Theo Foundation of Social Work Practice (Cơ sở thực hành Công tác Xã hội): Công tác Xã hội là một khoa học ứng dụng để giúp đỡ mọi người vượt qua khó khăn của họ và đạt được vị trí ở mức độ phù hợp trong xã hội. Công tác Xã hội được coi như là một môn khoa học vì nó dựa trên những luận chứng khoa học và những cuộc nghiên cứu đã được chứng minh. Và chính những luận chứng và những cuộc nghiên cứu này đã cung cấp một lượng kiến thức có cơ sở thực tiễn cho Công tác Xã hội và xây dựng những kỹ năng chuyên môn hoá. Nguyễn Thị Oanh: Công tác Xã hội là một hoạt động thực tiễn mang tính tổng hợp cao, được thực hiện theo những nguyên tắc và phương pháp nhất định nhằm hỗ trợ cá nhân và nhóm người trong việc giải quyết các vấn đề đời sống của họ. Qua đó, Công tác Xã hội theo đuổi mục tiêu vì phúc lợi, hạnh phúc con người và tiến bộ xã hội. Công tác Xã hội là hoạt động thực tiễn bởi họ luôn làm việc trực tiếp với đối tượng, với nhóm người cụ thể và mang tính tổng hợp cao chính bởi người làm Công tác Xã hội phải làm việc với nhiều vấn đề khác nhau như: tệ nạn xã hội, vấn đề người nghèo, vấn đề gia đình,… Công tác Xã hội không giải quyết mọi vấn đề của con người và xã hội mà chỉ nhằm vào những vấn đề thiết yếu trong cuộc sống hàng ngày của con người. Đó là an sinh xã hội hay phúc lợi xã hội, đồng thời hỗ trợ con người giải quyết vấn đề đời sống cụ thể của họ, nhằm đem lại sự ổn định, hạnh phúc cho mọi người và phát triển cho cộng đồng, xã hội. Theo Joanf Robertson – Chủ nhiệm Khoa Công tác Xã hội, Trường Đại học Wisconsin – Hoa Kỳ: Công tác Xã hội là một quá trình giải quyết vấn đề hợp lý nhằm thay đổi theo kế hoạch, hướng tới mục tiêu đã đề ra ở các cấp độ cá nhân, gia đình, nhóm, tổ chức, cộng đồng và chính sách xã hội. Theo NASW – Tổ chức Quốc tế phục vụ cộng đồng, gia đình và tổ chức tình nguyện Liên Hợp Quốc: Công tác Xã hội là những hoạt động chuyên nghiệp, nhằm mục đích giúp đỡ các cá nhân, nhóm và cộng đồng trong hoàn cảnh khó khăn, để họ tự phục hồi chức năng hoạt động trong xã hội và để tạo ra các điều kiện thuận lợi cho họ đạt được những mục đích của cá nhân. Theo ISSW – Liên đoàn chuyên nghiệp Xã hội Quốc tế (tại Đại hội Montrean tháng 7/2000): Công tác Xã hội chuyên nghiệp thúc đẩy sự thay đổi xã hội việc giải quyết vấn đề trong mối quan hệ con người, sự tăng quyền lực và giải phóng người dân giúp cuộc sống của họ ngày càng thoải mái, dễ chịu. Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và hệ thống xã hội, Công tác Xã hội can thiệp ở các điểm tương tác giữa con người và môi trường của họ. Nhân quyền và công bằng xã hội là các nguyên tắc căn bản của nghề. Theo quan niệm của các học giả Trung Quốc: Công tác Xã hội là một sự nghiệp, một môn khoa học chuyên ngành của nhà nước và xã hội để giải quyết và dự phòng những vấn đề xã hội nảy sinh do thành viên xã hội thiếu khả năng thích ứng với cuộc sống xã hội hay mất thăng bằng với các chức năng xã hội. Tính năng của nó là điều chỉnh quan hệ xã hội, cải thiện chế độ xã hội, đẩy mạnh xây dựng xã hội, thúc đẩy sự phát triển ổn định của xã hội thông qua phục vụ xã hội và quản lý xã hội. C: Công tác Xã hội là sự cố gắng hỗ trợ những người không làm chủ các phương tiện sinh tồn biết tiếp cận được với chúng và đạt được mức độ độc lập cao nhất có thể được. Theo Từ điển Xã hội học: Công tác Xã hội là một dịch vụ đã chuyên môn hoá – một việc giúp đỡ có tính cá nhân để giải quyết những vấn đề xã hội đặc biệt. Với quan niệm phong phú về Công tác Xã hội như vậy nên việc nêu một định nghĩa thật hoàn chỉnh, chính xác về Công tác Xã hội không phải là đơn giản. Tuy nhiên, có thể tóm tắt nội dung khái niệm Công tác Xã hội như sau: Công tác Xã hội là một hoạt động chuyên nghiệp, một nghề, một dịch vụ xã hội nhằm giải quyết các vấn đề xã hội và cung ứng cho cá nhân, gia đình cá nhân ấy, cho một nhóm người, một cộng đồng khi gặp khó khăn mà tự họ không tìm ra lối giải quyết. Công tác Xã hội với trọng tâm là làm giảm bớt các vấn đề trong quan hệ của con người, là làm phong phú thêm cho cuộc sống thông qua mối quan hệ tương tác đã được cải thiện. Nó tăng cường năng lực, giải phóng tiềm năng của cá nhân, gia đình, cộng đồng thông qua các hoạt động hướng vào mối quan hệ hình thành sự tương tác giữa các cá nhân với môi trường. Công tác Xã hội còn cung ứng thông tin, tài liệu, sự hỗ trợ tinh thần và các kỹ năng chuyên môn thông qua sự quan tâm giữa người và người nhằm giúp đối tượng có thêm khả năng, điều kiện và hoàn cảnh để họ tự cải thiện cuộc sống của chính mình. Nhân viên Công tác Xã hội với các kỹ năng được đào tạo về chuyên môn và kinh nghiệm nghề nghiệp là người trực tiếp làm việc để đạt các mục đích được định rõ, vận dụng các phương pháp, kỹ năng cơ bản trong Công tác Xã hội để làm cho đối tượng có khả năng đáp ứng nhu cầu, giải quyết điều chỉnh những vấn đề đang đặt ra của mình cho phù hợp với sự thay đổi mô hình xã hội. Từ định nghĩa trên có thể thấy, Công tác Xã hội chính là một khoa học, một nghề và đối tượng của nó chính là các hoạt động xã hội đặc thù nhằm giúp đỡ các cá nhân, nhóm, cộng đồng ngăn chặn, khôi phục các chức năng bị suy thoái, đồng thời chính họ tự vươn lên để giải quyết các vấn đề đã và đang đặt ra của mình, từ đó hoà nhập với cộng đồng xã hội. CÁC CẤP CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI – Cấp độ vi mô: cá nhân (lịch sử bản thân, cuộc sống, đặc điểm tính cách, các khả năng,…). – Cấp độ trung mô: các nhóm nhỏ như gia đình với các thành viên của mình; nhóm lớn: trường học, cơ sở làm việc,… – Cấp độ vĩ mô: Xã hội (chính sách xã hội, chương trình, chiến lược quốc gia,…). PHÂN BIỆT CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI CÔNG TÁC TỪ THIỆN, CỨU TRỢ XÃ HỘI, BẢO ĐẢM XÃ HỘI 3.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ