KLTN nâng cao chất lượng cán bộ Hội phụ nữ tỉnh Ắt Ta Pư Lào - HVBCTT

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Ắt-ta-pư, Lào trong giai đoạn hiện nay.

Chuyên ngành

Chính trị học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2013

58
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan nâng cao chất lượng cán bộ Hội phụ nữ tỉnh Ắt Ta Pư

Chất lượng đội ngũ cán bộ giữ vai trò then chốt trong sự nghiệp phát triển phong trào phụ nữ tại Lào. Tỉnh Ắt Ta Pư nằm ở vùng Nam Lào, có vị trí địa lý và chiến lược quan trọng. Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Ắt Ta Pư là cầu nối vững chắc giữa Đảng Nhân dân Cách mạng Lào và các tầng lớp phụ nữ địa phương. Tổ chức này đảm nhận nhiệm vụ tuyên truyền đường lối, bảo vệ quyền lợi hợp pháp và chăm lo đời sống hội viên. Việc nâng cao chất lượng cán bộ bao gồm bồi dưỡng lý luận chính trị, nâng cao trình độ văn hóa và rèn luyện kỹ năng thực tiễn. Cán bộ Hội cần nắm vững kiến thức pháp luật và nghệ thuật vận động quần chúng. Đội ngũ có năng lực tốt sẽ triển khai hiệu quả các chương trình xóa đói giảm nghèo và chăm sóc sức khỏe sinh sản. Công tác này tạo nền tảng vững chắc để thúc đẩy bình đẳng giới và phát huy tiềm năng to lớn của phụ nữ các bộ tộc. Đổi mới tư duy và phương thức hoạt động của cán bộ Hội là yêu cầu cấp thiết nhằm đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế xã hội toàn diện của tỉnh.

1.1. Khái niệm và vai trò của đội ngũ cán bộ Hội phụ nữ

Đội ngũ cán bộ Hội phụ nữ là lực lượng nòng cốt tham mưu và tổ chức thực hiện các phong trào phụ nữ. Họ trực tiếp đưa chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước Lào vào đời sống nhân dân. Chất lượng cán bộ thể hiện qua phẩm chất đạo đức, trình độ học vấn, năng lực tổ chức và kỹ năng ứng xử. Cán bộ Hội đóng vai trò đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho hội viên. Họ lắng nghe tâm tư, giải quyết vướng mắc gia đình và hỗ trợ tư vấn cộng đồng. Cán bộ gương mẫu là động lực thu hút đông đảo phụ nữ tham gia sinh hoạt tổ chức.

1.2. Các yếu tố tác động đến chất lượng cán bộ tại Ắt Ta Pư

Nhiều yếu tố khách quan và chủ quan tác động đến chất lượng cán bộ Hội tại tỉnh Ắt Ta Pư. Về khách quan, điều kiện kinh tế khó khăn và địa hình đồi núi hiểm trở gây trở ngại cho công tác giao lưu học hỏi. Hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông và thông tin liên lạc chưa phát triển đồng đều. Phong tục tập quán lạc hậu cùng tư tưởng trọng nam khinh nữ vẫn còn tồn tại ở một số vùng nông thôn. Về chủ quan, nhận thức của cấp ủy Đảng về công tác phụ nữ ở vài nơi chưa thật sự sâu sắc. Kinh phí hoạt động và trang thiết bị làm việc của Hội cơ sở còn thiếu thốn. Chính sách đãi ngộ cán bộ Hội vùng sâu chưa đủ hấp dẫn.

II. Thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ Hội phụ nữ tỉnh Ắt Ta Pư

Trong những năm qua, công tác phụ nữ tại tỉnh Ắt Ta Pư đạt được nhiều kết quả tích cực. Đội ngũ cán bộ Hội luôn giữ vững phẩm chất chính trị và trung thành với mục tiêu của Đảng NDCM Lào. Các cấp Hội đã tổ chức 138 lần tư vấn khó khăn cho phụ nữ trong gia đình và xã hội. Mạng lưới tư vấn cơ sở được củng cố vững chắc tại 4 bản làng điểm. Hội triển khai 42 đợt phổ biến Luật Phát triển và Bảo vệ Phụ nữ, Trẻ em tới hơn 4.200 lượt người. Bên cạnh đó, các cấp Hội tích cực vận động phụ nữ đi tiêm chủng vắc xin và chăm sóc sức khỏe định kỳ. Phong trào phụ nữ giúp nhau làm kinh tế gia đình phát triển rộng khắp. Nhiều mô hình trồng trọt và chăn nuôi sản xuất hàng hóa mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt. Tuy vậy, trình độ lý luận chính trị và chuyên môn của một bộ phận cán bộ Hội cơ sở vẫn còn hạn chế. Năng lực ứng dụng khoa học kỹ thuật và quản lý tài chính chưa đồng đều giữa các vùng. Sự thiếu hụt kinh phí và trang thiết bị làm việc tiếp tục là rào cản lớn đối với hoạt động phong trào.

2.1. Thành tựu nổi bật trong công tác phong trào phụ nữ

Đội ngũ cán bộ Hội tỉnh Ắt Ta Pư đã đạt nhiều kết quả quan trọng trong công tác tuyên truyền và vận động. Hội tổ chức 19 lớp bồi dưỡng về bình đẳng giới cho hơn 800 hội viên tham gia. Công tác phổ biến các bộ luật như Luật Dân sự, Luật Hôn nhân Gia đình và Luật Đất đai được tiến hành sâu rộng. Đội ngũ cán bộ chủ động hướng dẫn chị em chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi nhằm nâng cao thu nhập. Nhiều tấm gương phụ nữ sản xuất giỏi xuất hiện ở các huyện vùng sâu. Phong trào xây dựng gia đình văn hóa và bảo vệ sức khỏe bà mẹ trẻ em lan tỏa mạnh mẽ.

2.2. Hạn chế và nguyên nhân ảnh hưởng chất lượng cán bộ

Bên cạnh thành tích, công tác cán bộ Hội tại tỉnh Ắt Ta Pư vẫn tồn tại một số điểm nghẽn. Cơ cấu độ tuổi của cán bộ chưa thực sự hợp lý, tỷ lệ cán bộ trẻ kế cận còn thấp. Trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ và lý luận chính trị ở cấp bản chưa đáp ứng tiêu chuẩn chung. Kỹ năng tham mưu, lập kế hoạch và phương pháp vận động quần chúng của một số cán bộ còn rập khuôn. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ nguồn kinh phí đào tạo hạn hẹp và công tác quy hoạch chưa đồng bộ. Địa bàn miền núi đi lại khó khăn cũng làm giảm tính thường xuyên của các khóa tập huấn.

III. Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Hội tỉnh Ắt Ta Pư

Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ mới, tỉnh Ắt Ta Pư cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp chiến lược. Trước hết, công tác tư tưởng và giáo dục chính trị phải được đặt lên hàng đầu. Cán bộ Hội cần kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Thứ hai, cấp ủy Đảng và Hội Liên hiệp Phụ nữ cần xây dựng quy hoạch cán bộ dài hạn, chú trọng đào tạo nguồn cán bộ nữ trẻ tuổi và người dân tộc thiểu số. Thứ ba, công tác đào tạo chuyên môn phải gắn liền với thực tiễn cơ sở. Các chương trình bồi dưỡng cần tập trung vào kỹ năng tư vấn pháp luật, quản lý tài chính và hỗ trợ phát triển kinh tế hộ gia đình. Thứ tư, cơ quan lãnh đạo cần đổi mới cơ chế tuyển dụng, đánh giá và bố trí cán bộ. Việc sử dụng cán bộ phải đúng người, đúng việc và đúng sở trường năng lực. Cuối cùng, chính quyền địa phương cần tăng cường đầu tư ngân sách, cải thiện cơ sở vật chất và ban hành chính sách đãi ngộ xứng đáng cho cán bộ Hội cơ sở.

3.1. Đổi mới công tác đào tạo và bồi dưỡng lý luận nghiệp vụ

Đào tạo và bồi dưỡng là giải pháp then chốt để nâng cao chất lượng cán bộ Hội tại tỉnh Ắt Ta Pư. Chương trình đào tạo cần kết hợp chặt chẽ giữa lý luận chính trị và kỹ năng thực hành công tác vận động. Tổ chức Hội cần mở các lớp bồi dưỡng ngắn ngày tại chỗ về kiến thức pháp luật và phòng chống bạo lực gia đình. Cán bộ Hội phải được trang bị kỹ năng phân tích dữ liệu, ứng dụng công nghệ thông tin và điều hành các tổ tiết kiệm tín dụng. Cấp tỉnh cần liên kết với các cơ sở đào tạo trong nước và quốc tế, đặc biệt là các học viện tại Việt Nam, để nâng cao trình độ cho cán bộ nguồn.

3.2. Hoàn thiện quy trình quy hoạch bố trí và sử dụng cán bộ

Việc bố trí và sử dụng cán bộ quyết định trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của tổ chức Hội. Các cấp lãnh đạo cần bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ trong quy trình đề bạt và bổ nhiệm cán bộ nữ. Bố trí công tác phải dựa trên năng lực chuyên môn, uy tín đạo đức và sở trường thực tế của từng cá nhân. Hội cần xây dựng tiêu chuẩn đánh giá định kỳ minh bạch gắn liền với kết quả phong trào tại địa phương. Cơ chế luân chuyển cán bộ từ tỉnh về cơ sở giúp rèn luyện kinh nghiệm thực tế cho đội ngũ kế cận. Việc khen thưởng kịp thời và bảo đảm chính sách đãi ngộ sẽ tạo động lực phấn đấu mạnh mẽ.

IV. Đánh giá ứng dụng thực tiễn và bài học kinh nghiệm tại Ắt Ta Pư

Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Ắt Ta Pư là một nhiệm vụ vừa cấp bách vừa mang tầm chiến lược lâu dài. Kết quả nghiên cứu khẳng định mối quan hệ mật thiết giữa năng lực cán bộ và sự lớn mạnh của phong trào phụ nữ. Quá trình triển khai thực tế đòi hỏi sự lãnh đạo toàn diện của cấp ủy Đảng và sự hỗ trợ từ chính quyền địa phương. Công tác cán bộ phải luôn bám sát đặc điểm văn hóa và điều kiện kinh tế xã hội của vùng đất Nam Lào. Mỗi giải pháp được đề xuất đều có tính khả thi cao và giá trị ứng dụng thiết thực cho các huyện, bản tại Ắt Ta Pư. Khi đội ngũ cán bộ được trang bị đầy đủ kiến thức và kỹ năng, họ sẽ tự tin vận động quần chúng tham gia xây dựng đời sống mới. Việc thúc đẩy bình đẳng giới không chỉ giải phóng tiềm năng của phụ nữ mà còn đóng góp trực tiếp vào mục tiêu phát triển bền vững quốc gia. Đây là nền tảng quan trọng giúp nước CHDCND Lào từng bước xóa đói giảm nghèo và tiến bộ xã hội.

4.1. Bài học kinh nghiệm trong xây dựng đội ngũ cán bộ Hội

Thực tiễn công tác tại tỉnh Ắt Ta Pư rút ra nhiều bài học quý báu về xây dựng cán bộ. Bài học đầu tiên là sự lãnh đạo trực tiếp và thường xuyên của Tỉnh ủy là nhân tố quyết định thành công. Thứ hai, công tác cán bộ phải gắn liền chặt chẽ với nhiệm vụ chính trị và tình hình đời sống nhân dân địa phương. Thứ ba, đào tạo phải đi đôi với bố trí công việc hợp lý để tránh lãng phí nguồn nhân lực nữ. Thứ tư, tổ chức Hội cần chủ động xây dựng mạng lưới tư vấn viên tin cậy ngay tại thôn bản. Cuối cùng, việc duy trì mối quan hệ hợp tác quốc tế trong bồi dưỡng cán bộ đóng vai trò rất quan trọng.

4.2. Khả năng ứng dụng và kiến nghị phát triển phong trào

Các giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ có tính ứng dụng cao cho toàn bộ hệ thống Hội phụ nữ tỉnh Ắt Ta Pư. Mô hình tư vấn cơ sở và chuyển giao kỹ thuật kinh tế có thể nhân rộng tại nhiều địa phương miền núi khác của Lào. Để hiện thực hóa mục tiêu, Tỉnh ủy và chính quyền tỉnh Ắt Ta Pư cần tăng cường phân bổ ngân sách cho các đề án đào tạo cán bộ nữ. Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Lào cần hoàn thiện hệ thống giáo trình tập huấn phù hợp với đồng bào dân tộc thiểu số. Đồng thời, việc mở rộng hợp tác đào tạo với các trường đại học tại Việt Nam sẽ tiếp tục tạo nguồn cán bộ chất lượng cao.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

15/06/2026
Kltn nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ của hội liên hiệp phụ nữ tỉnh ắt ta pư nước cộng hoà dân chủ nhân dân lào trong giai đoạn hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CỦA HỘI LIÊN HIỆP PHỤ NỮ TỈNH ẮT TA PƯ, NƯỚC CHDCND LÀO HIỆN NAY 1. Khái niệm chất lượng đội ngũ cán bộ của Hội liên hiệp phụ nữ tỉnh Ắt Ta Pư nước CHDCDN Lào 1. Quan niệm về chất lượng đội ngũ cán bộ nói chung , cán bộ là nữ nói riêng * Cán bộ : Các nhà nghiên cứu chuyên về công tác tổ chức cán bộ cho rằng: Thuật ngữ cán bộ là khái niệm do người Nhật sử dụng đầu tiên, sau đó được du nhập sang Trung Quốc vào Việt Nam, Lào. Từ khi có Đảng lãnh đạo đất nước, tên gọi cán bộ đã từng để lại dấu ấn đẹp trong lịch sử cách mạng Lào và được sử dụng phổ biến trong thời kỳ kháng chiến để phân biệt những người thoát ly tham gia hoạt động kháng chiến với nhân dân.

Cán bộ là một danh từ được dùng rộng rãi trong hoạt động tổ chức và lãnh đạo của các Đảng Cộng sản cũng như trong các mối quan hệ xã hội hàng ngày ở các nước xã hội chủ nghĩa, kể cả ở nước CHDCND Lào hiện nay. Theo từ điển tiếng Việt, xuất bản năm 1993, thuật ngữ cán bộ được hiểu theo 2 nghĩa: Một là, người làm công tác nghiệp vụ có chuyên môn trong cơ quan Nhà nước, đơn vị Đảng và đoàn thể. Theo nghĩa này, cán bộ không chỉ là những người làm công tác có nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan Nhà nước mà còn ở trong cả hệ thống chính trị. Hai là, người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức, phân biệt với người không có chức vụ.

Với nghĩa này, cán bộ là những người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức của hệ thống chính trị, 6 là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý. Bộ phận cán bộ này được hình thành thông qua việc bầu cử dân chủ, đề bạt, bổ nhiệm. Theo luật Cán bộ, công chức Việt Nam số 22/2008/QH12 ngày 13 tháng 11 năm 2008, Điều 4: Cán bộ, công chức: 1. Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.

Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Ở Cộng hoà Dân chủ Nhân Dân Lào, theo Từ điển tiếng Lào: “cán bộ cũng đồng nghĩa với công chức, nhà chức trách” [19, tr. Còn quan niệm về công chức được thể hiện trong Nghị định 171 (1993), nay là Nghị định 82 (2003) của Thủ tướng Chính phủ về Quy chế công chức Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào. Sau ngày giải phóng giành được độc lập hoàn toàn trên cả nước, chính quyền về tay nhân dân, thành lập nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào ngày 7 02 tháng 12 năm 1975, từ đó Đảng trở thành Đảng cầm quyền, từ cán bộ được sử dụng một cách phổ biến trên cả nước và dường như thay hoàn toàn cho từ “viên chức” đã được gọi trong chế độ bù nhìn Viêng Chăn.

Kể từ đó đến nay, trong xã hội đã hiểu danh từ cán bộ là danh xưng cho tất cả những người làm việc trong bộ máy cơ quan Đảng, chính quyền, Mặt trận, các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội, các nhà máy, xí nghiệp Nhà nước, lực lượng vũ trang. Cách hiểu như thế xuất phát từ chỗ, các đối tượng này có điểm chung là những người được hưởng lương từ ngân sách Nhà nước. Hiện nay, để phù hợp với pháp luật, Chính phủ đã ban hành hai nghị định về quy chế quản lý công chức CHDCND Lào, đó là Nghị định số 171/TTg, ngày 11 tháng 11 năm 1993 và sau đó đã được sửa đổi, bổ sung thành Nghị định số 82/TTg, ngày 19 tháng 05 năm 2003, về cơ bản đã quy định tương đối rõ cán bộ - công chức CHDCND Lào, tại điều 2 viết: "Công chức của CHDCND Lào là công dân Lào đã được biên chế và được bổ nhiệm cho làm công việc thường xuyên tại các cơ quan bộ máy của Đảng, Nhà nước, cơ quan tổ chức đoàn thể cấp Trung ương, cấp địa phương và cơ quan đại diện CHDCND Lào tại nước ngoài, mà được hưởng lương và trợ cấp từ ngân sách của Nhà nước" [2, tr2]. Dù cách dùng, cách hiểu trong các trường hợp ở lĩnh vực cụ thể có khác nhau, nhưng về cơ bản có thể thấy những đặc trưng cơ bản của cán bộ là: - Bao hàm nghĩa chính của nó là bộ khung, là nòng cốt.

- Có tác động, ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của tổ chức, đơn vị đó. - Có liên quan đến hoạt động lãnh đạo, quản lý, chỉ huy. Như vậy, có thể hiểu một cách chung nhất, cán bộ là khái niệm chỉ những người có chức trách, vai trò nòng cốt trong một tổ chức, cơ quan, đơn vị có tác động, ảnh hưởng đến hoạt động của tổ chức và các quan hệ trong lãnh đạo, chỉ huy, quản lý, điều hành, góp phần định hướng sự phát triển của tổ chức và được hưởng lương từ ngân sách nhà nước. * Cán bộ nữ: 8 Phụ nữ là lực lượng xã hội đông về số lượng, giỏi về tài năng, thanh liêm, chính trực, giàu lòng yêu nước, thương nhà, có chí vượt khó và cầu tiến.

Hồ Chí Minh cho rằng cán bộ nữ có ưư điểm như: ít mắc bệnh tham ô, lãng phí, không hay chè chén, ít hống hách mệnh lệnh như một số cán bộ nam. Nhiều cán bộ nữ có năng lực lãnh đạo và quản lý; có đức tính liêm khiết, có tinh thần trách nhiệm, tận tuỵ, có ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong dân chủ, giàu lòng vị tha, gần gũi với quần chúng, đặc biệt là quần chúng phụ nữ. Song, phụ nữ cũng có những nhược điểm như bệnh tự ti, ỉ lại, an phận, thủ tiêu đấu tranh, nhụt chí phấn đấu. Đồng thời, phụ nữ cũng có những đặc thù riêng về giới như thể chất, sức khoẻ và thiên chức làm mẹ, làm vợ trong gia đình.

Vì vậy, điều căn bản có ý nghĩa quyết định cho sự bình đẳng của phụ nữ là phải tạo điều kiện để chị em tham gia lao động sản xuất, quản lý kinh tế, quản lý xã hội và tham gia hoạt động chính trị, cùng nam giới. Song, điều có ý nghĩa quyết định đối với sự nghiệp giải phóng phụ nữ là ở sự phấn đấu nỗ lực, sự khẳng định của chính bản thân phụ nữ. Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “ Lợi quyền của phụ nữ cần được thật sự đảm bảo, bản thân phụ nữ thì phải đấu tranh, tự cường, tự lập để giữ lấy lợi quyền của mình”. Người còn căn dặn: “Mỗi một người và tất cả phụ nữ phải hăng hái nhận lấy trách nhiệm của người làm chủ đất nước, tức là phải ra sức thi đua tăng gia sản xuất và thực hiện tiết kiệm để xây dựng nước nhà, xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Muốn làm tròn nhiệm vụ vẻ vang đó, phụ nữ ta phải xoá bỏ cái tâm lý tự ti và ỷ lại; phải có ý chí tự cường, tự lập; phải nâng cao lên mãi trình độ chính trị, văn hoá, kỹ thật”[15, tr. Để công cuộc giải phóng phụ nữ trở thành hiện thực, đòi hỏi chính sự tự khẳng định năng lực, vai trò của chị em phụ nữ trong gia đình, ngoài xã hội. Cán bộ nữ cũng giống như cán bộ nói chung đều có những phẩm chất về chính trị, tư tưởng, tâm lý đạo đức và năng lực tổ chức cuyên môn nhất định, tương xứng với yêu cầu, vị trí công tác được giao giúp họ hoàn thành nhiệm vụ. Ngoài những đặc điểm chung người cán bộ nữ còn có những đặc điểm tâm lý riêng biệt, có nhiều ưu thế hơn nam giới.

Có một số nhà nghiên cứu cho rằng: 9 “Phụ nữ thường cởi mở hơn trong hợp tác, ít quan tâm giành quyền lực riêng. Phụ nữ thường ổn định và khiêm tốn hơn nam giới nên thường thận trọng và có khả năng thuyết phục tốt hơn nam giới khi ra quyết định cũng như điều hành, hướng dẫn người khác”[8, tr. Đặc biệt trong xã hội hiện đại, phụ nữ có khả năng làm tốt công tác lãnh đao, quản lý vì họ có tố chất hết sức quan trọng là biết tiếp thu cái mới, tiến bộ, song không phải mạnh mẽ như nam giới mà biết kết hợp giữa cái cũ được cơ cấu lại và cái mới nên tạo tính hiệu quả và tính thuyết phục cao hơn. Những ưu thế tâm lý của người phụ nữ khi làm công tác lãnh đạo, quản lý có thể được cụ thể hoá như sau: Sự nhạy cảm về tổ chức hay còn gọi là linh cảm về tổ chức của người cán bộ nữ mà trước hết là sự nhạy cảm về tâm lý, hiểu được tâm lý người khác để biết cách cư xử hợp lý, hợp tình, có khả năng đồng cảm với người đối thoại để xử lý phù hợp với mọi đối tượng trong hoàn cảnh, điều kiện thực tế.

Đây chính là khả năng cho phép người cán bộ lãnh đạo, quản lý nữ đưa ra những quyết định, ý kiến dễ thuyết phục trước tập thể. Sự khéo léo ứng xử về mặt tâm lý của cán bộ lãnh đạo, quản lý là nữ. Đây là khả năng hiểu được đặc điểm tâm lý của từng ngưòi, quan tâm đến mỗi người và có cách quan hệ đúng với từng người. Khả năng này của người lãnh đạo, quản lý là nữ bắt đầu từ đặc điểm giới tính như giản dị, tự nhiên, chân thành, lịch thiệp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ