Khóa luận thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo ở huyện Sukuma Lào

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu thực trạng và giải pháp thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo tại huyện Sukuma tỉnh Champasak nước CHDCND Lào hiện nay.

Chuyên ngành

Chính trị học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp
65
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo ở huyện Sukuma

Vấn đề đói nghèo là thách thức lớn đối với sự phát triển kinh tế và ổn định xã hội. Tại nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, công tác giảm nghèo luôn giữ vị trí trung tâm trong chiến lược quốc gia. Huyện Sukuma thuộc tỉnh Chămpasắc là một trong những địa bàn vùng sâu gặp nhiều khó khăn. Địa phương này từng nằm trong danh sách 47 huyện nghèo nhất cả nước. Địa hình phức tạp cùng kết cấu hạ tầng yếu kém gây trở ngại cho giao thương. Trình độ dân trí và phương thức canh tác truyền thống cũng hạn chế khả năng tạo thu nhập. Nhận thức rõ điều này, Đảng và Nhà nước Lào ban hành nhiều chủ trương đồng bộ. Các chương trình mục tiêu quốc gia tập trung huy động nguồn lực phát triển sản xuất. Chính quyền địa phương triển khai chính sách an sinh gắn liền với ổn định quốc phòng. Quá trình thực hiện đòi hỏi sự kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội. Xóa đói giảm nghèo không chỉ mang ý nghĩa nhân văn mà còn là động lực tăng trưởng bền vững.

1.1. Bối cảnh tự nhiên và kinh tế xã hội tại huyện Sukuma

Huyện Sukuma nằm ở phía nam tỉnh Chămpasắc với diện tích đất nông nghiệp rộng lớn. Tuy nhiên điều kiện khí hậu khắc nghiệt và nguồn nước tưới tiêu chưa đồng bộ gây ảnh hưởng tới mùa vụ. Đa số dân cư là đồng bào dân tộc thiểu số với tập quán canh tác tự cấp tự túc. Tỷ lệ mù chữ và thiếu kỹ năng nghề nghiệp còn ở mức cao. Mạng lưới đường giao thông liên xã thường xuyên bị chia cắt vào mùa mưa. Cơ sở y tế và trường học chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu dân sinh. Những yếu tố này tạo nên lực cản lớn đối với mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại địa phương.

1.2. Cơ sở lý luận về chính sách xóa đói giảm nghèo của Lào

Chính sách xóa đói giảm nghèo tại Lào hình thành dựa trên quan điểm lấy con người làm trung tâm. Đảng Nhân dân Cách mạng Lào xác định mục tiêu phát triển kinh tế phải đi đôi với công bằng xã hội. Nhà nước đóng vai trò kiến tạo, xây dựng khung pháp lý và phân bổ ngân sách. Việc thực hiện chính sách chuyển dịch từ phương thức hỗ trợ thụ động sang tạo động lực tự vươn lên. Quan điểm chỉ đạo nhấn mạnh việc hỗ trợ tư liệu sản xuất, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật và đào tạo nghề. Đây là nền tảng bảo đảm tính bền vững lâu dài.

II. Thực trạng chính sách xóa đói giảm nghèo ở huyện Sukuma Chămpasắc

Thực tiễn triển khai chính sách tại huyện Sukuma đã mang lại nhiều chuyển biến tích cực. Tỷ lệ hộ nghèo giảm dần qua từng giai đoạn nhờ các dự án hỗ trợ cây trồng vật nuôi. Hệ thống điện lưới quốc gia, trạm y tế và trường học từng bước được kiên cố hóa. Đời sống văn hóa cùng nhận thức vệ sinh phòng dịch của người dân có bước tiến bộ rõ nét. Tuy vậy, kết quả giảm nghèo vẫn chưa thực sự đồng đều và vững chắc. Nguy cơ tái nghèo sau thiên tai hoặc dịch bệnh vẫn ở mức đáng lo ngại. Nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp còn mang tính nhỏ lẻ manh mún. Khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng ưu đãi của các hộ gia đình vùng sâu còn hạn chế. Công tác quản lý và phân bổ ngân sách tại một số ban ngành cấp huyện đôi lúc chưa kịp thời. Tinh thần ỷ lại vào trợ cấp Nhà nước vẫn tồn tại ở một bộ phận dân cư. Những bất cập này đòi hỏi phải có sự đánh giá khách quan để điều chỉnh.

2.1. Những kết quả tích cực đạt được trong công tác an sinh

Chính quyền huyện Sukuma đã lồng ghép hiệu quả các nguồn vốn đầu tư công. Nhiều tuyến đường giao thông nông thôn được mở rộng giúp việc vận chuyển nông sản thuận lợi hơn. Các lớp tập huấn kỹ thuật chăn nuôi gia súc, canh tác lúa nước năng suất cao được tổ chức định kỳ. Trẻ em trong độ tuổi đến trường được tạo điều kiện tiếp cận giáo dục phổ cập. Tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế và thụ hưởng dịch vụ khám chữa bệnh cơ bản tăng lên rõ rệt. Những thành tựu này góp phần củng cố niềm tin của đồng bào vào đường lối lãnh đạo của Đảng.

2.2. Khó khăn tồn tại và nguyên nhân dẫn đến nguy cơ tái nghèo

Tình trạng thiếu vốn đầu tư dài hạn khiến các công trình thủy lợi chưa phát huy tối đa công suất. Thị trường tiêu thụ nông sản bấp bênh do phụ thuộc vào thương lái tư nhân. Năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ làm công tác giảm nghèo cấp cơ sở còn thiếu đồng đều. Việc theo dõi đánh giá hộ nghèo định kỳ đôi khi chưa phản ánh sát thực tế đời sống. Thêm vào đó tập quán du canh nương rẫy cũ chưa được xóa bỏ triệt để. Tác động của biến đổi khí hậu cũng gây thiệt hại nặng nề cho mùa màng hàng năm.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả xóa đói giảm nghèo ở huyện Sukuma Lào

Để nâng cao chất lượng công tác giảm nghèo, huyện Sukuma cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp. Trọng tâm hàng đầu là đổi mới mô hình tổ chức sản xuất nông nghiệp hàng hóa. Địa phương cần chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng. Nhà nước cần tăng cường đầu tư hoàn thiện hệ thống thủy lợi và giao thông nội đồng. Việc mở rộng mạng lưới tín dụng vi mô với lãi suất ưu đãi sẽ giúp người nghèo chủ động tạo sinh kế. Bên cạnh đó chính quyền cần chú trọng đào tạo nghề gắn với nhu cầu thị trường lao động. Công tác nâng cao dân trí và chăm sóc sức khỏe cộng đồng phải được duy trì thường xuyên. Cần huy động sự tham gia của các tổ chức quốc tế và doanh nghiệp tư nhân. Phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm phải được quán triệt xuyên suốt. Đội ngũ cán bộ cơ sở cần được bồi dưỡng năng lực quản lý để thực thi chính sách hiệu quả.

3.1. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp hàng hóa

Huyện Sukuma cần tập trung phát triển các mô hình kinh tế trang trại và hợp tác xã kiểu mới. Việc ứng dụng giống lúa chất lượng cao và cây công nghiệp ngắn ngày mang lại giá trị thặng dư lớn. Ngành nông nghiệp địa phương cần xây dựng chuỗi liên kết từ sản xuất đến chế biến, tiêu thụ sản phẩm. Khuyến khích chăn nuôi bò thịt, lợn bản địa theo hướng bán công nghiệp an toàn sinh học. Tạo dựng các mối liên kết với thương mại khu vực tỉnh Chămpasắc để ổn định đầu ra nông sản. Đây là đòn bẩy quan trọng thúc đẩy kinh tế hộ gia đình phát triển.

3.2. Đào tạo nghề và hoàn thiện chính sách hỗ trợ xã hội

Huyện cần đẩy mạnh mở các lớp dạy nghề ngắn hạn phù hợp với lao động nông thôn. Đào tạo tập trung vào kỹ năng sửa chữa máy móc nông cụ, kỹ thuật trồng trọt và thủ công mỹ nghệ. Đi kèm với đào tạo là chính sách cho vay vốn ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách xã hội. Đồng thời chính quyền cần củng cố mạng lưới an sinh, trợ cấp kịp thời cho các đối tượng yếu thế. Tăng cường tuyên truyền thay đổi nếp nghĩ, khơi dậy tinh thần tự lực vươn lên thoát nghèo bền vững của nhân dân.

IV. Ý nghĩa ứng dụng của chính sách xóa đói giảm nghèo ở huyện Sukuma

Việc thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo tại huyện Sukuma mang ý nghĩa chiến lược to lớn. Kết quả đạt được khẳng định tính đúng đắn trong đường lối phát triển của Đảng và Nhà nước Lào. Đời sống vật chất lẫn tinh thần của người dân địa phương đã có những bước cải thiện căn bản. Sự thành công này tạo tiền đề vững chắc cho mục tiêu công nghiệp hóa hiện đại hóa nông thôn. Các bài học kinh nghiệm tại Sukuma có giá trị thực tiễn sâu sắc đối với các huyện nghèo khác. Mô hình kết hợp phát triển kinh tế với an sinh xã hội cho thấy hiệu quả thiết thực. Để duy trì thành quả địa phương phải tiếp tục củng cố hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh. Việc kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường và công bằng xã hội là yêu cầu tất yếu. Đây chính là con đường đúng đắn giúp Sukuma thoát khỏi tình trạng nghèo nàn lạc hậu.

4.1. Bài học kinh nghiệm đối với các địa phương vùng sâu của Lào

Kinh nghiệm từ Sukuma chứng minh rằng chính sách giảm nghèo chỉ thành công khi có sự đồng thuận của nhân dân. Sự phân bổ nguồn lực phải đi đôi với công tác giám sát, kiểm tra minh bạch. Đầu tư hạ tầng thiết yếu phải được ưu tiên đi trước một bước để mở đường giao thương. Việc trao quyền chủ động cho cộng đồng thôn bản giúp phát huy nội lực sẵn có. Bài học về kết hợp giữa hỗ trợ kỹ thuật và hỗ trợ vốn là chìa khóa then chốt cho các vùng khó khăn khác.

4.2. Định hướng phát triển bền vững cho huyện Sukuma tương lai

Trong giai đoạn tiếp theo huyện Sukuma cần hướng tới mục tiêu phát triển bền vững đa chiều. Việc nâng cao chất lượng giáo dục và chăm sóc y tế toàn dân là nhiệm vụ trọng tâm. Khai thác hợp lý tài nguyên đất đai gắn với bảo vệ môi trường rừng tự nhiên. Đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý dữ liệu hộ nghèo và điều hành an sinh xã hội. Xây dựng nông thôn mới hiện đại nhưng vẫn gìn giữ bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp của các bộ tộc Lào.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

15/06/2026
Kltn cth thực hiện chính sách xóa đói giảm nghèo ở huyện sukuma tỉnh chămpasắc nước chdcnd lào hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CHÍNH SÁCH XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở HUYỆN SUKUMA, TỈNH CHĂM PA SẮC, NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO - CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. QUAN ĐIỂM VỀ ĐÓI NGHÈO VÀ CHÍNH SÁCH XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở NƯỚC CHDCND LÀO 1. Quan niệm về đói nghèo Đói nghèo không còn là vấn đề riêng của từng quốc gia, mà là vấn đề có tính toàn cầu, bởi lẽ ở tất cả các quốc gia trên thế giới, kể cả những nước giàu nhất về kinh tế như Mỹ, Đức, Nhật. Đói nghèo là một hiện tượng tồn tại ở tất cả các quốc gia dân tộc.

Nó là một khái niệm rộng, luôn thay đổi theo không gian và thời gian. Đến nay, có nhiều khái niệm khác nhau về đói nghèo. Tuy nhiên, Lào, Việt Nam và các quốc gia trong khu vực đã thống nhất sử dụng khái niệm được nêu ra tại Hội nghị bàn về XĐGN ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương do Hội đồng kinh tế - xã hội Châu Á (ESCAP) tổ chức tại Băng Cốc (Thái Lan) tháng 9/1993. Đó là: "Đói nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận, tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của từng địa phương".

Để đánh giá đúng mức độ nghèo, Liên hợp quốc đã đưa ra hai khái niệm nghèo đói như sau: Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản, tối thiểu để duy trì cuộc sống (nhu cầu về ăn, mặc, nhà ở, chăm sóc y tế, giáo dục. Nghèo tương đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức trung bình của cộng đồng tại địa phương, ở một thời kỳ nhất định [1]. Những quan niệm về đói nghèo nêu trên, phản ánh ba khía cạnh chủ yếu của người nghèo là: Không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức 7 tối thiểu dành cho con người; có mức sống thấp hơn mức sống cộng đồng; thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng. Nghèo tuyệt đối chủ yếu phản ánh tình trạng một bộ phận dân cư không được thỏa mãn những nhu cầu tối thiểu của con người, trước hết là ăn, mặc, ở.; Nghèo tương đối lại phản ánh sự chênh lệch về mức sống của một bộ phận dân cư khi so sánh với mức sống trung bình của cộng đồng địa phương trong một thời kỳ nhất định.

Do đó, có thể xóa dần nghèo tuyệt đối, còn nghèo tương đối luôn xảy ra trong xã hội, vấn đề quan tâm ở đây là rút ngắn khoảng cách chênh lệch giàu nghèo và hạn chế sự phân hóa giàu - nghèo, giảm thiểu tới mức thấp nhất tỷ lệ nghèo tương đối. Quan niệm về chính sách XĐGN Nói về chớnh sỏch XĐGN, đã có rất nhiều quan niệm đưa ra nhưng chủ yếu tập trung vào một số quan niệm sau: Chớnh sỏch XĐGN là tổng thể các hoạt động trực tiếp hoặc gián tiếp nhằm thực hiện mục tiêu hỗ trợ như điều kiện căn bản (ăn, ở, đi lại, học hành) để người nghèo có thể tồn tại và phát triển để dần đạt tới mức trung bình như các thành viên khác trong cộng đồng. Chớnh sỏch XĐGN là quá trình đưa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước vào việc nâng cao chủ trương, chính sách cho người dân đặc biệt là hộ nghèo, xã nghèo trên cả nước. Thông qua các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, các cơ quan, đoàn thể, các địa phương giúp đỡ người nghèo, xã nghèo phát triển kinh tế, cải thiện đời sống, nâng cao mức thu nhập và các nhu cầu thiết yếu khác, qua đó từng bước giúp hộ nghèo, rút ngắn khoảng cách chênh lệch giữa các vùng, các địa phương, đặc 8 biệt là giữa thành thị và nông thôn, giữa miền Nam và miền Bắc, giữa các dân tộc trong cả nước.

Để làm tốt chính sách này, chúng ta phải có nhận thức đúng đắn và thống nhất quan điểm XĐGN là giúp đỡ người nghèo vươn lên để thoát khỏi nghèo, đói chứ không phải trợ cấp hoặc mang tính chất bố thí cho người nghèo, cho người nghèo "cái cần câu chứ không phải cho họ xâu cá". Để chính sách XĐGN đạt hiệu quả phải tích cực, cần tuyên truyền vận động, giúp đỡ người nghèo, cung cấp tiền vốn, phương tiện sản xuất, hướng dẫn họ cách thức làm ăn để họ tự vươn lên xóa bỏ tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước, chính quyền địa phương, đồng thời giúp họ xóa bỏ tâm lý tự ti, mặc cảm, giúp người nghèo có lòng tin vào Đảng và Nhà nước, cơ quan và tin vào chính mình, tin vào cuộc sống tương lai. Tiêu chí đánh giá đói nghèo * Tiêu chí xác định mức nghèo của Lào: Theo Nghị định số 285/TTg, ngày 13 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ Lào, quy định về chuẩn nghèo và tiêu chuẩn phát triển giai đoạn 2010- 2015, Chính phủ còn đưa ra chuẩn nghèo của Lào như sau: - Người nghèo: Chuẩn nghèo là dựa vào mức thu nhập bình quân đầu người trong một tháng không phân biệt giới tính, tuổi thọ và đánh giá theo đồng tiền kíp Lào. Trong giai đoạn 2006-2010, chuẩn nghèo bình quân cả nước là: 192.000 kíp/người/tháng; Chuẩn nghèo ở vùng nông thôn là: 180.000 kíp/người/tháng; Chuẩn nghèo ở thành thị là: 240.000 kíp/người/tháng.

Ở nông thôn vùng dân tộc thiểu số hộ nghèo là hộ có thu nhập thấp hơn 250.000 kíp/người/tháng. Còn ở thành thịvà vùng lân cận hộ nghèo là hộ có thu nhập thấp hơn 450.000 kíp/ người/tháng. - Bản nghèo: Cách thức xác định chuẩn mực bản nghèo là: (1) Bản có hộ gia đình nghèo chiếm 51% trở lên của số gia đình toàn bản; (2) Bản không có trường học tại bản hoặc có ở gần nhưng phải đi bộ mất thời gian một tiếng trở lên; (3) Bản không có trạm xá, không có thầy thuốc, không có tủ thuốc chữa bệnh hoặc đi bệnh viện trên 2 tiếng đồng hồ; (4) Bản không có nước sạch; (5) Bản không có đường xe ô tô vào tới bản hoặc có nhưng chỉ đi được trong mùa khô. - Huyện nghèo: Cách thức xác định chuẩn mực huyện nghèo là: (1) Huyện có bản nghèo chiếm 51% trở lên của số bản trong huyện; (2) Huyện không có trường học các cấp trong bản chiếm 40% trở lên; (3) Huyện không có trạm xá hoặc nhà thuốc chiếm 40% trở lên; (4) Huyện cơ bản không có nước sạch dùng chiếm 40% trở lên; (5) Huyện cơ bản không có đường xe ô tô, đường ngựa, xe bò vào tới bản chiếm 60% trở lên; (6) Huyện cơ bản không có điện dùng chiếu sáng toàn bản cả huyện; (7) Huyện cơ bản không được sử dụng mạng lưới điện thoại; được coi là huyện chưa thoát khỏi nghèo [13].

Cách thức xác định tỉnh nghèo dựa trên cơ sở tổng kết nghèo đói của huyện, so sánh phân tích tình trạng nghèo đói, thông qua điều tra các chuẩn nghèo hộ gia đình của Tổng cục Thống kê Nhà nước nghiên cứu quy định. Nguyên nhân và hậu quả của đói nghèo 10 Kết quả điều tra xác định hộ đói nghèo năm 2011 trên địa bàn huyện Su Ku Ma cho thấy: Hộ đói nghèo thường bị tác động và chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố cả nhõn tố chủ quan và khách quan, trên thực tế rất khó xác định đâu là yếu tố đầu tiên gây ra đói nghèo. Nguyên nhân và hậu quả của tình trạng đói nghèo nói chung và huyện Su Ku Ma nói riêng thể hiện rất đa dạng, lúc là nguyên nhân, lúc giữ vai trò là hậu quả. Bằng phương pháp tiếp cận khoa học mang tính thực tiễn có thể nhận thấy đói nghèo ở huyện Su Ku Ma có những nguyên nhân và hậu quả chủ yếu sau: Một là, đúi nghèo có sự tác động rất lớn đến phân hoá giàu nghèo giữa các cộng đồng các dân tộc, giải quyết không tốt XĐGN thì để lại hậu quả khó lường về phân chia và tạo ra mâu thuẫn sắc tộc, phân hoá giai cấp trong từng cộng đồng dân tộc, đặc biệt là với đồng bào dân tộc thiểu số do đời sống khó khăn, đi tìm đất mới tạo ra làn sóng di cư tự do của đồng bào nhất là người trong bản Na Sai với hơn 800 dân di cư từ các bản vào để lại một hậu quả về kinh tế, chính trị, xã hội rất phức tạp, khó lường v.

Trên 15 400 ha rừng nguyên sinh đầu nguồn bị chặt phá để có đất đốt nương làm rẫy nhằm giải quyết lương thực, nạn săn bắt thú rừng, xâm canh, xâm cư gây mất đoàn kết với đồng bào dân tộc thiểu số địa phương. Gia tăng nạn buôn lậu vũ khí, ma tuý qua biên giới xâm phạm hiệp định biên giới với Thỏi Lan, truyền đạo tin lành trái phép trong cộng đồng người Mông đã tác động xấu đến việc giữ vững an ninh chính trị vùng cao biên giới. Hai là, đói nghèo kéo theo sự kém phát triển của sản xuất mang tính tự nhiên, cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội xuống cấp nghiêm trọng, để giải quyết vấn đề này hàng năm nhà nước phải dành phần lớn ngân sách để đầu tư nâng cấp kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội, làm hạn chế nguồn lực cho đầu tư phát triển kinh tế. Mặt khác tình trạng đói nghèo đã để lại hậu quả hàng năm ngân sách huyện phải dành 4 - 8 tỷ kớp mua 2000 - 3000 tấn gạo để cứu đói đột 11 xuất cho 3 - 4 vạn người trong dịp giáp hạt, hỗ trợ về y tế, giáo dục… nhằm đảm bảo an ninh xã hội làm ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế và XĐGN.

Ba là, về mặt xã hội: Tình trạng đói nghèo ở huyện Su Ku Ma đã để lại hậu quả xã hội gián tiếp như: Tỷ lệ học sinh trong độ tuổi huy động ra lớp đạt 17,6%, thấp hơn so với của tỉnh, tỷ lệ qua đào tạo của lao động đạt 86,7%, mê tín dị đoan gắn với truyền đạo trái pháp luật có chiều hướng gia tăng, nạn buôn bán và sử dụng ma tuý gia tăng ở địa bàn các bản Na Sam Liờng, May, Hiờng. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng ở mức cao (44,3%), nhiều địa bàn người dân chưa được tiếp cận với các dịch vụ cơ bản xã hội. Tỷ lệ các gia đình sử dụng nước sạch đạt thấp 34,38%, nạn đói giáp hạt là mối lo của đồng bào các dân tộc vùng sõu, vựng xa.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ