Vai trò của UBND quận trong tuyên truyền cải cách hành chính tại TP.HCM

Nghiên cứu thạc sĩ chính trị học về vai trò của UBND quận trong công tác tuyên truyền cải cách hành chính tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay.

Chuyên ngành

Chính trị học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ
107
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan vai trò của UBND quận trong tuyên truyền CCHC ở TP

Ủy ban nhân dân quận giữ vị trí then chốt trong hệ thống hành chính đô thị. Đơn vị này trực tiếp tổ chức thực thi các chủ trương về cải cách hành chính. Trong tiến trình phát triển của Thành phố Hồ Chí Minh, công tác truyền thông chính sách đóng vai trò mở đường. Chính quyền cấp quận không chỉ là cơ quan quản lý nhà nước trên địa bàn. Đây còn là chủ thể trực tiếp phổ biến các quy định pháp luật tới nhân dân. Tuyên truyền cải cách hành chính giúp kết nối cơ quan công quyền với người dân và doanh nghiệp. Hoạt động này tạo lập sự đồng thuận xã hội sâu rộng. Đồng thời, công tác thông tin định hướng giúp cán bộ công chức thay đổi tư duy làm việc. Sự chuyển biến này thúc đẩy hiệu quả giải quyết thủ tục hành chính. Đô thị hiện đại đòi hỏi phương thức quản trị minh bạch và chuẩn mực. Việc xác định đúng vai trò của UBND quận giúp tối ưu hóa nguồn lực địa phương. Cơ chế một cửa và dịch vụ công trực tuyến nhờ đó phát huy tối đa công năng. Nhận thức đúng về vị trí của UBND quận là nền tảng cho sự thành công của cải cách.

1.1. Khái niệm và chủ thể tuyên truyền cải cách hành chính

Tuyên truyền cải cách hành chính là quá trình phổ biến chủ trương của Nhà nước về hoàn thiện bộ máy công quyền. Hoạt động này sử dụng nhiều phương thức truyền thông đa dạng để tác động vào nhận thức xã hội. Ủy ban nhân dân quận là một chủ thể hành chính quan trọng ở địa phương. Cơ quan này vừa quản lý nhà nước vừa trực tiếp tổ chức truyền thông. Trách nhiệm của đơn vị là cụ thể hóa văn bản chỉ đạo của cấp trên thành hành động cụ thể. Đội ngũ cán bộ truyền thông đóng vai trò cầu nối thông tin. Họ giải thích các quy định mới về thủ tục và thời gian giải quyết hồ sơ. Quá trình này giúp nâng cao hiểu biết pháp luật của nhân dân. Mọi tầng lớp xã hội dễ dàng tiếp cận các dịch vụ công tiện ích.

1.2. Vị trí pháp lý và thẩm quyền của UBND quận tại TP.HCM

Ủy ban nhân dân quận tại Thành phố Hồ Chí Minh có vị trí pháp lý đặc thù theo mô hình chính quyền đô thị. Đơn vị này thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước trên địa bàn quận. Thẩm quyền của UBND quận bao gồm chỉ đạo, ban hành và hướng dẫn các chính sách công vụ. Trong công tác truyền thông, UBND quận có quyền phân bổ ngân sách và điều phối nhân sự. Cơ quan này phối hợp chặt chẽ với các tổ chức chính trị và đoàn thể xã hội. Sự phối hợp giúp thông tin cải cách lan tỏa nhanh chóng đến từng khu phố. Thẩm quyền này bảo đảm việc thực thi pháp luật diễn ra nghiêm minh, đồng bộ và liên tục.

II. Thực trạng vai trò của UBND quận trong tuyên truyền CCHC ở TP

Quá trình triển khai tuyên truyền cải cách hành chính tại các quận thuộc Thành phố Hồ Chí Minh đạt nhiều kết quả nổi bật. Hệ thống Một cửa điện tử và dịch vụ công trực tuyến được ứng dụng rộng rãi. Cổng thông tin điện tử của 24 quận huyện hoạt động ổn định. Người dân có thể dễ dàng tra cứu tiến độ xử lý hồ sơ. Tỷ lệ giải quyết hồ sơ đúng hạn tại nhiều quận đạt trên 90 phần trăm. Điển hình như Ủy ban nhân dân Quận 5 đạt tỷ lệ giải quyết hồ sơ đúng hạn lên đến 98 phần trăm. Tuy nhiên, thực tế vẫn bộc lộ những hạn chế cần khắc phục. Một số đơn vị còn thiếu tính chủ động trong việc xây dựng kế hoạch tuyên truyền. Tình trạng ỷ lại vào văn bản cấp trên vẫn xuất hiện. Nhận thức của một bộ phận cán bộ về vai trò truyền thông chưa thực sự toàn diện. Nguồn lực đầu tư cho công nghệ thông tin chưa đồng đều giữa các địa bàn. Sự phối hợp giữa các phòng ban chuyên môn đôi khi thiếu chặt chẽ. Điều này làm giảm hiệu ứng lan tỏa của các mô hình hành chính mới.

2.1. Những thành tựu nổi bật trong hoạt động thông tin cơ sở

Các quận tại Thành phố Hồ Chí Minh đã chủ động áp dụng tiêu chuẩn chất lượng ISO vào quản trị công. Cổng thông tin điện tử cấp quận cập nhật đầy đủ các thủ tục hành chính công khai. Việc này giúp cắt giảm thời gian và chi phí đi lại của tổ chức, cá nhân. Cơ chế một cửa liên thông tạo chuyển biến rõ rệt trong thái độ phục vụ của công chức. Nhiều quận xây dựng thành công các video hướng dẫn trực quan trên mạng xã hội. Các kênh tin tức trực tuyến nhận được phản hồi tích cực từ nhân dân. Sự tương tác hai chiều giúp chính quyền nắm bắt kịp thời tâm tư người dân. Nhờ vậy, mức độ hài lòng của tổ chức và công dân tăng cao qua từng năm.

2.2. Những rào cản và hạn chế trong tổ chức thực hiện

Bên cạnh kết quả đạt được, hoạt động truyền thông tại một số quận còn nhiều bất cập. Nội dung tuyên truyền đôi khi còn khô cứng và mang nặng tính lý thuyết. Hình thức truyền đạt chưa thật sự lôi cuốn giới trẻ và khối doanh nghiệp tư nhân. Đội ngũ cán bộ phụ trách công tác thông tin kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ chuyên môn. Điều này dẫn đến sự thiếu tập trung và chậm trễ trong đổi mới phương thức. Kinh phí dành cho công tác tuyên truyền tại một số địa bàn còn eo hẹp. Trang thiết bị kỹ thuật phục vụ chuyển đổi số chưa được nâng cấp đồng bộ. Công tác kiểm tra, đánh giá kết quả tuyên truyền định kỳ chưa được tiến hành nghiêm túc.

III. Giải pháp nâng cao vai trò của UBND quận trong tuyên truyền CCHC

Nâng cao hiệu quả tuyên truyền cải cách hành chính đòi hỏi hệ thống giải pháp đồng bộ và khoa học. Ủy ban nhân dân quận cần chủ động đổi mới tư duy quản lý hành chính công. Lãnh đạo quận phải xác định công tác truyền thông là nhiệm vụ chính trị trọng tâm. Các đơn vị cần đa dạng hóa hình thức truyền tải thông tin đến từng đối tượng. Việc kết hợp giữa phương pháp đại chúng và phương pháp trực quan là rất cần thiết. Ứng dụng mạnh mẽ nền tảng số và mạng xã hội giúp thông tin đến gần người dân hơn. Bên cạnh đó, chính quyền cần chú trọng nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ công chức. Công tác đào tạo kỹ năng truyền thông đối thoại cần được tiến hành thường xuyên. Ngoài ra, việc đầu tư cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin là điều kiện tiên quyết. Cơ chế khen thưởng và kỷ luật cần được thực hiện minh bạch. Sự phối hợp đồng bộ giữa chính quyền và Mặt trận Tổ quốc sẽ tạo nên sức mạnh tổng hợp.

3.1. Đổi mới phương pháp và hình thức truyền thông hiện đại

Ủy ban nhân dân quận cần kết hợp linh hoạt nhiều phương tiện truyền thông đa phương tiện. Việc sản xuất các video ngắn, đồ họa thông tin trực quan giúp người dân dễ hiểu quy trình thủ tục. Chính quyền nên tận dụng các ứng dụng di động và trang mạng xã hội để đăng tải tin tức. Các buổi đối thoại trực tiếp và tọa đàm chuyên đề cần được tổ chức định kỳ tại khu dân cư. Hình thức hỏi đáp trực tuyến giúp giải tỏa nhanh các vướng mắc của người dân. Mô hình truyền thông lưu động tại các chợ và khu công nghiệp cũng mang lại hiệu quả thiết thực. Việc đa dạng hóa phương thức giúp thông điệp cải cách lan tỏa sâu rộng.

3.2. Nâng cao năng lực cán bộ và hoàn thiện công nghệ quản trị

Xây dựng đội ngũ công chức chuyên nghiệp là nhân tố quyết định thành công của công tác cải cách. Ủy ban nhân dân quận cần tổ chức các lớp tập huấn kỹ năng giao tiếp và ứng xử công vụ. Cán bộ Một cửa phải nắm vững kiến thức pháp luật và kỹ năng sử dụng phần mềm quản lý. Bên cạnh đó, hệ thống hạ tầng kỹ thuật cần được nâng cấp đồng bộ theo chuẩn văn phòng điện tử. Cơ sở dữ liệu hành chính cần được liên thông thông suốt giữa các cấp chính quyền. Việc kiểm tra và đánh giá sự hài lòng của người dân phải tiến hành khách quan. Đơn vị nào làm tốt cần được khen thưởng kịp thời để tạo động lực thi đua.

IV. Ý nghĩa ứng dụng vai trò của UBND quận trong tuyên truyền CCHC

Phát huy vai trò của Ủy ban nhân dân quận trong tuyên truyền cải cách hành chính mang giá trị thực tiễn to lớn. Hoạt động này góp phần kiến tạo nền hành chính phục vụ chuyên nghiệp và hiện đại tại Thành phố Hồ Chí Minh. Khi người dân nắm rõ quy trình thủ tục, tình trạng sách nhiễu và tiêu cực sẽ bị đẩy lùi. Sự công khai và minh bạch thông tin củng cố niềm tin của nhân dân vào các cơ quan nhà nước. Môi trường đầu tư kinh doanh của thành phố nhờ đó ngày càng thông thoáng và hấp dẫn hơn. Kết quả nghiên cứu cung cấp luận cứ khoa học quan trọng cho các nhà quản lý đô thị. Các cấp chính quyền có thể vận dụng linh hoạt những giải pháp này vào thực tế địa phương. Việc hoàn thiện cơ chế tuyên truyền là bước đi vững chắc trong công cuộc chuyển đổi số quốc gia. Nền hành chính công vững mạnh sẽ tạo đòn bẩy phát triển kinh tế xã hội bền vững cho toàn khu vực.

4.1. Tác động tới sự phát triển kinh tế xã hội địa phương

Tuyên truyền cải cách hành chính hiệu quả trực tiếp thúc đẩy các hoạt động kinh tế trên địa bàn quận. Doanh nghiệp tiết kiệm được nhiều thời gian và chi phí tuân thủ khi thực hiện các thủ tục cấp phép kinh doanh. Môi trường hành chính thông thoáng thu hút mạnh mẽ các dòng vốn đầu tư trong và ngoài nước. Người dân thụ hưởng các dịch vụ công tiện ích, gia tăng sự hài lòng với chính quyền. Khi các thủ tục đất đai, xây dựng và hộ tịch được công khai, các tranh chấp dân sự giảm đi rõ rệt. Nền hành chính kỷ cương tạo động lực cho sự tăng trưởng kinh tế bền vững.

4.2. Khả năng nhân rộng mô hình trong quản trị đô thị hiện đại

Kinh nghiệm tuyên truyền cải cách hành chính tại các quận của Thành phố Hồ Chí Minh mang giá trị tham khảo cao. Mô hình Một cửa liên thông hiện đại và hệ thống đánh giá trực tuyến có thể áp dụng tại nhiều đô thị khác. Các địa phương có thể tiếp thu cách thức xây dựng tài liệu truyền thông đa phương tiện phù hợp với người dân. Phương thức phối hợp liên ngành trong xử lý phản ánh kiến nghị cũng là bài học quý giá. Việc chuẩn hóa quy trình thông tin giúp tối ưu hóa bộ máy chính quyền cơ sở. Đây là tiền đề quan trọng để xây dựng thành phố thông minh và chính phủ điện tử.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

15/06/2026
Thạc sĩ chính trị học vai trò của ủy ban nhân dân quận trong tuyên truyền cải cách hành chính ở thành phố hồ chí minh hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 VAI TRÒ CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN QUẬN TRONG TUYÊN TRUYỀN CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 1.Tuyên truyền và tuyên truyền cải cách hành chính 1. Tuyên truyền và công tác tuyên truyền 1.1 Tuyên truyền Tuyên truyền theo tiếng La tinh (Prapaganda) là truyền bá, truyền đạt một quan điểm nào đó. Trong tác phẩm “Người tuyên truyền và cách tuyên truyền”, Hồ Chí Minh cho rằng “Tuyên truyền là đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân tin, dân làm” [32,tr. Theo một số tài liệu nghiên cứu, thuật ngữ tuyên truyền xuất hiện khoảng bốn trăm năm trước đây, được nhà thờ La-mã sử dụng để chỉ các hoạt động truyền giáo nhằm thuyết phục, lôi kéo người khác tin và theo đạo Ki-tô.

Sau này, thuật ngữ tuyên truyền được sử dụng để biểu đạt các hoạt động nhằm tác động đến suy nghĩ, tư tưởng của người khác và định hướng hành động của họ theo một khuynh hướng nhất định. Theo Đại bách khoa toàn thư Liên Xô, thuật ngữ tuyên truyền có hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng, tuyên truyền là sự truyền bá những quan điểm, tư tưởng ấy thành ý thức xã hội, thành hành động cụ thể của quần chúng. Theo nghĩa hẹp, tuyên truyền là sự truyền bá những quan điểm lý luận nhằm xây dựng cho quần chúng thế giới quan nhất định phù hợp với lợi ích của chủ thể thế giới quan ấy.

Theo quan điểm này, tuyên truyền theo nghĩa hẹp chính là đối tượng tuyên truyền một thế giới quan nhất định, một kiểu ý thức xã hội nhất định và cổ vũ tính tích cực xã hội của con người. Theo Từ điển Hán – Việt, “tuyên” có nghĩa là tản khắp mọi nơi, “truyền” có nghĩa là đem của người này trao cho người khác. Theo Từ điển 12 Chính trị, “Tuyên truyền là giải thích, phổ biến một tư tưởng, một học thuyết, một lý luận chính trị nào đó” để thuyết phục, vận động mọi người làm theo. Có thể hiểu: tuyên truyền là phổ biến, giải thích một học thuyết, một tư tưởng, một quan điểm nào đó nhằm hình thành hoặc củng cố ở đối tượng tuyên truyền một thế giới quan, nhân sinh quan, một lý tưởng, một lối sống, thông qua đó mà ảnh hưởng tới thái độ, tính tích cực của con người trong thực tiễn xã hội.

Tuyên truyền có nhiều loại, tùy theo góc độ tiếp cận. Nếu phân loại theo tính chất của hệ tư tưởng mà nó truyền bá thì có tuyên truyền tư sản, tuyên truyền vô sản. Nếu phân loại theo nội dung tuyên truyền thì có tuyên truyền kinh tế, tuyên truyền chính trị, tuyên truyền lối sống văn hóa, tuyên truyền quốc phòng, an ninh, tuyên truyền pháp luật. Nếu phân loại theo phạm vi tác động đến đối tượng, có tuyên truyền cá biệt (cho một người), tuyên truyền nhóm (cho một nhóm người) và tuyên truyền đại chúng (cho đông người).

Nếu phân loại theo phương thức tác động thì có tuyên truyền miệng, tuyên truyền trực quan, tuyên truyền qua các phương tiện thông tin đại chúng hay tuyên truyền trực tiếp, tuyên truyền gián tiếp. Công tác tuyên truyền Theo định nghĩa của Lương Khắc Hiếu về công tác tuyên truyền trong cuốn giáo trình “Nguyên lý công tác tư tưởng”: “Công tác tuyên truyền là một hình thái, một bộ phận cấu thành của công tác tư tưởng nhằm truyền bá hệ tư tưởng và đường lối chiến lược, sách lược trong quần chúng, xây dựng cho quần chúng thế giới quan phù hợp với lợi ích của chủ thể hệ tư tưởng, hình thành và củng cố niềm tin, tập hợp và cổ vũ quần chúng hành động theo thế giới quan và niềm tin đó”. Công tác tuyên truyền có 4 chức năng cơ bản là: chức năng thông tin, chức năng giáo dục chính trị - tư tưởng, chức năng tổ chức, cổ vũ hành động, chức năng phê phán. Khi tiến hành tuyên truyền không thể coi nhẹ chức năng 13 nào để tránh phiến diện làm cho công tác tuyên truyền kém hiệu quả.

Các chức năng của công tác tuyên truyền đều quan trọng như nhau, mỗi chức năng giữ một vai trò riêng, không thể thay thế được trong quá trình tuyên truyền. Công tác tuyên truyền là một hoạt động xã hội đặc thù được cấu thành bởi các yếu tố: chủ thể, đối tượng, mục đích, nội dung, hình thức, phương pháp, phương tiện, hiệu quả tuyên truyền và diễn ra trong sự tác động của các điều kiện xã hội khách quan. Chủ thể tuyên truyền là toàn Đảng, toàn bộ hệ thống chính trị và các cán bộ tư tưởng. Cơ quan tuyên giáo các cấp, các ngành, các đoàn thể là lực lượng tham mưu, giúp cấp ủy chỉ đạo, hướng dẫn kiểm tra công tác tuyên truyền, trong đó cơ quan tuyên giáo là lực lượng trực tiếp tiến hành công tác tuyên truyền trên phạm vi toàn xã hội.

Đối tượng tuyên truyền rất đa dạng, phức tạp, là tất cả các cá nhân, tập thể, tầng lớp, giai cấp trong xã hội… Hiện nay, đối tượng tuyên truyền của nước ta rất rộng, phong phú và đa dạng, là toàn thể các tổ chức, cơ quan, đơn vị, cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân, và tất cả các quốc gia, các tổ chức và cá nhân. trên thế giới khi Việt Nam là thành viên. Mục đích tuyên truyền là sự phản ánh những kết quả mong muốn đạt tới trong tương lai của quá trình nhận thức ở đối tượng tuyên truyền, là sự phản ánh trước sản phẩm dự kiến của hoạt động tuyên truyền; quy định nội dung, phương pháp và tổ chức quá trình thực hiện công tác tuyên truyền, quy định tiêu chuẩn đánh giá và kiểm tra hiệu quả công tác tuyên truyền; là yếu tố cơ bản, có tính quyết định trong hệ thống công tác tuyên truyền. Nội dung tuyên truyền là nội dung các hoạt động mà chủ thể tuyên truyền xác định nhằm thực hiện mục đích đặt ra.

Nội dung do mục đích công tác tuyên truyền và nhiệm vụ cụ thể của mỗi giai đoạn cách mạng quy định. Hình thức tuyên truyền là biểu hiện bên ngoài, cách thức sắp xếp nội dung và hình thức tổ chức các hoạt động giữa chủ thể và đối tượng tuyên truyền. Hình thức tuyên truyền rất đa dạng và phong phú, việc lựa chọn hình thức nào là do 14 đối tượng và nội dung quy định. Phương pháp tuyên truyền là tổng hợp các phương tiện, thao tác, cách thức, quy trình mà chủ thể sử dụng để cung cấp cho đối tượng những thông tin nhất định nhằm củng cố, bổ sung hoặc xây dựng ở họ kiểu thế giới quan, nhân sinh quan mới hay nhận thức về tự nhiên hoặc xã hội, qua đó tác động đến nhận thức, thái độ và hành động thực tiễn của họ trong đời sống xã hội.

Phương tiện tuyên truyền là những vật dụng truyền tải nội dung và phương pháp tác động của tuyên truyền, những phương tiện công tác của chủ thể và phương tiện tiếp nhận, lĩnh hội của đối tượng. Hiệu quả tuyên truyền là sự so sánh giữa kết quả trước và sau khi tiến hành một hoạt động, giữa kết quả đạt được và mục đích, giữa kết quả đạt được và chi phí về vật lực, tài lực để đạt được kết quả đó. Như vậy, hiệu quả tuyên truyền là tương quan, là sự so sánh kết quả với mục đích và với chi phí trong công tác tuyên truyền. Là hoạt động tiếp nối của công tác lý luận, công tác tuyên truyền nhằm phổ biến, truyền bá các nguyên lý lý luận, đường lối, chủ trương, chính sách vào quần chúng.

Mục đích cao nhất của công tác tuyên truyền là làm cho hệ tư tưởng chiếm vị trí thống trị trong xã hội và động viên, cổ vũ quần chúng xây dựng và bảo vệ chế độ xã hội. Trong công tác tư tưởng của Đảng và Nhà nước ta, công tác tuyên truyền là hoạt động truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước và những tinh hoa văn hóa dân tộc và nhân loại… làm cho chúng trở thành nhân tố chi phối, thống trị trong đời sống tinh thần của xã hội; động viên, cổ vũ tính tích cực, tự giác, sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đối với Đảng ta, công tác tuyên truyền có vai trò rất to lớn trong sự nghiệp cách mạng, góp phần truyền bá, giáo dục, phổ biến hệ tư tưởng cách mạng trong xã hội, khơi dậy tính sáng tạo cách mạng của quần chúng, động 15 viên quần chúng tham gia sự nghiệp cách mạng. Đề cập về vai trò của công tác tuyên truyền trong việc đưa lý luận vào quần chúng, C.Mác đã viết: “Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế được sự thay thế của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể đánh đổ bằng lực lượng vật chất, nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng”[5, tr.

Cải cách hành chính và nội dung về cải cách hành chính 1. Khái niệm cải cách hành chính Thuật ngữ "cải cách" được sử dụng phổ biến trong ngôn ngữ phương Tây và phương Đông, được hiểu là một quá trình, một hoạt động có ý thức, có mục đích làm thay đổi, cải biến những cái cũ theo hướng tốt hơn hoặc thay thế cái cũ bằng cái mới. Cải cách có thể diễn ra ở những cấp độ, mức độ khác nhau. Có những hoạt động cải cách có tính chất cách mạng, có những cuộc cải cách chỉ là sự thay đổi ít nhiều so với ban đầu.

Cải cách là thay đổi những bộ phận cũ không hợp lý cho thành mới, đáp ứng yêu cầu của tình hình khách quan. Cải cách bao gồm tập hợp của nhiều cải tiến, sáng kiến, biến đổi. Cải cách còn được xem là một biện pháp giải quyết những đòi hỏi của thực tiễn với mục tiêu rõ ràng, chương trình cụ thể và yêu cầu phải hoàn tất trong một thời gian nhất định [1]. Với ý nghĩa đó, cải cách hiện diện trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội.

Thuật ngữ “Hành chính” có gốc từ tiếng Latinh “administratio” là quản lý, lãnh đạo. Hiện nay có khá nhiều cách hiểu và giải thích khác nhau về thuật ngữ này, tuỳ theo góc độ tiếp cận của từng nhà nghiên cứu. Tuy có nhiều cách tiếp cận, nhưng đặc điểm cơ bản của hành chính xuất phát từ việc trong bất kỳ xã hội nào cũng cần có sự phân công lao động, cần tới sự xác lập những tỉ lệ giữa các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Như vậy, hành chính theo nghĩa chung là quản lý công việc, là quản lý xã hội; theo nghĩa riêng, hẹp hơn là công việc nhà nước và tổ chức quản lý nhà nước.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ