MỞ ĐẦU 1. Ly do chọn đề tài 1. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 1. Câu hỏi nghiên cứu, mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu, 1.
Ý nghĩa của nghiên cứu 1. Kết cấu của khóa luận PHAN 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VA CƠ SỞ THỰC TIEN 2. Tổng quan van dé nghiên cứu 2. Hệ thống khái niệm công cụ 2.
Lý thuyết áp dụng II 2. Phương pháp nghiên cứu PHẢN 3: KÉT QUÁ NGHIÊN CỨU 3. Nhận thức về bệnh sa sút trí tuệ của cộng đồng đối với người bệnh sa sút trí tuệ 3. Kì thị xã hội của cộng đồng đối với người bệnh sa sút trí tuệ 3.
Những yếu tố ảnh hưởng tới mức độ nhận thức về sa sút trí tuệ và kì thị xã hội của cộng đồng đối với người bệnh sa sút trí tuệ PHAN 4: BAN LUẬN VA DE XUẤT PHU LUC e Danh muc tai liéu tham khao, e Mau phiêu điêu tra 12 PHẢN 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Tổng quan vấn đề nghiên cứu trên thế giới Tình trạng bệnh sa sút trí tuệ trên thé giới Mặc dù bệnh sa sút trí tuệ ảnh hưởng tới người cao tuổi trên toàn cầu, tỉ lệ mắc bệnh này đặc biệt cao ở các nước có thu nhập trung bình và thấp. Tỉ lệ người bị ảnh hưởng của bệnh sa sút trí tuệ ở người trên 60 tuổi trên thế giới là 5,2%, và hơn nửa số người mắc bệnh đang sống tại những quốc gia có thu nhập trung bình và thấp (Prince et al. Dự kiến trong vòng 20 năm tới (2030-2050), số người mắc bệnh sa sút trí tuệ sẽ tăng gấp đôi từ 74,7 triệu lên 131,5 triệu người (Prince et al.
Mức độ hiểu biết về bệnh sa sút trí tuệ ở người gốc Việt ở nước ngoài Các nhóm dân cư khác nhau có mức độ nhận thức, hiểu biết về sa sút trí tuệ khác nhau. Các nghiên cứu với người gốc Việt tại nước ngoài, điển hình là Mỹ và Úc, cho thấy cộng đồng này có mức hiểu biết rất hạn chế về bệnh sa sút trí tuệ. Họ thường dùng các từ ngữ dân gian dé nói về bệnh sa sút trí tuệ như “lẫn”, “quên”, “mất trí nhớ”, và thậm chí coi đó là bệnh “điên”, “tâm thần”, hoặc “quả báo.” Họ cũng thường cho rằng bệnh này chỉ là bệnh tuôi gia thông thường (Braun et al., 1996; Liu et al., 2008; Meyer et al., 2015; Yeo et al. Những từ ngữ và niềm tin nay tương tự với nhóm người Mỹ gốc Hoa và Mỹ gốc Hàn (Casado et al., 2018; Sun et al.
Nhìn chung, người Mỹ gốc Việt có xu hướng kết hợp cả niềm tin dân gian và kiến thức y sinh để giải thích nguyên nhân gây bệnh sa sút trí tuệ, nhưng sự thiên về niềm tin dân gian rằng đây là điều bình thường ở người cao tuổi khiến cho nhóm dân cư này ít khi tìm đến các dịch vụ thăm khác và điều trị bệnh sa sút trí tuệ (Hinton et al. Nguyen et al. 13 Kì thị và kì thị xã hội đối với người bệnh sa sút trí tuệ Các yếu tô liên quan đến kì thị xã hội: Có nhiều yếu tố liên quan đến sự kì thị xã hội trong cộng đồng. Một số nghiên cứu chỉ ra rằng xu hướng kì thị trong cộng đồng liên quan đến giới tính của người bệnh sa sút trí tuệ (Wadley & Haley, 2001), mức độ bệnh (Werner, 2005; Werner and Heinik, 2008), và mức độ nguy hiểm của người bệnh (Werner, 2008; Werner & Davidson, 2004).
Bên cạnh đó, đặc điểm người tham gia nghiên cứu cũng có quan hệ tương quan với mức độ kì thị của họ với người bệnh sa sút trí tuệ. Mức độ kì thị của họ có thé liên quan đến trình độ học vấn (Blay & Peluso, 2010; Cheng et al., 2011), sự quen biết với ai đó bị bệnh sa sút trí tuệ từ trước (Cheng et al., 2011; Werner, 2005), tudi tác (Piver et al., 2013), va gidi tinh của ho (Cohen et al. Mức độ ki thi thấp thường được thay ở nhóm nữ, lớn tuôi, có trình độ học vấn cao (Blay & Peluso, 2010; Cheng et al., 2011; Cohen et al., 2009; Piver et al. Piver va cộng su (2013) còn chi ra là cán bộ y tế có mức độ kì thị xã hội cao hơn cả nhân viên công tác xã hội, sinh viên, và người cao tuôi.
Ảnh hưởng của kì thị xã hội tới người bệnh: Kì thị ảnh hưởng tiêu cực tới chất lượng cuộc sống của người bệnh sa sút trí tuệ và người nhà của họ (Phillipson, Magee, Jones, & Skladzien, 2012; Prince et al. Những biéu hién thuong thay của ki thi xã hội như sự sợ hãi và hình anh tiêu cực của người bệnh có thé dẫn đến sự phân biệt đối xử trong các dịch vụ chăm sóc y tế (Nolan, McCarron, McCallion, & Murphy-Lawless, 2006; Phillipson et al. Sự ki thị xã hội thường kéo dài, tri hoãn việc tim kiếm dịch vụ y té cho người bệnh. Nói cách khác, ki thi xã hội tao ra rào can tới người bệnh va người nhà họ dé tiép cận tới những dich vu chăm sóc va hỗ trợ cần thiết, và về lâu dài, ảnh hưởng tới sức khỏe, an sinh, và chất lượng cuộc sống của họ (Nolan et al., 2006; Phillipson et al.
14 Khái quát về những nghiên cứu về kì thị xã hội và sa sút trí tuệ hiện nay Mặc dù hiện nay đã có thêm nhiều học giả quốc tế quan tâm tới nghiên cứu về kì thị, đặc biệt là kì thị xã hội với người bệnh sa sút trí tuệ, những nghiên cứu về chủ đề còn rất hạn chế so với những nghiên cứu về kì thị với người nhiễm HIV/AIDS và các vấn đề giới tính và tình dục (MahaJan et al., 2008; Manzo, 2004; Livingston & Boyd, 2010; Weiss et al. Những nghiên cứu hiện có về kì thị và sa sút trí tuệ không chỉ ít 61, mà còn thiếu hụt ở nhiều khu vực, như Trung Á, Đông Âu, Nam Mỹ, và Đông và Nam Phi (Prince et al. Hơn nữa, các nghiên cứu hiện nay về chủ đề này chủ yếu tập trung ở một vài quốc gia như Mỹ, Anh, và Úc (Benbow & Jolley, 2012; Milne, 2010; Nolan et al., 2006; Phillipson et al. Dân cư châu A rat it góp mặt trong các nghiên cứu này, trong khi bối cảnh văn hóa xã hội khác nhau ảnh hưởng rất lớn tới nhận thức về bệnh tật và sự kì thị với người bệnh.
Vì vậy, nghiên cứu về kì thị, đặc biệt là kì thị xã hội với người bệnh sa sút trí tuệ cần được mở rộng ra các nhóm dân cư ở các khu vực khác, điển hình là các nước có thu nhâp trung bình và thấp tại Đông Nam Á, nơi đang là tâm điểm của bệnh sa sút trí tuệ. Tổng quan vấn đề nghiên cứu tại Việt Nam Tỉ lệ mắc bệnh sa sút trí tuệ trong cộng đồng Nghiên cứu về sa sút trí tuệ nói chung, và kì thị với người bệnh sa sút trí tuệ nói riêng hiện còn vô cùng hạn chế trong bối cảnh Việt Nam. Các nghiên cứu gan đây hau hết tập trung vào sang lọc dé tìm ra tỉ lệ mắc bệnh và những yếu tố liên quan trong các nhóm dân cư khác nhau ở Việt Nam. Một nghiên cứu triển khai với 905 người trên 65 tuổi ở Huế đã sử dụng MMSE test (Mini Mental State Examination) dé sàng lọc và ICD-10 dé chân đoán bệnh nhân sa sút trí tuệ (Doan et al.
Tỉ lệ mắc bệnh trong nhóm này được phát hiện ở mức 9,4%. Các yêu tô liên quan đên việc mặc bệnh sa sút trí 15 tuệ gồm có tuổi tác, lịch sử tai biến, các hoạt động thể chất và thư giãn. Nhóm này cũng báo cáo nhu cầu chăm sóc y tế, đặc biệt là thuốc và tư vẫn cách chăm sóc (Doan et al., 2015) Tương tự, một nghiên cứu khác triển khai sau đó cũng hướng đến phát hiện tỉ lệ mắc bệnh sa sút trí tuệ trong cộng đồng ở quy mô lớn hơn tại ba miền của Việt Nam (Bich et al. Cũng sử dụng MMSE làm công cụ sàng lọc, nghiên cứu này triển khai với 3308 người trên 60 tuổi.
Điểm đáng chú ý là kết quả nghiên cứu cho thấy có tới 46,4% người tham gia nghiên cứu có các triệu chứng nhận thức của bệnh sa sút trí tuệ. Các triệu chứng đặc biệt pho biến ở nhóm nữ, cao tuổi, có trình độ học van thấp, và không tích cực tham gia các hoạt động thể chất hoặc từng bị đột quy trước đó (Bich et al. Trong một báo cáo khác mang tính tổng thể, ước tính có khoảng 660.000 người đang sống với bệnh sa sút trí tuệ và chi phí liên quan lên đến 960 triệu USD (T. Nguyen et al.
Báo cáo nay cũng chi ra những khó khăn với việc chăm sóc người bệnh sa sút trí tuệ hiện nay như chăm sóc y tế mới dựa vào bệnh viện mà không khai thác được hệ thong chăm sóc sức khỏe ban đầu ở cộng đồng, thiếu hụt các hỗ trợ xã hội thông qua các tổ chức cộng đồng. Ở cấp độ vĩ mô, mặc dù Việt Nam đã có Luật người cao tuổi ban hành năm 2009, không có một chính sách cụ thể nào về bệnh sa sút trí tuệ tại Việt Nam (T. Nguyen et al. Những kết luận nảy tương tự với phát hiện trong một nghiên cứu khác ở quy mô nhỏ hơn (B.
Nguyen et al. Những khó khăn này có thê lý giải tại sao người bệnh tự đánh giá chất lượng cuộc sông của họ ở mức trung bình (B. Nguyen, et al. Nhìn chung, những nghiên cứu có tính đại diện và quy mô lớn hiện nay đa phần tập trung vào sàng lọc bệnh nhân sa sút trí tuệ tại cộng đồng và hầu như không đánh giá các yếu tố tâm lý xã hội của người bệnh.
Những nghiên 16 cứu sang lọc nay có kết quả chênh lệch lớn về tỉ lệ mắc bệnh trong cộng đồng. Nhận thức về bệnh sa sút trí tuệ Hiện có một vài nghiên cứu quy mô nhỏ về nhận thức về bệnh sa sút trí tuệ trong cộng đồng. Nhìn chung, cộng đồng thiếu hụt kiến thức về sa sút trí tuệ, trong khi ngay cả nhân viên y tế cũng mới chỉ bắt đầu tiếp cận với sa sút trí tuệ gần đây (B. Nguyen et al.
Nguyen et al. Da số người dân cho răng bệnh này là quá trình bình thường của tudi già nên người nhà chủ yếu chăm sóc dựa trên kinh nghiệm cá nhân chứ không tìm hiểu thông tin từ cán bộ y tế (T. Nguyen et al. Trong một nghiên cứu từ người nhà chăm sóc cho bệnh nhân sa sút trí tuệ ở phạm vi một bệnh viện, người nhà cũng thể hiện mức độ nhận thức hạn chế về bệnh (T.
Nguyen et al.