CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE LIEU PHAP TÂM LY CHO MỘT NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH CÓ ROI LOAN LO AU 1. Tổng quan về trị liệu tâm lý ở người trưởng thành có rối loạn lo âu 1. Các nghiên cứu nước ngoài về rỗi loạn lo âu Trong một nghiên cứu của Tổ chức y tế Thế giới áp dụng các tiêu chuẩn và tiêu chí chân đoán của ICD- 10 cho hơn 25.000 thân chủ được chăm sóc ở 14 quốc gia, tỷ lệ mắc GAD là 7,9% (Goldberg D, 1995). Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, rối loạn lo âu lan toa (GAD) thường được xác định chiếm khoảng 3-6% ở người lớn và 5% ở trẻ em và thanh thiếu niên (Strawn, Jeffrey R.; Geracioti, Laura; Rajdev, Neil; Clemenza, Kelly; Levine, Amir (July 2018).
"Pharmacotherapy for generalized anxiety disorder in adult and pediatric patients: an evidence-based treatment review". Expert Opinion on Pharmacotherapy. PMID 30056792) Nghiên cứu của Borwin và cộng sự cho thay rang với rối loan lo âu, điều tri bằng thuốc và CBT cho thấy hiệu quả ngang nhau, chỉ trong rối loạn hoảng sự, sự kết hợp giữa dược lý và tâm lý sẽ tốt hơn so với điều trị đơn thuần một phương pháp. Đối với các rối loạn lo âu khác, bằng chứng về hiệu quả cao hơn của điều trị phối hợp vẫn chưa đủ do thiếu các nghiên cứu (Cuijpers, 2013).
Một nghiên cứu lớn đã chỉ ra răng những người tham gia điều trị kết hợp [trị liệu hành vi nhận thức (CBT) với Sertraline] không chỉ cho thấy phản ứng tốt hơn mà còn duy trì như vậy sau 24 và 36 tuần theo dõi (Piacentini J, 2014). Tại Canada, tỷ lệ mac GAD trong cuộc đời là 8,7% va tỷ lệ mắc trong 12 tháng là 2,6% (Watterson và cộng sự, 2017). Một nghiên cứu ở các vùng đô thi Trung Quốc cho thấy, có 5,3% người trưởng thành có GAD (tỷ lệ này thay đổi từ 2,4% đến 8,9% của mỗi vùng đô thị trên toàn Trung Quốc) (Yu và cộng sự, 2018). Đặc biệt, trong bối cảnh dịch bệnh hiện nay, tỷ lệ các vấn đề sức khỏe tâm thần nói chung và GAD nói riêng đều gia tăng so với trước đại dịch Covid-19 ở các nhóm cộng đồng cũng như nhóm lâm sàng người lớn (Bendau và cộng sự, 2021; Cordaro và cộng sự, 2021; Hyland và cộng sự, 2020; Li và cộng sự, 2020; Vahratian và cộng sự, 2021) và cả ở trẻ em va vi thành niên (AkgũI và Ergin, 2021; Hawes và cộng sự, 2021; Jiao và cộng sự, 2020; Qin và cộng sự, 2021; Smimi và cộng sự, 2020).
Các nghiên cứu trong nước về rối loạn lo âu Trước những năm 90, ở Việt Nam chưa có nhiều công trình nghiên cứu về RLLA một cách độc lập, chuyên biệt từ sau 1987 đến nay đã có một số nghiên cứu về sức khỏe tâm thần ở Việt Nam. Theo nghiên cứu của tác giả Ngô Thanh Hồi — Bệnh viện Tâm Thần ban ngày Mai Hương trong dự án “chăm sóc sức khỏe tâm thần học sinh tại Hà Nội” là dự án hợp tác quốc tế giữa Sở Y Tế Hà Nội, Bệnh viện Tâm Thần ban ngày Mai Hương với trường Đại Học Melbourne (Australia). Kết quả cuộc khảo sát đã đưa ra Con người số giật mình: 19,46% học sinh trong độ tuổi từ 10-16 tuổi gặp trục trặc về sức khỏe tâm thần, đặc biệt sự hiểu biết của xã hội, thậm chí ngay trong ngành y tế chăm sóc sức khỏe tâm thần còn nhiều hạn chế. Như vậy gần 20% trẻ dudi 16 tuổi có van đề sức khỏe tâm than.
Đáng chú ý đề tài của Nguyễn Thị Hồng Thúy, Trần Thành Nam, Cao Vũ Hùng, Đặng Hoàng Minh (2007), được tiến hành thử nghiệm trên 20 trẻ có RLLA, với nghiên cứu này, nhóm tác giả đã khang định mô hình NTHV được coi là mô hình trị liệu có hiệu quả đối với trẻ có RLLA và chứng minh răng nếu trị liệu đầy đủ phiên trị liệu thi van đề LA ở trẻ giảm dan và có thé hết han, trẻ hết han RLLA theo chuẩn đoán của DSM-IV. Trong đại dịch Covid-19, tỷ lệ những người mắc rối loạn lo âu gia tăng đáng kể: 7% (Le và cộng sự, 2020) và 8,5% (Nam và cộng sự, 2021) tại các nhóm mẫu cộng đồng. Đặc biệt, các nghiên cứu trên nhóm mẫu là nhân viên y té dua ra ty lệ mắc rối loạn lo âu rất báo động: 26,84% (Tuan và cộng sự, 2021), 33,1% (Quang và cộng sự, 2021) và 33,5% (Than và cộng sự, 2020). Những công trình nghiên cứu ở Việt Nam đã trải rộng các mặt từ khảo sát thực trạng, nguyên nhân cho đến áp dụng mô hình trị liệu RLLA.
Tuy nhiên, xét về số lượng các công trình nghiên cứu cũng như qui mô còn nhiều hạn chế, so với các công trình nghiên cứu trên thế giới. Nhìn một cách tổng thé vẫn chưa đủ dé trị liệu một cách chuyên nghiệp, hiệu quả của các trường hợp RLLA vốn phức tạp. Qua những nghiên cứu trên, giúp chúng ta thấy được các nguy cơ và thách thức đối với các nhà tâm lý trong việc chăm sóc sức khỏe tâm thần cho cộng đồng. Điều này cho thấy việc tiếp tục có các nghiên cứu sâu hơn về các rối loạn cụ thé trong vấn dé sức khỏe tâm thần là cần thiết, để góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho xã hội.
Tóm lại: những nghiên cứu về dịch tễ học ở trên thế giới và ở Việt Nam đi sâu vào RLLA, RLLA cũng chỉ ra rằng. RLLA nói chung và các dạng RLLA là một trong những rối loạn tâm lý khá phổ biến ở nhiều người dân trong cộng đồng. Một số khái niệm trong đề tài 1. Khái niệm liệu pháp tâm lý Liệu pháp tâm lý hay trị liệu tâm lý (Psychotherapy) khác biệt với trị liệu y sinh học (Biomedical Therapy), mặc dù chúng có chung nguồn gốc là trị liệu hay điều trị (Therapy) (một thuật ngữ chung nhất được dùng đề chỉ tất cả những hình thức chữa trị một chứng bệnh hay một rối nhiễu bất kỳ).
Trị liệu tâm lý cũng khác biệt với các kỹ thuật điều chỉnh hành vi khác như phẫu thuật tâm lý (Psychosurgery) hay tâm dược trị liệu (Psychodrug Therapy) ( dẫn theo Nguyễn Công Khanh, 2000, tr. Thuật ngữ liệu pháp tâm lý được dịch từ Psychotherapy (Psycho — tâm lý, therapy — điều trị). Thuật ngữ này được sử dụng lần đầu tiên vào năm 1872 trong cuốn sách “Ảnh hưởng của tâm lý lên cơ thể” của D.Tuke (dẫn theo Võ Văn Bản, 2002) Mặc dù với lịch sử rất lâu đời, nhưng cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất trong định nghĩa và hiện có rất nhiều định nghĩa về liệu pháp tâm lý. Mỗi một tác giả và mỗi một trường phái có một định nghĩa riêng: Theo Miaxixev, liệu pháp tâm lý là liệu pháp nhằm vào sự thay đổi mối quan hệ giữa các nhân cách.Roger (1949) xem liệu pháp tâm lý là kinh nghiệm nhằm biến đồi hành vi kém thích nghi hướng tới thích nghi hơn.Maslow (1959) cho rằng liệu pháp tâm lý là phương pháp điều trị thông qua tác động lên cảm xúc, tự đánh giá và đánh giá của người khác thông qua phương thức điều chỉnh lại những vấn đề trong đời sống.
(dẫn theo Võ Văn Bản, 2002) Trị liệu tâm lý, theo định nghĩa của Hội tâm lý học Mỹ (2017), liên quan đến Sự giao tiếp giữa thân chủ và nhà trị liệu, với mục tiêu giúp cho thân chủ: 1/tim sự giải thoát khỏi đau khổ về cảm xúc, khiến cho bản thân trở nên ít lo lắng, it sợ hãi hoặc ít trầm cảm hơn; 2/tìm kiếm giải pháp cho các vấn đề trong cuộc sống của họ, giúp họ đối phó với những thất vọng, đau buôn, các vấn đề gia đình và sự không hài lòng trong công việc hoặc sự nghiệp; 3/thay đổi cách suy nghĩ và hành động đang ngăn cản họ làm việc hiệu quả và tận hưởng các mối quan hệ cá nhân. Trị liệu tâm lý thường bat đầu với một số trao đổi về tiéu sử cá nhân và những lo lắng khiến cá nhân đó tìm kiếm sự trợ giúp. Sau đánh giá ban đầu này, thân chủ và nhà trị liệu cùng xây dựng một thỏa thuận trị liệu, hay còn gọi là hợp đồng tri liệu; trong đó cụ thé hóa mục tiêu trị liệu, quy trình trị liệu và lịch trình về thời gian, địa điểm và thời lượng của các phiên trị liệu. Đôi khi, hợp đồng trị liệu này được viết một cách rõ ràng, nhưng thường thì nó phải được thân chủ và nhà trị liệu thảo luận và thống nhất.
Mục tiêu của trị liệu tâm lý là tập trung vào nhu cầu và lợi ích của thân chủ, nhằm làm giảm triệu chứng, hỗ trợ thân chủ giải quyết van đề hoặc thay đối lỗi sống của bản thân. Trị liệu tâm lý liên quan đến sự cam kết chính thức về các phiên trị liệu ở một giờ nhất định, chỉ nói về những mối quan tâm của thân chủ, và tiếp tục gap gỡ miễn là điều đó phục vụ cho lợi ích của thân chủ (Hội tâm lý học Mỹ, 2017). Theo đó, “Trị liệu tâm lý là việc áp dụng một cách có chủ ý và đầy am hiểu các phương pháp lâm sàng và các quan điểm liên cá nhân xuất phát từ các nguyên tắc tâm lý được thiết lập với mục đích hỗ trợ giúp mọi người thay đôi hành vi, nhận thức, cảm xúc và/hoặc các đặc điểm cá nhân khác theo hướng mà những người tham gia tri liệu cho là thỏa đáng” (APA, 2012: APA Recognition of Psychotherapy Effectiveness Archived 29 July 2015 at the Wayback Machine Approved August 2012) Theo từ điển Britannica (.), trị liệu tâm lý là bat ky dang can thiệp nào được sử dụng đôi với các rôi loạn tâm lý, cảm xúc hoặc hành vi, mà trong đó, nhà trị liệu sẽ thiết lập một mối quan hệ nào đó với một hoặc một vài thân chủ nhằm mục đích làm thay đổi hoặc làm mắt đi các triệu chứng và thúc day sự phát triển nhân cách. Như vậy, trị liệu tâm lý là việc sử dụng các phương pháp tâm lý, nhất là khi dựa trên sự tương tác thường xuyên giữa các cá nhân, để giúp cá nhân thay đổi hành vi, gia tăng hạnh phúc và vượt qua các vấn đề.
Trị liệu tâm lý có mục đích cải thiện sức khỏe tâm thần và cảm nhận hạnh phúc của cá nhân, giúp cá nhân giải quyết hoặc làm giảm đi các hành vi kém thích ứng, cải thiện niềm tin, thay đổi những suy nghĩ hay cảm xúc tiêu cực, và cải thiện các mối quan hệ cũng như những kỹ năng xã hội.