Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Sức khỏe tâm thần hiện là một trong những gánh nặng bệnh tật và kinh tế hàng đầu trên phạm vi toàn cầu. Theo số liệu của Liên Hợp Quốc được trích dẫn trong văn bản, ước tính khoảng 25% dân số thế giới đang phải chịu gánh nặng về sức khỏe tâm thần, trở thành một trong ba nguyên nhân chủ yếu làm gia tăng chi phí y tế tại nhiều quốc gia. Tại Việt Nam, kết quả điều tra quốc gia giai đoạn 1999–2000 ghi nhận tỷ lệ mắc 10 bệnh tâm thần phổ biến là 15%, trong đó trầm cảm và lo âu chiếm tỷ trọng đáng kể. Các nghiên cứu quy mô nhỏ hơn sau đó ước tính tỷ lệ rối loạn tâm thần dao động trong khoảng 20–30%. Đáng chú ý, nghiên cứu "Gánh nặng bệnh tật và chấn thương ở Việt Nam năm 2008" của Trường Đại học Y tế Công cộng đã chỉ ra rằng nhóm bệnh chấn thương, tâm thần kinh và tim mạch là những nguyên nhân hàng đầu gây nên gánh nặng bệnh tật toàn quốc.

Song song với đó, bệnh trào ngược dạ dày thực quản (Gastroesophageal Reflux Disease - GERD) là một bệnh lý tiêu hóa phổ biến. Bệnh xuất hiện khi dịch vị và thức ăn trong dạ dày trào ngược lên thực quản, gây ra các triệu chứng khó chịu hoặc dẫn đến các tổn thương niêm mạc và biến chứng như viêm loét, hẹp thực quản hay Barrett thực quản. Theo tác giả Lê Văn Dũng (2001), tỷ lệ viêm thực quản trào ngược ghi nhận tại Khoa Thăm dò chức năng Bệnh viện Bạch Mai là 7,8%. Các biểu hiện lâm sàng điển hình như nóng rát sau xương ức, ợ chua, nuốt nghẹn, ho kéo dài, đau ngực và khó thở về đêm không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến thể chất và giấc ngủ mà còn gây căng thẳng tâm lý trường diễn.

Mối liên hệ giữa đường tiêu hóa và hệ thần kinh trung ương thông qua trục ruột - não (gut-brain axis) đã được y văn ghi nhận: các căng thẳng cảm xúc làm biến đổi ngưỡng cảm nhận đau và rối loạn vận động đường tiêu hóa, ngược lại các triệu chứng thể chất kéo dài làm trầm trọng thêm mức độ lo âu và trầm cảm. Mặc dù các công trình quốc tế như nghiên cứu của Saleh Mohammad Channa và cộng sự (2019) tại Pakistan hay Zhi Xiang On và cộng sự trên nam giới tại Úc đã chứng minh mối liên quan mật thiết giữa GERD với lo âu và trầm cảm, tại Việt Nam số liệu nghiên cứu về vấn đề này ở người bệnh GERD vẫn còn rất hạn chế.

Trước thực tiễn đó, khóa luận tốt nghiệp bác sĩ Y đa khoa của tác giả Ngô Minh Tùng (Trường Đại học Y Dược - Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2022) với đề tài "Thực trạng lo âu và trầm cảm ở người bệnh trào ngược dạ dày thực quản tại Khoa Khám chữa bệnh theo yêu cầu và Quốc tế Bệnh viện E năm 2021" được thực hiện nhằm giải quyết 2 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Xác định tỉ lệ lo âu và trầm cảm ở người bệnh trào ngược dạ dày thực quản tại Khoa Khám chữa bệnh theo yêu cầu và Quốc tế Bệnh viện E, năm 2021.
  2. Xác định một số yếu tố liên quan đến tình trạng lo âu và trầm cảm ở người bệnh trào ngược dạ dày thực quản tại Khoa Khám chữa bệnh theo yêu cầu và Quốc tế Bệnh viện E, năm 2021.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Tất cả người bệnh được chẩn đoán mắc trào ngược dạ dày thực quản, có hồ sơ bệnh án ghi chép đầy đủ các biến số chuyên môn và đồng ý tham gia nghiên cứu. Tiêu chuẩn loại trừ gồm các trường hợp hồ sơ bệnh án không rõ ràng hoặc bệnh nhân không điều trị trong khoảng thời gian nghiên cứu quy định.
  • Phạm vi không gian: Khoa Khám chữa bệnh theo yêu cầu và Quốc tế, Bệnh viện E.
  • Phạm vi thời gian: Thu thập và xử lý số liệu được triển khai từ tháng 9/2021 đến tháng 12/2021.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận vận dụng hệ thống lý luận y học lâm sàng, tiêu chuẩn chẩn đoán quốc tế và các thang đo tâm lý học hành vi đã được chuẩn hóa tại Việt Nam:

  • Tiêu chuẩn chẩn đoán tâm thần: Khái niệm và tiêu chuẩn chẩn đoán giai đoạn trầm cảm dựa trên bảng phân loại bệnh quốc tế ICD-10 của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), đòi hỏi sự hiện diện của ít nhất 2 trong 3 triệu chứng chính (khí sắc trầm, mất quan tâm thích thú, giảm năng lượng) kết hợp với các triệu chứng phổ biến khác kéo dài tối thiểu 2 tuần. Trạng thái rối loạn lo âu bệnh lý được định nghĩa với các biểu hiện căng thẳng cảm xúc lan tỏa kèm theo kích thích thần kinh thực vật (vã mồ hôi, mạch nhanh, thở gấp, bồn chồn).
  • Tiêu chuẩn chẩn đoán và phân loại GERD: Dựa trên lâm sàng theo tiêu chuẩn Rome III (triệu chứng xuất hiện ít nhất 1 lần/tuần, kéo dài tối thiểu 12 tuần trong vòng 6 tháng) và tiêu chuẩn Montreal. Về nội soi tiêu hóa, tổn thương niêm mạc thực quản được phân loại theo hệ thống Los Angeles (LA mức độ A, B, C, D) và thang phân loại Savary – Miller (độ 1 đến độ 4).
  • Bộ câu hỏi GerdQ (GERD-Q): Bộ công cụ lâm sàng gồm 6 câu hỏi do John Dent và cộng sự xây dựng từ nghiên cứu Diamond (2008), bản tiếng Việt do AstraZeneca cung cấp với độ nhạy 65% và độ đặc hiệu 71%. Thang điểm đánh giá các triệu chứng xuất hiện trong 7 ngày gần nhất, chia thành các mức: 0–2 điểm (khả năng GERD thấp), 3–7 điểm (khả năng GERD thấp đến trung bình), 8–10 điểm (nghi ngờ GERD) và 11–18 điểm (kết hợp điểm tác động để chẩn đoán GERD nhẹ hoặc GERD nặng).
  • Thang đo HADS (Hospital Anxiety and Depression Scale): Công cụ sàng lọc tâm lý do Zigmond và Snaith xây dựng năm 1983, bản quyền tiếng Việt được dịch và chuẩn hóa bởi Khoa Nghiên cứu Y học Hành vi - Trường Đại học New South Wales (Úc). Thang đo gồm 14 câu hỏi trắc nghiệm chia đều cho 2 tiểu thang: 7 câu đánh giá lo âu (HADS-A) và 7 câu đánh giá trầm cảm (HADS-D). Mỗi câu tính điểm từ 0 đến 3. Thang điểm phân loại kết quả: 0–7 điểm là bình thường; 8–10 điểm là có triệu chứng (nghi ngờ rối loạn); 11–21 điểm là lo âu hoặc trầm cảm thực sự.

Phương pháp nghiên cứu thực tế:

  • Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu dịch tễ học mô tả cắt ngang (cross-sectional descriptive study).
  • Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu thuận tiện phi xác suất, thu thập toàn bộ 57 bệnh nhân thỏa mãn tiêu chuẩn chọn mẫu đến khám và điều trị tại cơ sở nghiên cứu trong thời gian từ tháng 9/2021 đến tháng 12/2021.
  • Thu thập dữ liệu: Kết hợp trích xuất thông tin bệnh án (kết quả nội soi thực quản, tiền sử bệnh nền) với phát vấn trực tiếp bộ câu hỏi GerdQ và HADS để người bệnh tự điền dưới sự hướng dẫn của nghiên cứu viên.
  • Phương pháp phân tích số liệu: Dữ liệu được làm sạch, mã hóa và phân tích bằng phần mềm thống kê SPSS phiên bản 20. Các thống kê mô tả bao gồm tính tần số, tỷ lệ phần trăm đối với biến định tính; tính giá trị trung bình, trung vị, độ lệch chuẩn (SD), giá trị nhỏ nhất và lớn nhất đối với biến định lượng. Thống kê suy luận sử dụng tỷ số chênh hiện mắc (Prevalence Odds Ratio - POR) kèm khoảng tin cậy 95% (95% CI) và kiểm định giả thuyết thống kê với ngưỡng ý nghĩa xác định khi p < 0,05.

Nội dung chính theo từng chương

Đặt vấn đề

Tác giả nêu bật bối cảnh gia tăng nhanh chóng của các rối loạn tâm thần trên thế giới và tại Việt Nam, đồng thời chỉ ra tính chất mạn tính, dai dẳng của bệnh GERD. Bệnh lý này gây tổn thương thực thể và suy giảm nghiêm trọng chất lượng cuộc sống, giấc ngủ và năng suất lao động. Tác giả phân tích các bằng chứng y văn quốc tế về tác động qua lại giữa GERD và sức khỏe tâm thần, từ đó chỉ rõ khoảng trống nghiên cứu lâm sàng tại Việt Nam để xác lập tính cấp thiết của đề tài cùng hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể.

Chương 1: Tổng quan

Chương này tổng hợp cơ sở lý luận và các y văn liên quan thành 5 phần lớn:

  • Tổng quan về rối loạn lo âu và trầm cảm: Trình bày định nghĩa, cơ chế tâm lý - cơ thể, đặc điểm lâm sàng, tiêu chuẩn chẩn đoán theo ICD-10 và phân loại các thể rối loạn lo âu phổ biến (rối loạn lo âu toàn thể, rối loạn hoảng sợ, ám ảnh cưỡng bức, căng thẳng sau sang chấn).
  • Đại cương bệnh trào ngược dạ dày thực quản: Phân tích dịch tễ học thế giới (tỷ lệ mắc tại Mỹ 10–20%, Phần Lan 27–30%, Đông Á 5,2–8,5%) và Việt Nam; các yếu tố căn nguyên như di truyền, bất thường cơ hoành, thuốc chống viêm non-steroid, chẹn kênh canxi, rượu bia, thuốc lá và béo phì. Trình bày chi tiết triệu chứng điển hình (nóng rát sau xương ức, ợ chua), triệu chứng không điển hình (nuốt khó, nuốt đau, đau ngực không do tim) và triệu chứng ngoài đường tiêu hóa (ho kéo dài, khó thở đêm, viêm thanh quản, viêm mũi xoang). Hệ thống hóa các phương pháp cận lâm sàng gồm nội soi (phân loại Savary – Miller và Los Angeles), theo dõi pH - trở kháng thực quản, đo áp lực thực quản độ phân giải cao (HRM), đo pH 24 giờ và chụp xạ hình thực quản bằng Technetium 99m-Phytate.
  • Cơ chế và các yếu tố liên quan đến rối loạn tâm thần ở bệnh nhân GERD: Phân tích vai trò của trục ruột - não, sự mất cân bằng giữa mức độ tổn thương thực thể trên nội soi với cường độ đau thực tế do biến đổi nhận thức đau dưới tác động của stress tâm lý.
  • Giới thiệu các công cụ đo lường: Đánh giá ưu nhược điểm của các bộ thang đo tâm lý phổ biến (PSS-10, GHQ-12, SAS, BAI, BDI, DASS-21) và phân tích tính giá trị, độ tin cậy của thang đo HADS khi áp dụng tại các cơ sở y tế Việt Nam. Trình bày cấu trúc thang điểm GerdQ.
  • Tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm: Điểm lại nghiên cứu của Saleh Mohammad Channa và cộng sự (2019) trên 258 bệnh nhân GERD tại Pakistan, nghiên cứu của Zhi Xiang On và cộng sự trên 1.612 nam giới tại Úc, đồng thời điểm qua các nghiên cứu về viêm thực quản trào ngược của các tác giả trong nước như Lê Văn Dũng, Tạ Long, Đào Văn Long, Quách Trọng Đức.

Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết quy trình tổ chức nghiên cứu lâm sàng:

  • Xác định tiêu chuẩn lựa chọn và loại trừ mẫu bệnh án tại Khoa Khám chữa bệnh theo yêu cầu và Quốc tế Bệnh viện E từ tháng 9/2021 đến tháng 12/2021.
  • Mô tả thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang với cỡ mẫu 57 bệnh nhân theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện.
  • Xây dựng danh mục các biến số nghiên cứu: Biến định lượng (tuổi, điểm GerdQ) và biến định tính (giới tính, dân tộc, tôn giáo, nơi ở, tình trạng hôn nhân, nghề nghiệp, thu nhập, BHYT, tập luyện thể thao, triệu chứng lâm sàng, thời gian mắc bệnh, bệnh lý nền, giai đoạn nội soi LA, mức độ lo âu và trầm cảm theo HADS).
  • Quy trình kiểm soát sai số: Chuẩn hóa phiếu điều tra, xin ý kiến chuyên gia, điều tra thử nghiệm và nhập kiểm tra lại ngẫu nhiên 10% số phiếu bằng phần mềm SPSS 20.
  • Đạo đức nghiên cứu: Nghiên cứu được Hội đồng Y đức Bệnh viện E và Hội đồng Khoa học Trường Đại học Y Dược - Đại học Quốc gia Hà Nội phê duyệt; bệnh nhân tham gia tự nguyện và dữ liệu cá nhân được bảo mật hoàn toàn.
  • Nêu rõ 3 hạn chế nội tại: Thiết kế cắt ngang không suy ra quan hệ nhân quả; thang HADS chỉ mang tính sàng lọc chứ không dùng để chẩn đoán xác định bệnh học tâm thần; kinh nghiệm của nghiên cứu viên còn hạn chế.

Chương 3: Kết quả nghiên cứu

Trình bày toàn bộ số liệu thống kê thu thập từ 57 đối tượng nghiên cứu qua 25 bảng số liệu và 6 biểu đồ:

  • Đặc điểm nhân khẩu học: Tuổi trung bình của đối tượng là 41,9 ± 13,7 tuổi (dao động từ 22 đến 78 tuổi). Nhóm tuổi ≤ 30 tuổi chiếm tỷ lệ lớn nhất (28,1%), tiếp theo là nhóm > 50 tuổi (26,3%), 41–50 tuổi (24,6%) và 31–40 tuổi chiếm 21,0%. Về giới tính, nam giới chiếm đa số với 56,1% (32 bệnh nhân), nữ giới chiếm 43,9% (25 bệnh nhân). Đa số bệnh nhân là người Kinh (89,5%), không theo tôn giáo (93,0%), sống tại khu vực thành phố (52,6%), đã lập gia đình (80,7%), có việc làm thuộc khối cán bộ công nhân viên (35,1%) hoặc công nhân/nông dân (31,6%). Tỷ lệ bệnh nhân có thu nhập trên 6 triệu đồng/tháng là 66,7%; có bảo hiểm y tế là 89,5%; thỉnh thoảng tập thể dục là 50,9% và có bệnh lý nền chiếm 12,3%.
  • Đặc điểm bệnh GERD: Triệu chứng lâm sàng thường gặp nhất là nóng rát sau xương ức chiếm 77,2% (44/57) và ợ chua chiếm 71,9% (41/57); triệu chứng đau ngực ghi nhận ở 19,3% (11/57); nuốt khó 5,3%; nuốt đau 3,5% và nôn chiếm 1,8%. Về thời gian mắc bệnh, nhóm mắc bệnh > 12 tháng chiếm 64,9% (37/57), nhóm mắc ≤ 12 tháng chiếm 35,1% (20/57). Điểm GerdQ trung bình là 7,71 ± 1,92 (thấp nhất 3 điểm, cao nhất 12 điểm); trong đó 45,6% bệnh nhân có điểm từ 3–7, 45,6% có điểm từ 8–10 và 8,8% có điểm > 10. Trên nội soi tiêu hóa, 96,5% (55/57) bệnh nhân tổn thương ở mức độ LA độ A và 3,5% (2/57) ở mức độ LA độ B; không ghi nhận tổn thương LA độ C hay D.
  • Thực trạng lo âu và trầm cảm: Tỷ lệ có biểu hiện lo âu chung là 42,1% (trong đó 24,6% có triệu chứng lo âu nghi ngờ và 17,5% lo âu thực sự). Tỷ lệ có biểu hiện trầm cảm chung là 45,6% (trong đó 24,5% có triệu chứng trầm cảm nghi ngờ và 21,1% trầm cảm thực sự). Tỷ lệ bệnh nhân mắc ít nhất một rối loạn tâm thần là 47,4% (27/57), trong đó 7,0% (4 bệnh nhân) chỉ mắc một rối loạn đơn thuần và 40,4% (23 bệnh nhân) mắc đồng thời cả hai rối loạn lo âu và trầm cảm.
  • Phân tích các yếu tố liên quan:
    • Yếu tố cá nhân: Nam giới có tỷ lệ lo âu (53,1%) và trầm cảm (53,1%) cao hơn nữ giới (lần lượt 28,0% và 36,0%), tuy nhiên khác biệt chưa có ý nghĩa thống kê (p = 0,057 và p = 0,198). Tương tự, nhóm không có BHYT, thu nhập ≤ 6 triệu đồng/tháng và có bệnh lý nền đều có tỷ lệ lo âu, trầm cảm cao hơn nhóm còn lại nhưng đều chưa đạt mức ý nghĩa thống kê (p > 0,05).
    • Yếu tố liên quan đến bệnh GERD: Triệu chứng đau ngực làm tăng nguy cơ lo âu lên gấp 5,0 lần (POR = 5,0; 95% CI: 1,16–21,51; p = 0,039) và tăng nguy cơ trầm cảm lên gấp 4,15 lần (POR = 4,15; 95% CI: 0,97–17,74; p = 0,044) so với người không có đau ngực, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê. Điểm GerdQ ≥ 9 cũng liên quan chặt chẽ có ý nghĩa thống kê với tình trạng rối loạn tâm thần: người bệnh có điểm GerdQ < 9 có tỷ lệ lo âu và trầm cảm thấp hơn rõ rệt so với nhóm ≥ 9 điểm (p = 0,000). Thời gian mắc bệnh và kết quả phân loại nội soi chưa cho thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê với lo âu và trầm cảm (p > 0,05).

Chương 4: Bàn luận

Tác giả đối chiếu các phát hiện nghiên cứu với các công trình dịch tễ học trong và ngoài nước:

  • Tuổi trung bình (41,9 tuổi) phù hợp với các nghiên cứu của Đoàn Thị Hoài (40 tuổi), Trần Việt Hùng (43,04 tuổi), Tạ Long và Đào Văn Long (44 tuổi), nhưng trẻ hơn so với quần thể nghiên cứu tại phương Tây (M. Dewit là 48 tuổi, Scholten là 52,6 tuổi, Gerson là 55,4 tuổi), giải thích do mô hình bệnh tật và xu hướng gia tăng trẻ hóa GERD tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
  • Tỷ lệ nam giới mắc GERD cao hơn nữ giới (56,1% so với 43,9%) tương đồng với phần lớn các tác giả như M. Numans (53%), Ting Kin Chuung, Trần Việt Hùng (57,3%), Quách Trọng Đức và Trần Kiều Miên (nam/nữ = 2,6/1); sự chênh lệch được lý giải do thói quen hút thuốc lá, uống rượu bia và chế độ sinh hoạt ở nam giới.
  • Bàn luận về mức độ tổn thương thực thể qua nội soi: 96,5% bệnh nhân thuộc độ LA độ A và không có tổn thương độ C, D. Tác giả đối chiếu với Đồng thuận Lyon (Lyon Consensus) và các nghiên cứu của Da Silva E.P, Ho Khek Yu để khẳng định đặc trưng bệnh nhân GERD tại Việt Nam và châu Á đa phần có tổn thương thực quản mức độ nhẹ, ít biến chứng loét sâu hay Barrett thực quản hơn phương Tây.
  • Bàn luận sâu về tỷ lệ lo âu (42,1%) và trầm cảm (45,6%): Tác giả nhận định tỷ lệ này cao hơn so với kết quả của Zhi Xiang On (lo âu 20,7%, trầm cảm 37,2%) và tương đương với nghiên cứu của Saleh Mohammad Channa (lo âu 34,8%, trầm cảm 41,8%).
  • Luận giải cơ chế mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa triệu chứng đau ngực và điểm GerdQ cao với lo âu, trầm cảm: Đau ngực là triệu chứng báo động khiến người bệnh dễ nhầm lẫn với các bệnh lý tim mạch nguy hiểm, tạo tâm lý hoang mang, bất an kéo dài; điểm GerdQ cao phản ánh tần suất triệu chứng dày đặc và sự gián đoạn giấc ngủ ban đêm, từ đó làm gia tăng nguy cơ suy nhược tinh thần và rối loạn khí sắc.

Kết quả và đóng góp

Kết quả định lượng chính

Số liệu tổng hợp từ các bảng nghiên cứu lâm sàng của khóa luận:

Chỉ số nghiên cứu Nhóm phân loại Số lượng (n) Tỷ lệ (%) Chỉ số thống kê liên quan
Mức độ lo âu theo HADS Bình thường (0–7 điểm)
Có triệu chứng lo âu (8–10 điểm)
Lo âu thực sự (11–21 điểm)
Tổng có biểu hiện lo âu
33
14
10
24
57,9%
24,6%
17,5%
42,1%
—
Mức độ trầm cảm theo HADS Bình thường (0–7 điểm)
Có triệu chứng trầm cảm (8–10 điểm)
Trầm cảm thực sự (11–21 điểm)
Tổng có biểu hiện trầm cảm
31
14
12
26
54,4%
24,5%
21,1%
45,6%
—
Phối hợp rối loạn tâm thần Có ít nhất 1 rối loạn
Có duy nhất 1 rối loạn
Mắc đồng thời 2 rối loạn
27
4
23
47,4%
7,0%
40,4%
—
Lo âu theo triệu chứng đau ngực Có đau ngực (n=11)
Không đau ngực (n=46)
8
16
72,7%
34,8%
POR = 5,0 (95% CI: 1,16–21,51); p = 0,039
Trầm cảm theo triệu chứng đau ngực Có đau ngực (n=11)
Không đau ngực (n=46)
8
18
72,7%
39,1%
POR = 4,15 (95% CI: 0,97–17,74); p = 0,044
Lo âu theo điểm GerdQ Điểm GerdQ ≥ 9 (n=19)
Điểm GerdQ < 9 (n=38)
15
9
78,9%
23,7%
POR = 0,083 (95% CI: 0,02–0,31); p = 0,000
Trầm cảm theo điểm GerdQ Điểm GerdQ ≥ 9 (n=19)
Điểm GerdQ < 9 (n=38)
16
10
84,2%
26,3%
POR = 0,067 (95% CI: 0,016–0,28); p = 0,000
Tổn thương nội soi (LA) LA độ A
LA độ B
LA độ C / LA độ D
55
2
0
96,5%
3,5%
0,0%
Không có ý nghĩa thống kê với lo âu/trầm cảm (p > 0,05)

Khuyến nghị và giải pháp của tác giả

Từ kết quả nghiên cứu, tác giả đưa ra các khuyến nghị ứng dụng thực tế:

  • Các bác sĩ lâm sàng tiêu hóa không nên chỉ tập trung điều trị tổn thương thực thể thực quản bằng thuốc ức chế tiết acid mà cần chủ động sàng lọc sức khỏe tâm thần định kỳ cho người bệnh GERD, đặc biệt là những bệnh nhân có triệu chứng đau ngực và điểm GerdQ cao.
  • Cần có sự phối hợp liên chuyên khoa giữa Tiêu hóa và Tâm thần học trong việc tư vấn tâm lý, hướng dẫn kiểm soát căng thẳng và xem xét chỉ định liệu pháp tâm lý hỗ trợ kết hợp điều trị nội khoa nhằm cải thiện triệu chứng và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh.

Đóng góp mới của khóa luận

Khóa luận là một trong những công trình nghiên cứu tiên phong tại Việt Nam khảo sát đồng thời cả hai khía cạnh lo âu và trầm cảm trên nhóm người bệnh trào ngược dạ dày thực quản bằng thang đo chuẩn hóa HADS kết hợp với đánh giá lâm sàng qua thang GerdQ và kết quả nội soi tiêu hóa. Nghiên cứu cung cấp số liệu thực nghiệm bước đầu về tỷ lệ hiện mắc các rối loạn tâm thần đồng diễn (47,4%) và xác định vai trò của triệu chứng đau ngực cũng như mức độ nặng trên thang GerdQ như những yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê với lo âu và trầm cảm.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Thiết kế nghiên cứu cắt ngang chỉ ghi nhận dữ liệu tại một thời điểm duy nhất, do đó không thể xác lập mối quan hệ nhân quả hai chiều giữa bệnh trào ngược dạ dày thực quản và tình trạng lo âu, trầm cảm.
  • Bộ công cụ HADS chỉ đóng vai trò là thang đo sàng lọc phát hiện nguy cơ ban đầu, không có giá trị chẩn đoán xác định bệnh lý rối loạn tâm thần thay thế cho tiêu chuẩn chuyên khoa lâm sàng.
  • Cỡ mẫu còn hạn chế (n = 57) và áp dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện tại một cơ sở điều trị đơn lẻ, trong đó tổn thương thực quản qua nội soi chủ yếu tập trung ở độ A (96,5%) và rất ít độ B (3,5%), không có ca bệnh độ C, D nên chưa phản ánh toàn diện các mức độ nghiêm trọng của bệnh.
  • Việc thu thập dữ liệu bằng phiếu tự điền có thể gặp sai số nhớ lại hoặc phụ thuộc vào mức độ hợp tác chủ quan của người bệnh; đồng thời kỹ năng xử lý số liệu của nghiên cứu viên còn ở mức độ sinh viên thực hiện khóa luận.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Tác giả định hướng cần mở rộng quy mô nghiên cứu với cỡ mẫu lớn hơn tại nhiều trung tâm y tế, áp dụng các thiết kế nghiên cứu theo dõi dọc (longitudinal study) để kiểm chứng chiều tác động qua lại của trục ruột - não.
  • Cần phối hợp đánh giá chuyên sâu bởi bác sĩ chuyên khoa tâm thần và tiến hành các thử nghiệm can thiệp phối hợp giữa thuốc điều trị tiêu hóa với liệu pháp tâm lý hành vi nhằm đánh giá hiệu quả phục hồi toàn diện cho người bệnh GERD.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu học thuật và lâm sàng hữu ích cho:

  • Sinh viên y đa khoa, học viên sau đại học và bác sĩ nội trú: Cung cấp mẫu hình hoàn chỉnh về cấu trúc khóa luận lâm sàng kết hợp hai chuyên ngành Tiêu hóa và Tâm thần; phương pháp thu thập dữ liệu thực địa bằng thang đo chuẩn hóa; cách thức ứng dụng phần mềm SPSS để xử lý tỷ số chênh POR và kiểm định giả thuyết.
  • Bác sĩ chuyên khoa Tiêu hóa: Cung cấp bằng chứng thực tế về tỷ lệ rối loạn tâm lý đồng diễn rất cao (gần 50%) ở bệnh nhân GERD, gợi ý các dấu hiệu chỉ điểm cần lưu ý trên lâm sàng (triệu chứng đau ngực, điểm GerdQ từ 9 điểm trở lên) để chuyển tuyến hoặc hội chẩn chuyên khoa tâm thần kịp thời.
  • Nhà nghiên cứu dịch tễ học lâm sàng: Cung cấp nguồn số liệu tham khảo gốc về các biến số lâm sàng, điểm GerdQ, phân loại nội soi LA và tỷ lệ phân bố mức độ lo âu, trầm cảm theo HADS tại một bệnh viện tuyến trung ương (Bệnh viện E) năm 2021.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ người bệnh GERD mắc đồng thời cả hai rối loạn lo âu và trầm cảm trong nghiên cứu là bao nhiêu?

Theo kết quả khảo sát trên 57 bệnh nhân tại Bệnh viện E, tỷ lệ người bệnh mắc đồng thời cả hai rối loạn lo âu và trầm cảm chiếm 40,4% (23 người). Tỷ lệ người bệnh có ít nhất một biểu hiện rối loạn tâm thần (hoặc lo âu, hoặc trầm cảm, hoặc cả hai) là 47,4% (27 người), trong đó số người chỉ có duy nhất một biểu hiện rối loạn chiếm 7,0% (4 người).

2. Những đặc điểm lâm sàng nào của bệnh GERD có mối liên quan mang ý nghĩa thống kê với tình trạng lo âu và trầm cảm?

Nghiên cứu xác định có 2 yếu tố liên quan chặt chẽ với ý nghĩa thống kê (p < 0,05):

  • Triệu chứng đau ngực: Bệnh nhân có đau ngực có nguy cơ lo âu cao gấp 5,0 lần (POR = 5,0; p = 0,039) và nguy cơ trầm cảm cao gấp 4,15 lần (POR = 4,15; p = 0,044) so với bệnh nhân không có đau ngực.
  • Điểm GerdQ: Bệnh nhân có điểm GerdQ ≥ 9 có tỷ lệ lo âu (78,9%) và trầm cảm (84,2%) cao vượt trội so với nhóm có điểm GerdQ < 9 (tỷ lệ lần lượt là 23,7% và 26,3%), sự khác biệt đạt ý nghĩa thống kê rất cao (p = 0,000).

3. Đặc điểm tổn thương thực quản qua nội soi của nhóm đối tượng nghiên cứu phân bố ra sao?

Trong tổng số 57 đối tượng nghiên cứu, kết quả nội soi theo hệ thống phân loại Los Angeles (LA) ghi nhận 96,5% bệnh nhân (55 người) ở giai đoạn LA độ A và chỉ có 3,5% bệnh nhân (2 người) ở giai đoạn LA độ B. Nghiên cứu không ghi nhận trường hợp nào mắc bệnh ở mức độ tổn thương nặng LA độ C hoặc LA độ D, cũng như không ghi nhận các biến chứng như loét thực sự hay Barrett thực quản.

4. Thang đo HADS được cấu trúc và phân chia ngưỡng điểm sàng lọc như thế nào trong khóa luận?

Thang đo HADS gồm 14 câu hỏi trắc nghiệm tự điền, chia thành hai phân nhóm độc lập: 7 câu đánh giá mức độ lo âu và 7 câu đánh giá mức độ trầm cảm. Mỗi câu có 4 mức độ trả lời tính điểm từ 0 đến 3 (tổng điểm mỗi phân nhóm tối đa là 21 điểm). Kết quả được phân chia thành 3 mức độ:

  • Từ 0 đến 7 điểm: Bình thường.
  • Từ 8 đến 10 điểm: Có triệu chứng (nghi ngờ rối loạn).
  • Từ 11 đến 21 điểm: Lo âu hoặc trầm cảm thực sự.

5. Các yếu tố nhân khẩu học như giới tính, bảo hiểm y tế và thu nhập có mối liên quan mang ý nghĩa thống kê với lo âu và trầm cảm không?

Không. Mặc dù các số liệu thô cho thấy tỷ lệ có biểu hiện lo âu và trầm cảm ở nam giới cao hơn nữ giới (nam: 53,1% so với nữ: 28,0% về lo âu; nam: 53,1% so với nữ: 36,0% về trầm cảm), nhóm không có BHYT cao hơn nhóm có BHYT (50,0% so với 41,2% về lo âu), và nhóm thu nhập ≤ 6 triệu đồng/tháng cao hơn nhóm > 6 triệu đồng/tháng (47,4% so với 39,5% về lo âu), nhưng các phép kiểm định thống kê đều cho thấy các khác biệt này chưa đạt mức ý nghĩa thống kê (tất cả các giá trị p đều lớn hơn 0,05).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Ngô Minh Tùng đã khảo sát toàn diện thực trạng lo âu và trầm cảm trên 57 người bệnh trào ngược dạ dày thực quản tại Bệnh viện E năm 2021, ghi nhận tỷ lệ có biểu hiện lo âu là 42,1%, biểu hiện trầm cảm là 45,6% và có tới 40,4% bệnh nhân mắc đồng thời cả hai rối loạn. Nghiên cứu chứng minh rằng triệu chứng đau ngực và mức điểm GerdQ ≥ 9 là các yếu tố chỉ điểm lâm sàng có liên quan mật thiết và làm gia tăng đáng kể nguy cơ xuất hiện lo âu, trầm cảm với ý nghĩa thống kê rõ rệt. Đây là công trình tham khảo giá trị cho các bác sĩ lâm sàng và sinh viên y khoa, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tiếp cận điều trị toàn diện kết hợp giữa kiểm soát triệu chứng tiêu hóa và can thiệp hỗ trợ tâm lý cho người bệnh GERD.