Chương 1 TỔNG QUAN 1. Rối loạn lo âu, trầm cảm 1. Đặc điểm lo âu Lo âu là một trạng thái căng thăng tâm xúc lan tỏa hết sức khó chịu nhưng thường mơ hồ, bằng qua kèm theo nhiều triệu chứng cơ thể như cảm giác trong rỗng ở thượng vị, siết chặt ở ngực, hồi hộp và mồ hôi, đau đầu, run, khô miệng đau cơ, kèm sự bứt rứt bắt an đứng ngồi không yên [12].Baumann, lo âu một hiện tượng phản ứng cảm xúc tự nhiên tất yếu của con người trước những khó khăn, thử thách đe dọa của tự nhiên, xã hội mà con người phải tìm ra các giải pháp để vượt qua, vươn tới, tồn tại [13]. Lo âu có hai thành phần chính: Các biểu hiện báo trước của cảm giác cơ thể (khô miệng, đánh trống ngực.) và trải nghiệm cảm giác khiếp sợ.
Lo âu cũng ảnh hưởng lên tư duy,phân tích, tri giác và học tập. Có sự liên quan giữa lo âu và hoạt động trí óc và cơ thể). Lúc ban đầu, khi lo âu vừa mới được khuấy động lên thể hoạt động được cải thiện tốt lên: đó là thời kỳ hoạt bát, và khi lo âu trở nên quá mức làm hao tổn nhiều năng lượng thì chuyển sang thời kỳ suy yếu, làm giảm khả năng của các động tác vận động khéo léo léo và các nhiệm vụ trí tuệ phức tạp. Bệnh nhân có lo âu lâm sàng bị các ảnh hưởng này.
Lo âu trở thành lo âu lâm sàng khi nó xuất hiện không có liên quan tới một mối đe dọa rõ ràng nào, mức độ lo âu không cân xứng với bất kì một mối đe dọa nào để có thể tồn tại hoặc kéo dài. Khi mức độ lo âu gây trở ngại rõ rệt các hoạt động, lúc đó được gọi là lo âu bệnh lý [14]. Lo âu bệnh lý không có chủ đề rõ ràng mang tính chất vô lý, mơ hồ, thời gian thường kéo dài, lập đi lập lại với nhiều rối loạn thần kinh thực vật như thở gấp, mạch nhanh, chóng mặt, khô miệng, vã mồ hôi, lạnh chân tay, run xảy, bất an. Việc điều trị cần được lựa chọn thích hợp cho từng trường hợp [12] .Còn lo âu bình thường có chủ đề, nội dung rõ ràng như ốm đau, công ăn việc làm, diễn biển nhất thời khi có các sự kiện trong đời sống tác động đến tâm lý của chủ thể, hết tác động thể lo âu cũng không còn, và thường không có hoặc rất ít triệu chứng rối loạn thần kinh thực vật [12] [13].
Cần chú ý, lo âu cũng có thể là một biểu hiện hay cặp của nhiều nổi loạn tâm thần và cơ thể khác. Lo âu có thể là một thành phần của các bệnh này, có thể do sự điều trị hoặc xuất phát từ nhận định tiêu cực của người bệnh về tiênn lượng bệnh của mình [12] Rối loạn lo âu: Là rối loạn (RL) đặc trưng bởi các cơn lo âu kéo dài, bao gồm: 3 Luan van - RL lo âu đám đông: Bệnh nhân rất sợ bất kỳ tình huống nào mà có thể xtôi xét trước đám đông - RL căng thẳng sau sang chấn: Bệnh nhân có các giấc mơ lập đi lập lại về các sự kiện gây sang chấn, kéo dài ít nhất một tháng. - RL hoảng sợ: Bệnh nhân có các cơn hoảng loạn đột ngột, lập đi lập lại kéo dài một vài tháng. - Chứng sợ khoảng trống: Bệnh nhân luôn sợ và tránh né các nơi và tỉnh huống khó tẩu thoát khi bị tấn công - RL lo âu toàn thế.
Lo âu quá mức, xuất hiện hầu như mọi ngày trong vòng 6 tháng - RL ám ảnh- cưỡng bức: Bệnh nhân có các suy nghĩ ám ảnh (không loại bỏ đi được) như nghỉ bệnh, sự bẩn dẫn đến hành vi cưỡng bức (lập đi lập lại) như rửa tay, kiểm tra đi kiểm tra lại. Biểu hiện lâm sàng Các biểu hiện của lo âu thường rất đa dạng phức tạp, có lúc xuất hiện một cách tư phát không rõ nguyên nhân, hoàn cảnh rõ rệt. Các triệu chứng thường rất thay đổi, nhưng phổ biến là bệnh nhân cảm thấy sợ hãi, lo lắng về bất hạnh tương lại, dễ cáu, khó tập trung tư tưởng, công thông văn động, bồn chồn đứng ngồi không yên, đau căng đầu, đầu óc trống rỗng, run rầy, không có khả năng thư giãn, hoạt động quá mức thần kinh tự trị như và mồ hôi, mạch nhanh hoặc thở gấp, hồi hộp, đánh trong ngực, khó chịu vùng thượng vị, chồng mặt, khô mồm [15] [16]. Đặc điểm của trầm cảm Trầm cảm là một rối loạn thuộc nhóm rối loạn khi sắc thể hiện sự ức chế của cảm xúc, tư duy và vận động [17] [12].
Theo ICD-10 [18], một giai đoạn trầm cảm điển hình gồm các triệu chứng chính như khi sắc trầm, mất mọi quan tâm thích thú. giảm năng lượng dẫn đến tăng mệt mỏi và giảm hoạt động, cùng với các triệu chứng phổ biến khác như giảm sút sự tập trung và chú ý, giảm sút tính tự trọng và lòng tin, những ý tưởng bị tội và không xưng đáng, nhìn vào tương lai ảm đạm và bị quan, ý tưởng và hành vi tự hủy hoại hoặc tự sát, rối loạn giấc ngủ, ăn ít ngon miệng. Để chẩn đoán xác định trầm cảm cần phải có tối thiểu 2 trong các triệu chứng chính cộng thêm 2 trong số các triệu chứng phổ biến khác. Phải có ở nhất 2 tuần để làm chẩn đoán và cũng có thể cần thời gian ngắn hơn nếu các triệu chứng nặng bất thườnng và khởi phát nhanh.
4 Luan van Phân biệt các mục đỏ trầm cảm nhẹ, vừa và nặng đưa vào một sự cân nhắc lâm sàng phức tạp. Năng suất của các hoạt động xã hội nghề nghiệp là yếu tố chỉ điểm cho việc xác định các mức độ nặng, nhẹ vừa của trầm cảm. Biểu hiện lâm sàng Trầm cảm là một giai đoạn rối loạn khí sắc, có 1 đặc điểm biểu hiện quá trình ức chế toàn bộ hoạt động tinh thần. Cảm xúc, tư duy và vận động - Cảm xúc buồn rầu: Người bệnh buồn rầu, nhìn mọi vật xung quanh một cách bị quan ảm đạm.
- Tư duy châm chạp:. Người bệnh suy nghĩ chậm chạp, liên tưởng không nhanh chóng, tự cho mình là thấp kém, có hoang tương bị tội, hoang tương tự buộc tội. hoang tưởng nghị bệnh, hội chứng Cotard và có ý nghĩ hay hành vi tự sát. -Vận động ức chế: Người bệnh ít hoạt động, ít nói, sừng số đó dẫn, thườnghay ngồi lâu trong một tư thế với nét trầm ngầm suy nghĩ [18].
Tiêu chuẩn chấn đoàn con trầm cản hậu Cần có một trong hai triệu chứng sau: - Trạng thái trầm cảm - Mất quan tâm hoặc thích thú với hầu hết hoặc tất cả các công việc thường nhật Kèm 5/7 triệu chứng sau, tất cả ít nhất kéo dài 2 tuần lễ. - Giảm cân hoặc tăng cân quá mức -Mất ngủ hoặc ngủ nhiều -Kích động loạt chậm chạp tâm lý vận động - Mệt mỏi hoặc mất sinh lực -Cảm giác không đang giá hoặc cảm giác có tội không dùng hoặc quá mức -Giảm khả năng suy nghĩ hoặc tập trung bất định. - Ý tưởng tài diễn về cái chết hoặc tự tử [18]. Theo ICD-10, sự hồi hợp các triệu chứng là phổ biến, trầm cảm cùng tồn tại với lo âu là thường gặp nhất [18].
Khái niệm, triệu chứng, chẩn đoán bệnh trào ngược dạ dày thực quản. Định nghĩa Trào ngược dạ dày thực quản là hiện tượng một phần dịch dạ dày đi ngược lên thực quản qua cơ thắt thực quản duới, quá trình này có hoặc không có triệu 5 Luan van chứng nhưng phản lớn chủng gây ra các triệu chứng ợ chưa, nóng rát sau xương ức, đau ngực, nuốt khó. Viêm thực quan trào ngược là hiện tượng tổn thương thực quân gây ra do chất trào ngược. Dịch tễ học bệnh trào ngược Dạ dày thực quản Đây là bệnh lý phổ biến trên thế giới, ở Mỹ 10-20%, ở Thụy sĩ 5%, Phần Lan 27%-30%.
Ở Châu Á GERD ít gặp hơn, ở Nhật 16,3%, Dài Loan 5%, Ấn Độ 7.5%, Trung Quốc 0,5%, Malaysia 3%, Hàn Quốc và Dài Loan 3,4-9% [21] [22]. Tỷ lệ lưu hành của những triệu chứng trào ngược gia tăng hàng năm trung bình khoảng 5% ở Bắc Mỹ, 27% ở Châu Âu, ở Châu Á, một nghiên cứu từ Singapore cho thầy tu lệ hiện mắc của GERD đang gia tăng từ 5,5% ở năm 1994 tăng lên 10. Hai triệu chứng điển hình của GERD cũng gặp ở tỉ lệ cao trong dân số: ở Mỹ 44% người lớn có triệu chứng nóng rát ít nhất 1 lần trong 1 tháng, 14% có nóng rất ít nhất 1 lần mỗi tuần, và 7% có nông rất mỗi ngày [23]. Ở Việt Nam, theo thống kê của tác giả Lê Văn Dũng tiến hành tại khoa thăm dò chức năng bệnh viện Bạch Mai năm 2001 cho thấy tỉ lệ viêm thực quản do trào ngược khoảng 7,8%.
Tuổi và giới: Bệnh hay gặp ở nam nhiều hơn nữ, lứa tuổi gặp nhiều nhất là 40- 49 tuổi. Chế độ sinh hoạt: Hút thuốc lá, uống rượu, cà phê, dùng các thuốc chống viêm không steroid, các thuốc chẹn kênh canxi,. có thể tạo nên cơ hội dễ nảy sinh GERD. Đặc biệt những người nghiện thuốc, ngoài hiện tượng giảm cơ thắt thực quản còn thấy tình trạng tăng áp lực trong khoang bụng tương ứng với lúc hít mạnh hoặc ho [4] Bệnh thực quán trào ngược là tập hợp tất cả các triệu chứng và hậu quả ở thực quản do trào ngược gây ra.
Nguyên nhân Hiện nay, nguyên nhân gây bệnh vẫn còn chưa tỏ song người ta tìm thấy một số yếu tố nguy cơ sau: - Yếu tố gen: người ta nhận thấy ở một số gia đình có nhiều người cùng bị bệnh TNDDTQ - Giải phẫu học, một số bệnh nhân có TQ ngắn, khỏi u TQ, thoát vị cơ - Tuổi hay gặp nhiều ở người trên 40 - Giới: nam tập nhiều hơn nữ - Chế độ sinh hoạt hút thuốc là, uống rượu, cà phê, dùng các thuốc chống viêm không steroid, các thuộc chọn kênh canxi,. đều ảnh hưởng đến khả năng trào ngược dạ dày TQ - Béo phì 1. Chẩn đoán bệnh GERD 1. Lâm sàng 6 Luan van Hội chứng của bệnh GERD có triệu chứng rất đa dạng, từ những tổn thương rất nhẹ không có triệu chứng, không có biến chứng cho tới những trường hợp viêm thực quản có biến chứng về giải phẫu và chức năng.
- Các triệu chứng điển hình [24] [25] + Nóng rất sau xương ức: bệnh nhân có cảm giác nóng rát sau xương ức. lan lên trên, xuất hiện sau ăn, khi năm ngứa hoặc khi cúi. Triệu chứng đau tăng lên khi có kết hợp các yếu tố như ăn no, uống bia rượu, cà phê. Triệu chúng cũng có thể giảm khi dùng các thuốc trung hòa acid, ngôi hay đứng dày.