Chương 1: Giới thiệu đề tài Chương 2: Cơ sở lý thuyết, cơ sở thực tiễn và các kết quả nghiên cứu trước đây Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Phân tích và kết quả nghiên cứu Chương 5: Đề xuất và kết luận 9 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT, CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Áp lực Áp lực là khi trạng thái sức khoẻ của chúng ta đang ở mức độ thấp nhất khiến cá thể cảm thấy bị áp lực dẫn đến mệt mỏi, sức khoẻ trở nên sa sút, khó thở, cảm giác như chúng ta bị ép đến chân đường mà không thể tìm ra lối thoát. Áp lực là những khó khăn trong cuộc sống khiến chúng ta cảm thấy hoang mang, lo lắng, sợ hãi. Áp lực khiến chúng ta hay gặp tình trạng ăn không ngon, ngủ không yên vì ta luôn suy nghĩ những điều tiêu cực, suy nghĩ một cách không có lối thoát.
Việc suy nghĩ không lối thoát sẽ gây ra rất nhiều hệ lụy, ví dụ như : sẽ làm trí nhớ suy giảm, thường sẽ rất khó tập trung làm việc. Áp lực là vấn đề mà tất cả mọi người đều phải trải qua. Thực chất đây chỉ là sự dồn nén của những cảm xúc tiêu cực như mệt mỏi, căng thẳng kéo dài,. song nó cũng là một động lực thúc đẩy tất cả chúng ta nỗ lực để đạt được kết quả tốt nhất.2 Áp lực đồng trang lứa (Peer Pressure) Peer Pressure là một thuật ngữ chuyên ngành giáo dục, tâm lý học và được hiểu là áp lực đồng trang lứa.
Áp lực đồng trang lứa chỉ một cá thể bị áp lực, bị ảnh hưởng từ gia đình, bạn bè, xã hội,… Cá thể này phải thay đổi thái độ, tư duy, hành vi của bản thân để phù hợp với những áp 10 lực của mọi người, dần dần cá thể này sẽ không còn là chính mình, dẫn tới việc nhút nhát, e dè, khép mình khi không thay đổi theo đúng chuẩn mực của mọi thứ, tự đặt bản thân vào sự so sánh với những tiêu chí không phù hợp. Chỉ trong tháng 9/2021, Việt Nam đã có hơn 26 nghìn lượt tìm kiếm về “Peer Pressure là gì và những giải pháp cho nó” tăng hơn 300% so với tháng trước. Dựa vào thống kê phân tích từ khóa truy cập trên Google, lượng tìm kiếm về Peer Pressure vẫn đang ngày một tăng lên theo từng năm: Theo như nghiên cứu của Ameka Lindo - PEER PRESSURE. WHAT IS PEER PRESSURE? (2011), áp lực đồng trang lứa là khi một nhóm người (cùng độ tuổi, cùng lớp, cùng công ty, …) ảnh hưởng tới một cá nhân và khiến cá nhân đó phải thay đổi hành động, giá trị nhất định nào đó hoặc tuân thủ theo một việc làm với mục đích được công nhận.
Áp lực đồng trang lứa thường ảnh hưởng rõ rệt tới những người chưa phát triển ổn định về mặt nhân cách, vậy nên thanh thiếu niên, các bạn sinh viên là những người dễ bị tác động nhất. Một cuộc nghiên cứu khảo sát đã chia những người tham gia thành ba nhóm dựa trên độ tuổi và họ được mời tham gia một nhiệm vụ nguy hiểm cùng với những người cùng nhóm tuổi. Kết quả: các thanh thiếu niên có nguy cơ thực hiện các hành vi nguy hiểm tăng gấp đôi, nhóm người trưởng thành hầu như không bị ảnh hưởng nhiều. Có thể thấy rằng, thời điểm mà một người dễ bị áp lực từ bạn bè nhất đó là tuổi vị thành niên, bởi áp lực từ bạn bè là yếu tố tác động lớn nhất đến hành vi của thanh thiếu niên và đây được coi là dấu hiệu của trải nghiệm tuổi vị thành niên.
Khi bắt đầu bước vào giai đoạn này của cuộc đời, trẻ em dần nhận thức được những người xung quanh và nhận ra được tầm quan trọng của sự tương tác với các mối quan hệ bên ngoài. Quan niệm được xem là sự phù hợp đồng lứa ở những người trẻ tuổi đó là hợp về phong cách, gu ăn mặc, thẩm mỹ, hệ tư tưởng, ngoại hình… 11 Theo học thuyết phát triển tâm lý xã hội của Erikson (1950), ở giai đoạn 5 (vị thành niên), ông cho rằng: bước ngoặt cốt lõi của tuổi mới lớn là khám phá ra danh tính thực sự của mình giữa bộn bề của việc đóng các vai trò khác nhau trong xã hội. Bản thân đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển nhân cách của trẻ ở độ tuổi này. Mối quan hệ với gia đình bị nới lỏng do sự mở rộng của các mối quan hệ bạn bè - đặc biệt là những người khác giới.
Cuốn bách khoa The World Book Encyclopedia nói: “Hầu hết thanh thiếu niên lui tới mật thiết hơn với những người cùng lứa với họ - tức bạn bè và người quen. Các thanh thiếu niên này muốn có được sự tán đồng của bạn bè cùng lứa thay vì cha mẹ, và họ có thể thay đổi hành vi nhằm đạt được điều này”. Bách khoa tự điển này nói thêm là thanh thiếu niên “cho rằng chúng phát triển bình thường nếu được các bạn cùng lứa thích và chấp nhận”. Để đạt đến mục đích này, họ “rất quan tâm tới những vấn đề mà theo họ, sẽ ảnh hưởng đến việc được người khác ưa thích, chẳng hạn như cách ăn mặc, khả năng lãnh đạo và thành công trong việc hẹn hò”.
Mọi người cũng hay tự đặt câu hỏi cho nhau “Vì sao lại rơi vào tình trạng Peer Pressure?”. Môi trường xung quanh có rất nhiều thứ gây ảnh hưởng đến tâm lí của chúng ta, những nguyên nhân này có thể xuất phát từ bên ngoài xã hội, trong gia đình, hoặc là ngay chính bản thân mình tự áp lực bản thân dẫn đến tự rơi vào trạng thái Peer Pressure. Một vài nguyên nhân điển hình khiến sinh viên gặp phải tình trạng áp lực đồng trang lứa (Peer Pressure) là bản thân, gia đình, nhà trường, xã hội,… 2.3 Tác động bên trong Sự cô lập/ tự cô lập về cảm xúc là căn nguyên tiêu biểu ở thanh thiếu niên, lựa chọn không chia sẻ tâm tư, cảm xúc với bất cứ ai, kể cả người thân, suy nghĩ sẽ bảo vệ cha mẹ khỏi những lo âu, phiền muộn quá nhiều về chuyện con cái. Từ đó, ta chọn cách lui tới mạng xã hội, thực tế việc tiếp cận với các công nghệ hiện đại và hành vi trực tuyến khiến ta dần có xu hướng “sử dụng quá nhiều”.
Chúng ta bị ảnh hưởng và áp lực bởi những hình ảnh, hoạt động này trên mạng xã hội, rồi tự tạo cho chính mình. Trưởng nhóm nghiên cứu - Tiến sĩ Brian Primack cho biết, những người dành quá nhiều thời gian trên mạng xã hội thường so sánh mình với người khác, sau đó cảm thấy kém cỏi dễ dẫn đến thất vọng và trầm cảm. Các chuyên gia đã khảo sát khoảng 1.000 người trong độ tuổi từ 18 đến 30 không bị trầm cảm ngay từ đầu. Tất cả đều báo cáo thời gian bình thường của họ trên mạng xã hội và được đánh giá về chứng trầm cảm sau đó 6 tháng.
Kết quả cuộc khảo sát cho thấy nguy cơ trầm cảm tăng tỷ lệ thuận với thời gian dành cho mạng xã hội. 12 Một trong những yếu tố tự khiến bản thân mình gặp phải Peer Pressure là học theo lối sống và những quan niệm tiêu cực về đặc điểm thể chất vị thành niên. Ngay khi chúng ta chập chững đi học thì cũng là chuỗi ngày áp lực với điểm số, áp lực với bạn bè đồng trang lứa ở trường học. Sinh viên chúng ta luôn tự đặt cho bản thân rất nhiều câu hỏi “Tại sao bản thân không hoàn hảo như bạn khác?”, “Bản thân chúng ta không giỏi như bạn khác?” , “Mình không giỏi như người khác vậy có thể bị xa lánh không?” và vô vàn những câu hỏi khác, mỗi ngày càng chồng chất những câu hỏi khác nhau khiến cho trong tâm lý ta hình thành một cái tấm màn tự ti, lấy đi tất cả những tự tin vốn có của bản thân sau đó tấm màn ấy sẽ làm ta trở nên mệt mỏi, áp lực.
Theo phân tích của FCPS “Fairfax country Publics school”, một trong những cơ sở giáo dục hàng đầu tại Hoa Kỳ, đã chỉ ra rằng mặt tiêu cực của vấn đề được thể hiện qua các hành vi sau: Đua đòi những món đồ sang trọng để giống với bạn bè. Sử dụng thuốc lá và rượu bia để thể hiện mình là người lớn. Luôn theo số đông, không có chính kiến, không bảo vệ quan điểm của mình. Luôn cố gắng làm hài lòng người khác hoặc tranh giành những điều bản thân không có hứng thú.
Thường xuyên đăng tải cảm xúc cá nhân lên các trang mạng xã hội. Nói dối về hoàn cảnh gia đình, mối quan hệ bạn bè và các mối quan hệ xã hội.4 Tác động bên ngoài Gia đình Theo Tiến sĩ Brett Laursen (2013), cha mẹ có thể đóng vai trò như một tấm đệm chống lại ảnh hưởng của bạn bè. Những đứa trẻ thường có quan hệ tốt với ba mẹ, gần gũi với ba mẹ thì chúng cảm thấy rằng chúng rất ít có nhu cầu làm hài lòng người khác. Allen, Porter, McFarland, McElhaney, & Marsh (2007) cũng có giả thuyết tương tự.
Các tác giả cho rằng nếu thanh thiếu niên có sự gắn bó an toàn với cha mẹ thì sẽ hình thành và duy trì tình bạn với mức độ thấp của áp lực bạn bè. Tuy nhiên, trường hợp đấy rất ít vì cha mẹ còn phải lo toan rất nhiều thứ trong cuộc sống, có vài gia đình do nghèo hoặc trong tình trạng kinh tế - xã hội giảm sút, cũng có thể là do quy tắc của gia đình quá nghiêm ngặt khiến khoảng cách giữa chúng ta và gia đình xa hơn. Ở khía cạnh là bậc làm cha làm mẹ ai cũng mang cho bản thân mình tâm lý kỳ vọng vào các con của mình rất nhiều. Khi các con được như họ mong đợi tức là họ được nở mày nở mặt, song con cái họ sẽ có một cuộc sống sung túc.
Lợi ích của việc kỳ vọng cũng mang lại ảnh hưởng tích cực 13 nhưng cái gì cũng nên ở mức độ vừa phải, đủ dùng, đừng đề cao con em chúng ta một cách quá đáng, cũng đừng so sánh chúng với bất kỳ đứa trẻ nào khác, đấy là sự tổn thương đỉnh điểm đối với một đứa trẻ. Việc ba mẹ đề ra những kỳ vọng quá cao lên con em của họ đang dần đẩy chúng rơi vào tình trạng áp lực đồng trang lứa, có nguy cơ dẫn đến những hệ lụy đáng tiếc sau này.