CHƯƠNG 1: MỘT SO VAN DE LÝ LUẬN VE TRAM CẢM O THANH NIEN VA CAC LIEU PHAP TAM LY HO TRO 1. Tổng quan nghiên cứu về trầm cảm ở thanh niên “Tram cảm” đang là một trong những từ được sử dung phổ biến nhất dé mô tả về một loạt các trải nghiệm của con người (thuộc về đau khổ) vào đầu thế kỉ 21. Nghiên cứu dịch té về tram cảm ở thanh niên Rối loạn tram cảm ở thanh niên là một trong những rối loạn phổ biến và gây suy nhược cho lứa tuổi này (Iftene và cộng sự, 2015). Như đã nói, tram cảm ở thanh niên là đáng lo ngại vì nó có thể trở thành mãn tính, tái phát và suy yếu chức năng hoạt động của cơ thé.
Ngoài ra, nó còn gây tốn kém về chi phí điều trị và tinh thần cho gia đình và xã hội; liên quan đến nhiều vấn đề thích nghi trong tương lai (ở tuổi trưởng thành). Trầm cảm còn gây nên những ảnh hưởng tiêu cực trong các mối quan hệ của cá nhân, học tập, nhận thức và làm tăng thêm triệu chứng của rối loạn lo âu, sử dụng chất kích thích (rượu, thuốc), rối loạn ăn uống và hành vi tự sát. Năm 2002, Rushton và cộng sự đã chỉ ra rằng 1.5-8% thanh niên mắc rỗi loạn tram cảm và khoảng 1-2% thanh niên mắc tram cảm nặng, rối loạn nhịp tim (được trích dẫn bởi Para, 2008). Tỉ lệ này ngày càng tăng theo thời gian.
Đặc biệt là ở thanh niên và phụ nữ, tỉ lệ về căng thăng và trầm cảm so với các nhóm khác là cao hơn cả (O°Dougherty và cộng sự, 2012). Ở Anh, tram cảm dẫn đến tự tử là nguyên nhân tử vong phố biến ở các nam thanh niên (được báo cáo bởi Smith & Blackwood, 2004). Các nghiên cứu dịch tễ học cho thấy rằng các yếu tố như kết quả học tập kém, nghèo đói, không có việc làm có nguy cơ gây nên tự tử, nhưng yếu tổ gây nguy cơ tự tử cao nhất là tiền sử bệnh tâm than va tram cam, đây cũng là yếu tố phổ biến nhất (chiếm 56% số người được nghiên cứu) (D. Trằm cảm gắn với quá trình phát triển và trưởng thành của cá nhân.
Sự kỳ vọng là điều rất cần thiết để cá nhân định hình hướng đi trong cuộc sống, đặc biệt là những thời điểm chuyền đổi từ giai đoạn này sang giai đoạn khác. Và thanh niên cũng vậy, họ cũng có những kỳ vọng dé bước sang tuổi trưởng thành. Những kỳ vọng đó có thé bắt nguồn từ cá nhân và cũng có thé bat nguôn từ xã hội. Tuy nhiên, khi không được đáp ứng, chúng gây ra những hậu quả nghiêm trọng về sức khỏe tinh thần, đặc biệt là trầm cảm (Mossakowski, 2011).
Những thanh niên có triệu chứng tram cảm thì cho thấy họ có khả năng cao mắc tram cảmở tuôi trưởng thành, cùng với đó là việc lạm dụng chat kích thích, suy giảm các hoạt động tâm lý và xã hội (D. Các nghiên cứu ở sinh viên đại học cũng chỉ ra tỉ lệ cao của nhóm sinh viên có tram cảm, lo âu va căng thăng (Mahmoud và cộng sự, 2012) đi kèm với đó là mức độ hài lòng với cuộc sống thấp. Ở tuổi 19, có tới 20% thanh niên đã trải qua ít nhất một giai đoạn tram cảm. Mặc dù thực tế là những giai đoạn này có ké kéo dai dai dang (từ 1-2 năm) nhưng lại được nhận biết rất kém.
Thêm nữa, trầm cảm ở thanh niên cũng có thé phát triển thành rối loạn lưỡng cực. Ty lệ chuyên déi này sẽ càng cao đối với những người bị trầm cảm nặng hơn (D. Mặc dù có các liệu pháp dựa trên bằng cả về dược lý và tâm lý có hiệu quả với thanh niên trầm cảm thì ít nhất, một phần ba đến một nửa số thanh niên tram cảm vẫn không đáp ứng với điều trị; gần một nửa số thanh niên được điều trị tái phát trong vòng 4 năm (Iftene, 2015). Theo báo cáo của trung tâm thông tin sức khỏe thanh thiếu niên quốc gia Mỹ, trẻ em và thanh thiếu niên trong cộng đồng bị tram cảm chiếm 2-6%; trong đó 25% thanh thiếu niên mang triệu chứng của tram cảm mức độ nhẹ, nguy cơ tự sát của nhóm này cũng cao hơn so với cộng đông chung.
Ở Việt 10 Nam, theo Điều tra Quốc gia về Vị thành niên và Thanh niên (SAVY) năm 2003, trong độ tuổi từ 14 đến 25 cho thấy có hơn 73% thanh thiếu niên từng cảm thấy buồn, hon 27% cảm thay bat lực tới mức không thé làm các hoạt động thường ngày và hơn 21 % từng cảm thấy mất niềm tin khi nghĩ về tương lai. Trong một nghiên cứu thực hiện trên nhóm sinh viên điều dưỡng tại thành phố Hồ Chí Minh năm 2009, tác giả Hồ Ngọc Quỳnh cho thấy tỉ lệ mắc trầm cảm ở sinh viên y tế công cộng là 17.6%, sinh viên điều dưỡng là 16. Theo nghiên cứu của Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF) năm 2018, ti lệ trẻ vị thành niên ở Việt Nam có các bệnh về sức khỏe tinh thần là 8% - 29%. Và có khoảng ba triệu thanh niên và thiếu niên có các vấn đề về sức khỏe tâm thần nhưng tỉ lệ nhận được hỗ trợ điều trị chỉ khoảng 20%.
Nghiên cứu về hỗ trợ tâm lý cho thanh niên bị trầm cảm Với tỉ lệ phố biến đáng kề, việc tim ra phương pháp hiệu quả cho thanh niên trầm cảm đã trở thành một nhiệm vụ quan trọng đối với nhiều nhà tri liệu tâm lý. Trong số nhiều biện pháp can thiệp, có lẽ liệu pháp được sử dụng nhiều nhất là Nhận thức hành vi (CBT) cũng như sự kết hợp của liệu pháp này với Phỏng vấn tạo động lực (MI). Hầu hết, các nghiên cứu về CBT đối với trầm cảm ở thanh niên đã được thực hiện trong các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên. Weersing và Weisz cho rằng CBT có thé tạo ra kết quả vượt trội so với các biện pháp can thiệp khác đối với trầm cảm ở thanh niên vì nó cho kết quả vượt trội hơn về cả thời gian và mức độ giảm triệu chứng tram cảm (được trích dẫn bởi Para, 2008).
Trong một số nghiên cứu thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên lớn giữa nhóm bệnh nhân sử dụng kết hợp CBT và thuốc với nhóm bệnh nhân chỉ sử dụng thuốc, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng việc kết hợp CBT và sử dụng thuôc trong điêu tri tram cảm ở thanh niên có hiệu qua hơn han so với II việc chỉ điều trị bằng thuốc (Iftene, 2015). Tuy nhién, két quả nay chỉ có sự chênh lệch rõ ràng đối với bệnh nhân không ở mức độ tram cảm nặng. Kết quả trong nghiên cứu phân tích hồi quy của M. Oud và cộng sự (2018) đã chỉ ra mối tương quan thuận giữa sự cải thiện về triệu chứng tram cảm va sự kết hợp của các thành phan kích hoạt hành vi, tái cấu trúc nhận thức ở thanh niên tram cảm.
Kết quả này cho thấy kích hoạt hành vi và tái cau trúc nhận thức là một chiến lược có thể đạt được hiệu quả trong can thiệp trầm cảm cho nhóm đối tượng này. Điều này rất quan trọng vì sự tái phát của tram cảm ở đối tượng trẻ là khá cao (Oud và cộng sự, 2019). CBT được sử dụng rộng rãi và làm giảm mức độ nghiêm trọng của những triệu chứng trầm cảm và lo âu ở thanh-thiếu niên. Đồng thời, nó còn làm gia tăng lòng tự trọng, giảm nguy cơ phát triển các rối loạn tâm trạng sau này trong cuộc sông cho nhóm tuổi ấy (Dobson, K.
Thêm nữa, CBT tập trung vào các biến số cụ thể (suy nghĩ, cảm xúc, hành vi) có tác động đến tâm trạng và các triệu chứng tram cảm nên việc đánh giá dé dàng và chính xác hơn ca. Không những chỉ hiệu quả đối với cá nhân, liệu pháp này còn có hiệu quả khi can thiệp nhóm cũng cho cải thiện đáng ké về các khả năng xã hội và mối quan hệ, vi nó cho phép so sánh và hỗ trợ người cùng nhóm, quan sát học hỏi và thực hành kỹ năng mới trong một môi trường tri liệu an toàn (Nardi, B. Liệu pháp CBT ngắn hạn cũng làm giảm đáng kể các triệu chứng trầm cảm trong quá trình trị liệu cũng như theo dõi sau sáu tháng. Vì chỉ kéo đài 6 phiên nên nó rất thích hợp dé xây dựng những chương trình phòng ngừa tram cảm, đặc biệt là cho sinh viên đại học (Stice, E.
Các chiến lược phòng ngừa có thé làm giảm thiêu các rủi ro có thé xảy ra 12 hoặc ít nhất là làm chậm sự khởi phát của rỗi loan này (Thapar và cộng sự, 2012). Khi nhắc đến CBT, người ta không thé không nhắc đến Liệu pháp Cảm xúc Hành vi hợp lý (REBT) — liệu pháp đầu tiên của trị liệu Nhận thức Hành vi và ngày nay nó tiếp tục là một tiếp cận Nhận thức Hành vi chính. REBT được thực hành nhiều trong việc hỗ trợ các đối tượng có rỗi loạn trầm cảm và cho những hiệu quả nhất định. REBT dựa trên lý thuyết cho rằng các hành vi không phù hợp xuất hiện từ quá trình suy nghĩ với niềm tin phi lý.
Chính vì vậy, mục đích của liệu pháp này là hỗ trợ thân chủ có những niềm tin hợp lý hơn. Nhiều nghiên cứu đã xác nhận rang REBT là một phương pháp hiệu qua dé giảm bớt tram cảm, lo âu, căng thang, niềm tin phi lý và các triệu chứng tâm thần. Một số thanh niên mắc bệnh tim bam sinh kèm theo những triệu chứng tram cảm (do có xu hướng tự ti, không chắn chắn về tương lai và thất vọng với khả năng của mình, dẫn đến bất lực và những niềm tin phi lý) sau quá trình trị liệu bởi REBT cho thấy sự giảm đáng kể các triệu chứng trầm cảm và những niềm tin phi ly (Moon, J. REBT còn giúp cá nhân vượt ra khỏi khuynh hướng suy nghĩ cụ thé, lặp lại.
Ngoài ra, liệu pháp nay còn thúc day thân chủ thu nhận những kỹ năng, kỹ thuật giải quyết van đề thực tế - điều này rất quan trọng đối với những thanh thiếu niên và thanh niên — những người cần tìm cách “trưởng thành mà không bỏ cuộc” khi đối mặt với khó khăn thử thách (Vernon, 2019). Việc trị liệu cho thanh niên tram cảm đôi khi không đơn thuần chi là liệu pháp tâm lý, song song với đó là sự kết hợp với dược lý. Tuy vậy, điều đó không có nghĩa rằng khi chỉ sử dụng liệu pháp tâm lý thì hiệu quả không cao băng kết hợp cả hai phương pháp.