MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn ca lâm sàng Cuộc sống hiện đại ngày càng phát triển với tốc độ nhanh chóng, kèm theo áp lực công việc, học hành; cơ thể và não bộ làm việc quá sức, khiến cho con người trong xã hội ngày nay ít có thời gian dành cho cá nhân, cho những mối quan hệ xung quanh,. Điều này làm tăng tình trạng căng thang, lo âu trong cuộc sống, khiến nhiều người gặp phải những vấn đề liên quan đến sức khỏe tâm thần. Trong đó, tram cảm là một trong những rối loạn tâm than phố biến và có xu hướng ngày càng gia tăng trên toàn thế giới [31].
Thống kê từ Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) tổng số người mắc trầm cảm trên thế giới vào năm 2015 là 322 triệu người, tương đương với 4,4% dân số.000 người chết vì tự tử, trong đó trầm cảm là nguyên nhân chính gây ra các ca tử vong do tự tử [30]. Rối loạn tram cảm đứng thứ hai trên bảng xếp hạng gánh nặng bệnh tật toàn cầu (GBD) năm 2021 [16], thê hiện tác động tiêu cực của tram cảm đến sức khỏe, kinh tế, các mối quan hệ,. đối với cá nhân, gia đình và toàn xã hội. Trằm cảm có thể gặp ở mọi lứa tuôi từ thanh thiếu niên đến người già, cả nam và nữ, với mọi tầng lớp văn hóa, nghề nghiệp khác nhau, ở cả thành thị và nông thôn không phân biệt nền kinh tế phát triển hay đang phát triên.
Tram cảm có tỷ lệ khác nhau tùy theo giới, hoàn cảnh nghề nghiệp, nền văn hóa, và lứa tuôi. Tuy nhiên, những người từng trải qua những trải nghiệm tiêu cực thời thơ ấu, mat mát nghiêm trọng hoặc các sự kiện căng thăng có nhiều khả năng bị tram cảm hơn [31]. Rối loạn trầm cảm đang có xu hướng trẻ hóa ở độ tuôi thanh niên. Tự tử là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ tư ở độ tuổi 15-29 [31].
Đây là giai đoạn mà con người đang loay hoay định hình bản sắc cá nhân, trăn trở, suy ngâm về bản thân, về ý nghĩa cuộc sông, về vi trí của mình trong thê giới, kèm theo áp lực về học tập, công việc, xây dựng kế hoạch cho tương lai nên đây là giai đoạn dé nảy sinh nhiều rối loạn tâm than, trong đó có tram cảm. Do đó, việc đánh giá và can thiệp rối loạn trầm cảm ở thanh niên có nhiều ý nghĩa quan trọng. Bên cạnh việc can thiệp bằng thuốc thì can thiệp tâm lý cho rồi loan tram cảm đang được tiếp cận rộng rãi và có hiệu qua [30], trong đó có liệu pháp nhận thức hành vi. Các nghiên cứu chỉ ra rằng những bệnh nhân được điều trị kết hợp giữa thuốc và trị liệu tâm lý băng liệu pháp nhận thức hành vi giúp giảm các triệu chứng tram cảm nhiều hon đáng ké so với những bệnh nhân chỉ điều trị bằng thuốc.
Bên cạnh đó, liệu pháp nhận thức hành vi có tác dụng lâu dài giúp giảm nguy co tái phát tram cảm trong tương lai [28], [21]. Nhận thức hành vi là sự kết hợp các kỹ thuật của liệu pháp hành vi và liệu pháp nhận thức. Mục tiêu của nhận thức hành vi là giúp cá nhân điều chỉnh các nhận thức kém thích nghi về bản thân, về người khác và thế giới xung quanh; kích hoạt các hành vi yêu thích, hành vi có lợi, xây dựng thói quen lành mạnh hơn trong cuộc sống. Từ những mong muốn mang lại hiệu quả trong việc điều trị rối loạn tram cảm, chúng tôi chọn nghiên cứu dé tai thông qua một ca lâm sàng cụ thé: “Can thiệp tâm lý cho một trường hop có rồi loạn tram cảm” lứa tuổi thanh niên.
Nhiệm vụ nghiên cứu - Nghiên cứu lý luận: điểm luận một số nghiên cứu về trầm cảm và trị liệu tram cảm bằng liệu pháp tâm lý. - Nghiên cứu thực tiễn: trình bày cơ sở lý luận, đánh giá, chân đoán về rỗi loạn tram cảm, thực hiện can thiệp rỗi loạn trầm cảm cho thân chủ, đánh giá hiệu quả can thiệp, đưa ra kết luận và khuyến nghị cho ca lâm sàng. Khách thể nghiên cứu Trường hợp một nữ thanh niên có triệu chứng trâm cảm. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp nghiên cứu tài liệu.
- Phương pháp quan sát lâm sàng. - Phương pháp hỏi chuyện lâm sảng. - Phương pháp nghiên cứu tiểu sử cuộc đời. - Phương pháp đánh giá hiệu quả can thiệp.
- Phương pháp trắc nghiệm/ thang đo. CƠ SỞ LÝ LUẬN VE ROI LOAN TRAM CẢM 1. Tổng quan nghiên cứu về rối loạn trầm cảm 1. Điểm luận một số nghiên cứu về tram cảm Tram cảm được xếp vào nhóm các rối loạn cảm xúc (F30 — F39) trong Bảng phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 (ICD-10) của Tổ chức Y tế Thế giới.
Trong lĩnh vực tâm lý học nói chung và tâm lý học trị liệu, tâm lý học lâm sảng, tâm bệnh học nói riêng, tram cảm được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau như xã hội, hành vi, nhận thức, liên nhân cách,. Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu dịch tễ học về rối loạn trầm cảm. Kết quả phân tích dữ liệu từ Cuộc khảo sát phỏng vấn sức khỏe Châu Âu trên 27 quốc gia Châu Âu từ năm 2013 — 2015 cho thấy tỷ lệ chung của rối loạn trầm cảm ở Châu Âu là 6,38%, với sự khác biệt giữa các quốc gia, dao động từ 2,58% ở Cộng hòa Séc đến 10,33% ở Iceland. Tỷ lệ mắc trầm cảm ở phụ nữ cao hơn (7,74%) so với nam giới (4,89%) với sự khác biệt rõ ràng về giới tính ở tất cả các quốc gia Châu Âu, ngoại trừ Phần Lan và Croatia [19].
Một nghiên cứu từ năm 2015 đến 2020 về Xu hướng tỷ lệ trầm cảm ở Hoa Kỳ trên các đối tượng từ 12 tuổi trở lên, cho kết quả tỷ lệ trầm cảm trong năm đã tăng từ 7,3% năm 2015 lên 8,63% năm 2019, và 9,2% vào năm 2020. Phân loại theo độ tuổi, tỷ lệ trầm cảm cao nhất ở thanh thiếu niên 12 — 17 tuổi và thanh niên 18 — 25 tuổi. Tỷ lệ trầm cảm gia tăng từ năm 2015 đến năm 2019 ở những người 12 — 17 tuổi là 12,7% đến 15,8%, vào năm 2020 là 16,9%; ở những người 18 — 25 tuổi là 10,3% đến 15,5%, vào năm 2020 là 17,2%. Tỷ lệ trầm cảm có sự chênh lệch về chủng tộc (cao nhất ở người da trang không phải gốc Tây Ba Nha), giới (nữ cao gần gấp đôi nam), tình trạng hôn nhân (cao nhất ở những người trưởng thành chưa kết hôn), thu nhập (ty lệ 10 trầm cảm cao nhất ở những người có thu nhập hộ gia đình thấp nhất), trình độ học vấn (cao nhất ở những người có trình độ đại học).
Tỷ lệ tìm kiếm trợ giúp vẫn ở mức thấp trong suốt thời gian nghiên cứu [25]. Nghiên cứu tông quan về dịch tễ học ở Hàn Quốc năm 2010 cho thấy tỷ lệ mắc rối loạn trầm cảm trong đời ở người trưởng thành Hàn Quốc dao động từ 3,3% đến 5,6%, thấp hơn các nước phương Tây. Tỷ lệ tram cảm ở người lớn tuôi từ 4,6% đến 7,5%, tương đối cao hơn so với các nước phương Tây và các nước phương Đông khác đã được báo cáo. Dự báo tỷ lệ trầm cảm có thê xảy ra thấp nhất ở nhóm tudi từ 40 — 49 với tỷ lệ 7,6% và cao nhất trong nhóm tuổi từ 15 — 18 ở mức 46,8%; ty lệ tram cảm ở người cao tuôi Hàn Quốc tăng theo độ tuổi và cao nhất ở nhóm từ 80 tuổi trở lên, ở mức 35,4%.
Các yếu tố như giới nữ, thu nhập thấp, trình độ học vấn thấp, tiền sử từng bị trầm cảm, chứng mất trí nhớ và tiền sử bị bệnh mạch máu não làm tăng nguy co tram cảm [18]. Nghiên cứu tại Trung Quốc năm 2017 cho thấy tỉ lệ người mắc trầm cảm trong 12 tháng ở Thượng Hải là 1,7% và ở Bắc Kinh là 2,5%. Rối loạn trầm cảm gây ra tàn tật, tử vong và đau khổ nghiêm trọng cho cá nhân và gia đình. Nghiên cứu này nhân mạnh đến thiệt hại kinh tế mà Trung Quốc phải chi trả cho rỗi loạn tram cảm, ước tính tong chi phí khoảng 51,370 triệu nhân dân tệ, tương đương 6,264 triệu đô la Mỹ [15].
Trong năm 2014 — 2015, Cục thống kê Úc ước tính có 2,1 triệu người Úc tương đương 9,3% dân số đang mắc một số dang tram cảm. Trung bình, cứ 6 người thì có 1 người (1 trong 5 phụ nữ và 1 trong 8 nam giới) sẽ trải qua rối loạn tram cảm chủ yếu vào một thời điểm nao đó trong đời [33]. Nghiên cứu của O’Hara và cs (2012) cho thay, tram cảm ảnh hưởng đến khoảng 19% phụ nữ sau sinh trong thời gian 3 tháng đầu sau sinh với mức độ trầm cảm nặng [4]. Tại Việt Nam chưa có nghiên cứu thông kê toàn diện về rôi loạn trâm lãi cảm để khái quát tỉ lệ đân số mắc trầm cảm như các nước phát triển trên thế giới.
Thay vào đó, các nghiên cứu ở Việt Nam được thực hiện tại những vùng dân cư khác nhau, với nhiều độ tuổi và nghề nghiệp khác nhau. Tỷ lệ trầm cảm cũng có sự khác biệt trên các yêu tô như lứa tuổi, giới tính, nền văn hóa, trình độ, mức sống, " Một nghiên cứu về thực trạng tram cảm và một số yếu tổ nguy cơ đến trầm cảm ở người trưởng thành tại phường Sông Cầu, thị xã Bắc Kạn năm 2011 và đề xuất một số giải pháp đã cho kết quả tỷ lệ mắc trầm cảm ở người trưởng thành theo giới tính tại phường Sông Cầu là 4,3%, trong đó nam giới mắc trầm cảm chiếm 1,6% và ở nữ là 8,3% gấp hơn 5 lần so với nam giới; tỷ lệ mắc trầm cảm theo tình trạng hôn nhân cao nhất ở nhóm cớ vợ/chồng ly di/ly thân là 21,1%, tiếp theo là nhóm góa vợ/chồng chiếm 10,5%; với nhóm trình độ học van tỷ lệ mặc tram cảm cao nhất ở nhóm có trình độ phổ thông trung học chiếm 5,6%; với yếu tô nghề nghiệp, nhóm không nghề nghiệp có tỷ lệ mắc tram cảm cao nhất chiếm 18,1%; ở nhóm thu nhập gia đình, tỷ lệ mắc trầm cảm cao nhất ở nhóm thu nhập thấp chiếm 8,9% [2]. Nghiên cứu đã tập trung vào điều tra thực trạng tỉ lệ tram cảm có mối liên quan với các nhóm có yếu tố nguy cơ tram cảm như phụ nữ, tinh trạng ly hôn hoặc ly thân trong gia đình, áp lực nghề nghiệp, kinh tế.