CHƯƠNG I: MỘT SO VAN DE LÝ LUẬN VE HỘI CHUNG KIỆT SUC 1. Diém luận một số nghiên cứu dich té về Hội chứng kiệt sức Hội chứng kiệt sức (Burnout Syndrome) là một Hội chứng tâm lý mang tính nghề nghiệp xảy ra như một phản ứng với căng thang mãn tính không được xử lý, làm ảnh hưởng đến chat lượng cuộc sông ở cá nhân và ảnh hưởng đến hiệu suất công việc (Reith, 2018). Tình trạng kiệt sức có thể Xảy ra ở mọi đôi tượng hoạt động trong các lĩnh vực công việc khác nhau đòi hỏi ngưỡng chịu đựng cao ở cá nhân, khả năng chống chọi với căng thăng, sự nỗ lực của cá nhân dé hoàn thành mục tiêu công việc. Guler và cộng sự (2019) tiến hành nghiên cứu, theo đó áp dụng bảng kiểm kê “Maslach Burnout Inventory” cho tất cả các chuyên gia y tế làm việc tại bệnh viện.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, tổng tỷ lệ kiệt sức là 77,8% trong số những người tham gia. Điều này đã cho thay, hội chứng kiệt sức có thé xảy ra ở các chuyên gia trong lĩnh vực y tế ở mọi giai đoạn trong sự nghiệp của họ. Tỷ lệ mac Hội chứng kiệt sức trong số các chuyên gia chăm sóc sức khỏe đã ngày một tăng lên trong những năm gần đây và khác nhau giữa các quốc gia và tùy thuộc vao các lĩnh vực chuyên môn và đơn vi làm việc khác nhau. Được biết, hội chứng kiệt sức ảnh hưởng đáng kê đến công việc và đời sống xã hội của các cá nhân.
Một số nghiên cứu cho rằng, ở Hoa Kỳ hơn một nửa số bác sĩ tại đây đang gặp phải các dấu hiệu kiệt sức, có tỉ tệ gần gấp đôi so với người lao động ở các nhóm ngành nghề khác sau khi kiểm soát số giờ làm việc, tuổi tác, giới tính và các yếu tố liên quan khác. Tình trạng kiệt sức được chỉ báo là có chiều hướng gia tăng, ước tính trong vòng bốn năm từ 2013 đến 2017 tỉ lệ kiệt sức trên toàn quốc gia tăng lên 25% (Reith, 2018). Aiken và cộng sự (2001) cho thấy tình trạng kiệt sức về mặt cảm xúc chiếm 43% y ta và diéu dưỡng tại các bệnh viện tại Hoa Kỳ. MC-Hugh (201 1) cũng cho thấy tỷ lệ kiệt sức là 37% ở những y tả chăm sóc bệnh nhân trực tiếp tại viện dưỡng lão va 33% ở những y ta tại bệnh viện.
Daniel & cộng sự (2018) cũng cho thấy sự kiệt sức và tình trạng tâm lý không tốt đã được công nhận là những rủi ro nghé nghiệp phô biến trong số các chuyên gia y tế. Trong số các bác sĩ tại Hoa Ky, ty lệ mắc bệnh kiệt sức được ước tính là hơn 50%, cảm giác mỆt mỏi quá mức được báo cáo ở mức 45% và tỷ lệ tự tử cao gap 3-5 lần so với tỷ lệ tự tử trong dân số tông thẻ. Moss (2019) thông kê của từ các nhà nghiên cứu của Dai học Stanford khi xem xét mức độ căng thang tại nơi làm việc ảnh hưởng đến chi phí y tế và tỷ lệ tử vong ở Hoa Kỳ, ho phát hiện ra rằng nó đã tiêu tốn gần 190 tỷ đô la - chiếm khoảng 8% chi phí chăm sóc 13 sức khỏe quốc gia và gần 120.000 ca tử vong mỗi năm. Trên toàn thé giới có khoảng 615 triệu người mắc chứng lo âu; trầm cảm.
Theo một nghiên cứu gần đây của WHO, lực lượng lao động toàn cầu phải trả giá ước tính khoảng 1 nghìn tỷ USD do mat năng suất mỗi năm. Các công việc liên quan đến chăm sóc và được thúc đây bởi niềm đam mê như bác sĩ và nhân viên y tế là một trong những vai tro dé bị kiệt sức nhất và hậu quả có thé là sống hoặc chết; tỷ lệ tự tử ở những người chăm sóc cao hơn đáng ké so với tỷ lệ của công chúng - cao hơn 40% đôi với nam giới và cao hơn 130% đối với nữ giới. Moss (2019) cho răng một số nghiên cứu khác của APA tuyên bố rang những nhân viên kiệt sức có khả năng tích cực tìm kiếm một công việc khác cao gap 2,6 lần, khả năng bị ốm cao hơn 63% và khả năng phải đến phòng cấp cứu cao hơn 23%. Mijakoski (2022) cho răng ở các quốc gia khác nhau, căng thăng trong công việc ở giao viên đã được công nhận là một vấn đề phô biến, nhận được sự quan tâm nghiên cứu đáng kế.
Mặc dù các nghiên cứu chỉ ra rang tinh trạng kiệt sức dao động giữa các cá nhân và trong mỗi cá nhân, nhưng van thiếu bằng chứng liên quan đến tình trạng kiệt sức phát triển như thé nào theo thời gian và liệu nó là tinh trạng dai hạn hay ngắn hạn. người ta ước tinh rằng rất nhiều giáo viên Hoa Kỳ (từ 5% đến 20%), bat ké trình độ đều có biêu hiện kiệt sức, cho thay tính chất căng thăng của nghề day học. Trong một nhóm gồm 310 giáo viên trường học Thụy Điền, người ta cũng chỉ ra rằng tỷ lệ đáng kế giáo viên có dấu hiệu kiệt sức, lần lượt là 14% và 15%, được đo tại hai thời điểm cách nhau 30 tháng. Ngoài ra, một nghiên cứu được thực hiện ở các giáo viên Phần Lan đã phát hiện ra rằng tình trạng kiệt sức làm trung gian cho tác động của nhu cầu công việc cao đối với sức khỏe kém (Hakanen, 2006).
Đỗ Thị Lệ Hằng và cộng sự (2022) đã ghi nhận khoảng 37% giáo viên trung học cơ ở tại Việt Nam có mức độ kiệt sức khá cao. Với những biểu hiện kiệt sức liên quan đến cá nhân và công việc được thê hiện thông qua: cảm thấy mệt mỏi (29,1%); Cảm thấy kiệt quệ về thé chất (20,4%) và cam thay mát hết năng lượng vào cuối ngày làm việc (35,2%). Bên cạnh đó, kiệt sức liên quan đến học sinh là 17,6%. Và thông kê này cũng cho thấy tỉ lệ kiệt sức ở giáo viên trung học cơ sở cao gap 3 lần so với giáo viên mam non và tiểu hoc.
Nghiên cứu về sự kiệt sức của giáo viên trong thời điểm Covid — 19, đã chỉ ra rằng mức độ cạn kiệt cảm xúc và cá nhân hóa cao hơn có liên quan đến mức độ sợ hãi đối với COVID-19. Sự ác cảm với mam bệnh có mối tương quan mạnh với sự kiệt quệ vé cảm xúc. Ngoài ra, phụ nữ báo cáo mức độ cạn kiệt cảm xúc cao hơn và thấp hơn mức độ hoàn thành cá nhân. Xét về các điểm giới hạn, lần lượt là 43,4% và 21,1% báo cáo tình trạng kiệt sức về cảm xúc ở mức độ cao và trung bình; Ngoài ra, 19,2% và 23,1% báo cáo mức độ cá 14 nhân hóa cao và trung bình tương ứng, trong khi 44,5% và 17,2% báo cáo thành tích cá nhân thấp và trung bình (Padmanabhanunni & Pretorius, 2023).
Kiệt sức không chỉ xảy ra ở giáo viên mà còn xuất hiện cả ở đối tượng là học sinh và sinh viên. Trong đó, Lin và Huang (2014) cũng chỉ ra rằng sinh viên đại học ở Đài Loan có mức độ kiệt sức từ cao đến trung bình, điều này ảnh hưởng xấu đến việc học tập cũng như đời sông sức khỏe tinh thần của sinh viên. Theo khảo sát của Fan (2000), 86,6% sinh viên Trung Quốc cảm thay căng thăng cao độ trong đời sóng hoc tập, 55,3% trong đời sống xã hội và 32,5% trong vấn đề tài chính. Ở Đài Loan, nghiên cứu cho thấy sinh viên phải đối mặt với nhiều loại căng thăng trong cuộc sống như căng thăng về bản thân, căng thăng giữa các cá nhân, căng thang trong học tập và căng thăng về phát triển trong tương lai.
Điều này cho thay, mặc dù sinh viên không phải là người lao động, nhưng từ góc độ tâm lý, việc học của sinh viên cũng bao gồm các hoạt động câu trúc, chăng hạn như tham dự lớp học và hoàn thành deadline, đây cũng có thê coi là công việc. Tình trạng kiệt sức cũng có thé xuất hiện ở một số lĩnh vực khác nhau như kinh doanh, quản trị khách sạn. Trong đó, căng thăng tại nơi làm việc xuất phát từ tình trạng quá tải công việc, những cuộc tiếp xúc với khách hàng, những áp lực xoay quanh cấp trên, đồng nghiệp và cả thời gian hoàn thành công việc. Ngoài ra, mức lương, môi trường làm việc và các môi quan hệ đồng nghiệp trong tinh trạng xấu cũng sẽ dé dàng gây ra căng thang ở nhân viên (Bashir & Ramay, 2010).
Hiện nay, có rất nhiều các nghiên cứu về ảnh hưởng trực tiếp của việc cạn kiệt cảm xúc lên kết quả làm việc như năng suất lao động thấp, mức độ hài lòng về công việc thấp và ý định về doanh thu cao hơn trong nhiêu lĩnh vực. Tuy nhiên, các nghiên cứu về ảnh hưởng của việc cạn kiệt cảm xúc lên định hướng khách hàng hầu như chưa được nghiên cứu. Nghiên cứu tổng kết rằng định hướng khách hàng là một biến kết quả quan trọng và cần được quan tâm hơn trong các nghiên cứu lần thực hành về marketing hiện nay. Từ đó kết luận rằng định hướng khách hàng là chìa khóa dé thay đồi kết quả của doanh nghiệp và xứng đáng nhận được nhiều sự chú ý hơn từ các nhà nghiên cứu.
Tuy nhiên, còn ít các nghiên cứu về tinh trạng kiệt sức trong các lĩnh vực này. Khái niệm và các van dé lý luận về kiệt sức Ngày nay, căng thắng trong công việc đang là một khái niệm dần quen thuộc với con người và tác hại mà nó đem lại là điều không thé phủ nhận. Cá nhân khi phải chịu đựng căng thăng kéo dài trong công việc sẽ dẫn đến tình trạng kiệt sức hay còn gọi là Burnout. Thuật ngữ Burnout syndrome hay Hội chứng kiệt sức do Nhà tâm lý học người Mỹ Freudenberger (1974) đưa ra lần đầu tiên, ông cho rang kiệt sức là trạng thái mệt mỏi hoặc 15 thất vọng do các môi quan hệ nghề nghiệp không mang lại được phần thưởng như mong đợi.
Cụ thể, kiệt sức được mô tả nôi bật ở khía cạnh cảm xúc dần dần cạn kiệt, động lực suy giảm kèm theo đó là giảm tính cam kết trên nhóm ngành nghề trợ giúp con người như y tế và tâm lý. Dựa trên các khía cạnh này, Maslach và cộng sự (1981) cũng khăng định kiệt sức được nhận diện bởi ba khía cạnh của trải nghiệm kiệt sức như kiệt quệ cảm xúc (emotional exhaustion), phi cá nhân hóa ở một số tài liệu được dịch thành giải thé nhân cách (depersonalization) và suy giảm cảm nhận về thành tích (diminished sense of personal achievement). Kiệt sức về cảm xúc (Emotional exhaustion) là trạng thai mệt moi vé thé chat va kiét qué về cam xúc. Khia cạnh kiệt sức cũng được mô tả là mat năng lượng, can kiệt, suy nhược và mệt moi.