chương 1. TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU. Tổ chức nghiên cứu. Nghiên cứu lý luận.
Nghiên cứu thực tiễn. Các giai đoạn nghiên cứu. Các phương pháp nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu tài liệu.
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi. Phương pháp phỏng vấn sâu. Phương pháp thống kê toán học. 32 Tiểu kết chương 2.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU NHẬN THỨC CỦA SINH VIÊN VỀ RỐI LOẠN TRẦM CẢM. Thực trạng các nguồn thông tin của sinh viên về trầm cảm. Thực trạng nhận thức của sinh viên về bản chất của rối loạn trầm cảm. Thực trạng nhận thức của sinh viên về biểu hiện của rối loạn trầm cảm.
Thực trạng nhận thức của sinh viên về nguyên nhân của rối loạn trầm cảm. Thực trạng nhận thức của sinh viên về hậu quả của rối loạn trầm cảm. Thực trạng nhận thức của sinh viên về các biện pháp chữa trị rối loạn trầm cảm. 52 3 Footer Page 4 of 107.
Header Page 5 of 107. Thực trạng nhận thức của sinh viên về các biện pháp phòng ngừa rối loạn trầm cảm. 58 Tiểu kết chương 3. 61 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.
63 TÀI LIỆU THAM KHẢO. 67 4 Footer Page 5 of 107. Header Page 6 of 107. DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Viết đầy đủ DSM Diagnostic and Statistical Manual for Mental Disorders Sách chẩn đoán thống kê các rối loạn tâm thần của Hội tâm thần học Hoa Kì ĐH KHXH & NV Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn ĐH Y HN Đại học Y Hà Nội ĐLC Độ lệch chuẩn ĐTB Điểm trung bình TLGD Tâm lý giáo dục ICD International statistical classification of diseases and related health problems Bảng phân loại quốc tế về bệnh và các vấn đề sức khỏe WHO Tổ chức Y tế thế giới 5 Footer Page 6 of 107.
Header Page 7 of 107. DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 2.1: Đặc điểm của khách thể.1: Các nguồn thông tin của sinh viên về rối loạn trầm cảm.2: Nhận thức của sinh viên về bản chất của trầm cảm.3: Nhận thức của sinh viên về biểu hiện của rối loạn trầm cảm .4: Nhận thức của sinh viên về biểu hiện của rối loạn trầm cảm (phân chia theo nhóm biểu hiện đúng – sai) .5: Nhận thức của sinh viên về nguyên nhân dẫn đến trầm cảm.6: Nhận thức của sinh viên về các yếu tố ảnh hưởng đến rối loạn trầm cảm .7: Nhận thức của sinh viên về hậu quả của rối loạn trầm cảm (phân chia theo nhóm hậu quả đúng – hậu quả sai) .8: Nhận thức của sinh viên về các biện pháp chữa trị rối loạn trầm cảm .9: Ý kiến của sinh viên về các cơ sở hỗ trợ người trầm cảm .10: Nhận thức của sinh viên về các biện pháp phòng ngừa nguy cơ mắc rối loạn trầm cảm .11: Cách xử lý của sinh viên khi bản thân xuất hiện cảm xúc tiêu cực. 60 6 Footer Page 7 of 107. Header Page 8 of 107.
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 3.1: Quan điểm của sinh viên về trầm cảm .2: Nhận thức của sinh viên theo từng khoa về các nhóm biểu hiện của rối loạn trầm cảm .3: Nhận thức của sinh viên về nguyên nhân của rối loạn trầm cảm .4: Nhận thức của sinh viên về các yếu tố ảnh hưởng đến trầm cảm (phân chia theo nhóm những yếu số đúng và yếu tố sai) .5: Nhận thức của sinh viên về hậu quả của rối loạn trầm cảm .6: Nhận thức của sinh viên về đối tượng trợ giúp người trầm cảm. 54 7 Footer Page 8 of 107. Header Page 9 of 107. Lí do chọn đề tài Xã hội ngày càng phát triển kéo theo rất nhiều sự thay đổi trong đời sống con người, cùng với nó là phát sinh ra nhiều mối nguy hiểm tiềm năng cho sức khỏe tâm trí.
Đó là một loạt các trạng thái khác nhau, từ những rối nhiễu tâm trí như lo âu, trầm cảm, ám ảnh hay các chứng hoang tưởng, tâm thần phân liệt, động kinh… Trong đó, trầm cảm là một hiện tượng bệnh lý xuất hiện ngày càng nhiều trong cuộc sống hiện nay. Trầm cảm ảnh hưởng sâu sắc đến chất lượng cuộc sống của tất cả mọi người: từ nam giới đến phụ nữ, từ trẻ em đến người trưởng thành, người cao tuổi và đặc biệt là sinh viên thì khả năng xuất hiện trầm cảm là tương đối cao vì đây là giai đoạn sinh viên phải thích nghi với môi trường mới, bắt đầu cuộc sống tự lập với nhiều khó khăn và bỡ ngỡ. Theo tác giả Brice Pith, từ lứa tuổi thanh thiếu niên trầm cảm là chứng bệnh tâm thần phổ biến nhất. Theo nhiều tác giả, trầm cảm chiếm tỉ lệ 3 – 5% dân số [20].
Theo Trần Kim Trang (2012) khi nghiên cứu đề tài “Stress, lo âu và trầm cảm ở sinh viên y khoa”, thiết kế cắt ngang mô tả có phân tích trên 483 sinh viên năm thứ 2 khoa y và răng hàm mặt Đại học y dược Thành phố Hồ Chí Minh trong tháng 6/2011. Sử dụng thang đánh giá DASS -21 đã cho thấy kết quả rằng: tỉ lệ sinh viên bị stress, trầm cảm và lo âu lần lượt là 71,4%; 28,8%; 22,4%, đa số ở mức độ nhẹ và vừa. 52,8% sinh viên có cùng 3 dạng rối loạn trên. Không có sự khác biệt giữa các mức độ stress, lo âu, trầm cảm theo nguồn cư trú và giới tính, ngoại trừ trầm cảm - nhất là ở mức độ nặng và rất nặng thì nam nhiều hơn nữ [21].
Rối loạn trầm cảm ảnh hưởng sâu sắc đến chất lượng cuộc sống của tất cả mọi người. Tuy nhiên, không phải ai cũng có sự nhận thức đúng đắn về vấn đề này. Sự hiểu biết không đầy đủ hoặc nhận thức sai lầm về vấn đề này có thể dẫn đến tình trạng xuất hiện những dấu hiệu trầm cảm hoặc nguy cơ tăng nặng đối với những cá nhân đã có dấu hiệu hoặc nguy cơ trầm cảm từ trước. Việc sinh viên có dấu hiệu trầm cảm nhưng không có hiểu biết về các biện pháp can thiệp mà e ngại, tự mình giải quyết hay cố tình lảng tránh đều có thể dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng.
Chính vì những lí do trên đã thôi thúc tôi tìm hiểu đề tài “Nhận thức của sinh viên về rối loạn trầm cảm”. Tôi hi vọng rằng, qua nghiên cứu này có thể phát hiện được thực trạng mức độ nhận thức của sinh viên về rối loạn trầm cảm, đồng thời, có thể đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao nhận thức của sinh viên về rối loạn trầm cảm. Đối tƣợng nghiên cứu Nhận thức của sinh viên về rối loạn trầm cảm. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu nhận thức của sinh viên về rối loạn trầm cảm, trên cơ sở đó đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao nhận thức của sinh viên về rối loạn trầm cảm, từ đó góp phần phòng ngừa trầm cảm ở sinh viên nói riêng và cộng đồng nói chung.
8 Footer Page 9 of 107. Header Page 10 of 107. Nhiệm vụ nghiên cứu Nghiên cứu lý luận nhận thức của sinh viên về rối loạn trầm cảm Nghiên cứu thực tiễn - Điều tra nhận thức của sinh viên về rối loạn trầm cảm. - So sánh nhận thức về rối loạn trầm cảm của sinh viên các khoa.
Đề xuất những kiến nghị về các biện pháp nhằm nâng cao nhận thức và phòng ngừa trầm cảm cho sinh viên 5. Khách thể nghiên cứu 600 sinh viên năm thứ 4 đang học tại các trường đại học trên địa bàn thủ đô Hà Nội 6. Phạm vi nghiên cứu 6. Giới hạn khách thể nghiên cứu 100 sinh viên khoa Kế toán – Đại học Kinh tế Quốc Dân 100 sinh viên khoa Cơ khí – Đại học Bách Khoa Hà Nội 100 sinh viên khoa Y Đa khoa – Đại học Y Hà Nội 100 sinh viên khoa Tâm lý – giáo dục học – Học viện Quản lý giáo dục 100 sinh viên khoa Tâm lý học và 100 sinh viên khoa Lịch sử – Đại học KHXH & NV – Đại học QGHN 6.
Giới hạn địa bàn nghiên cứu: Hà Nội 6. Giới hạn nội dung nghiên cứu Nhận thức về biểu hiện của rối loạn trầm cảm Nhận thức về hậu quả của rối loạn trầm cảm Nhận thức về các yếu tố ảnh hưởng đến rối loạn trầm cảm Nhận thức về điều trị bệnh trầm cảm Nhận thức của sinh viên về cách phòng ngừa trầm cảm 7. Giả thuyết nghiên cứu Nhận thức của của sinh viên về rối loạn trầm cảm còn hạn chế, cụ thể: sinh viên chưa có hiểu biết đầy đủ về các nguy cơ, biểu hiện, hậu quả, các yếu tố ảnh hưởng, cách điều trị và cách thức phòng ngừa rối loạn trầm cảm. Sinh viên các khoa như tâm lý học, tâm lý giáo dục học có nhận thức đầy đủ hơn về rối loạn trầm cảm so với những sinh viên các ngành khác.
Phƣơng pháp nghiên cứu 8. Phương pháp nghiên cứu tài liệu 8. Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi 8. Phương pháp phỏng vấn sâu 8.
Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học 9 Footer Page 10 of 107. Header Page 11 of 107. Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan các nghiên cứu về trầm cảm và nhận thức về trầm cảm 1.
Các nghiên cứu ở nước ngoài 1. Các lý thuyết về trầm cảm Thuyết phân tâm học về trầm cảm S.Freud cho rằng trầm cảm là một quá trình tương tự như đau buồn. Khi quá đau buồn, cá nhân có thể thoái lui về giai đoạn môi miệng của sự phát triển, như là một cơ chế phòng vệ chống lại những nỗi buồn quá lớn. Điều này dẫn cá nhân đến chỗ phụ thuộc hoàn toàn vào người mà họ yêu quý; hậu quả là, họ đồng nhất mình với những người đó và qua đó, một cách tượng trưng, họ giành lại được mối quan hệ đã mất.
Tiếp theo, qua một quá trình gọi là tiếp nhận (introjectinon), cá nhân hướng những cảm nhận về người họ yêu quý đến chính bản thân. Những cảm xúc này có thể bao gồm cả sự giận dữ, kết quả của các xung đột không giải quyết được. Phản ứng như thế, nhìn chung, chỉ diễn ra trong thời gian ngắn, nhưng có thể trở thành bệnh lí nếu cá nhân tiếp tục trong một thời gian dài, dẫn đến tự căm ghét bản thân và trầm cảm. Freud cho rằng trầm cảm “bình thường” là kết quả của những mất mát có tính tượng trưng hay tưởng tượng.