Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CUA VAN ĐÈ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu Rối loạn hành vi ở trẻ vị thành niên là một trong những chủ đề thu hút nhiều sự quan tâm, nghiên cứu của các nha tâm lý học lâm sang, tâm bệnh học, tâm thần học, công tác xã hội trên thế giới và Việt Nam. Các nghiên cứu của họ xoay quanh van đề nguồn gốc, các hình thức biểu hiện, các yếu tố củng cố, duy trì và các liệu pháp can thiệp. Dưới đây là một số kết quả nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước về rối loạn hành vi ở trẻ vị thành niên nói chung, trẻ vị thành niên sống trong các cơ sở bảo trợ nói riêng.
Một số nghiên cứu ở nước ngoài về rồi loạn hành vi ở trẻ vị thành niên Vấn đề nguồn gốc và các yếu tô củng có và duy trì rối loạn hành vi ở trẻ em, trẻ vị thành niên là những chủ đề thu hút được nhiều nhà nghiên cứu với những hướng tiếp cận khác nhau. Ferguson và cs (2009), dựa vào kết quả phân tích đa biến đã chỉ ra sự ảnh hưởng của môi trường gia đình, bạn bè, trầm cảm và phương tiện truyền thông đối với hành vi gây hắn, bạo lực ở thanh thiếu niên [19]. Anjali Subbarao và cs (2008) nghiên cứu về sự ảnh hưởng của gen và môi trường sống đối với rối loạn trầm cảm dién hình và rối loạn hành vi ở trẻ [17]. Những nghiên cứu gần đây về van đề nguồn gốc rối loạn hành vi ở trẻ em và trẻ vi thành niên chỉ ra sự tác động tương hỗ giữa các yếu tô sinh học, tâm lý và môi trường sống.
Các yếu tố này đều có thể đóng vai trò nguồn gốc hoặc làm gia tăng roi loạn hành vi ở trẻ. Một số nghiên cứu ở nước ngoài về trẻ vị thành niên sống trong cơ sở bao trợ xã hội Những nghiên cứu về những khó khăn tâm lý ở trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được nuôi dưỡng trong các cơ sở bảo trợ xã hội xuất hiện từ những năm 1990 của thế kỷ trước. Một trong số những nghiên cứu đầu tiên về chủ đề này là nghiên cứu về rối loạn tâm thần ở thanh thiếu niên trong các cơ sở chăm sóc nội trú (McCann, 1996); tiếp đến là những nghiên cứu về những điều được và mat của việc nuôi dưỡng trẻ em trong các cơ sở nội trú (Polnay, 1997); các yếu tố tâm lý xã hội của trẻ em sống trong các cở sở chăm sóc nội trú và các dich vụ trợ giúp (Hukkanen, Sourander, Bergroth, và Piha, 1999). Cho đến những năm gần đây, những khó khăn tâm lý ở trẻ em được nuôi dưỡng trong các cơ sở bảo trợ xã hội mới được quan tâm nhiều hơn.
Phần tổng quan của dé tài sẽ nêu ra một số nghiên cứu điền hình về: những khó khăn tâm lý điển hình ở trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn sống trong các cơ sở bảo trợ xã hội, các yếu tố nguy cơ làm gia tăng các khó khăn tâm lý, các yếu tố bảo vệ giúp trẻ tránh gặp phải các khó khăn tâm lý và các hình thức can thiệp những khó khăn tâm lý. Bảng số liệu dưới đây tổng hợp kết quả nghiên cứu những khó khăn tâm lý ở trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được nuôi dưỡng trong các cơ sở bảo trợ xã hội. Kết quả đánh giá bằng thang đo SDQ cho thấy, nhóm trẻ em sống trong cơ sở nội trú có điểm trung bình chung khó khăn tâm lý là M = 14,27, SD = 5,62; nhóm trẻ thỉnh thoảng được đưa vào sống trong các cơ sở nội trú sống: M = 16,33, SD = 4,52; nhóm trẻ sống ở nhà xã hội tại cộng đồng: M = 13,83, SD = 6,96; nhóm trẻ được các gia đình nhận nuôi: M = 14,46, SD = 5,74; sự khác nhau về điểm trung bình chung khó khăn tâm lý giữa các nhóm trẻ có ý nghĩa thống kê (Janssens và Deboutte, 2009). Kết quả đánh giá khó khăn tâm lý bằng bảng kiểm hành vi (CBCL) cho thấy, gần 2/3 số trẻ được nuôi dưỡng trong các cơ sở bảo trợ xã hội thuộc mẫu khảo sát có rối loạn tâm lý (Jozefiak và cs., 2016; Schmid và cs.
Khi so sánh nhóm trẻ được nuôi dưỡng ở các cơ sở nội trú với nhóm trẻ được các gia đình nhận nuôi, các tác giả phát hiện ra răng tỷ lệ trẻ em sông trong các cơ sở nội trú bị rôi loạn tâm lý cao hơn so với nhóm trẻ được các gia đình nhận nuôi. Tỷ lệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được nuôi dưỡng trong các cơ sở bảo trợ xã hội (cd sở nội trú, được các gia đình nhận nuôi) bị rôi loạn tâm lý cao gap ba lân so với nhóm em sông với cha mẹ tại cộng đồng không có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn (Bronsard và cs. Kết quả nghiên cứu này tương đồng với kết quả nghiên cứu của Ford, Vostanis, Meltzer và Goodman (2007). Tổng hop kết quả các đánh giá về khó khăn tâm ly ở trẻ em sông trong các cơ sở bảo trợ xã hội Số Trẻ em bị l Chân đoán Pay: x `.
he ~ ; Công cụ Tác giả Mẫu khảo sát lượng | roi loạn tâm lý ¬s theo ICD/ khảo sát (Ñ) (%) DSM Hukkanen Trẻ em song CBCL va Khon và cs., 1999 | trong khu nội trú 3I 59 % TRF ` Burns và cs ras cược nhận 63,1% 2004 ' Trẻ em a Ate sống 0 cơ 3803 88,6 % CBCL Không SƠ nol tru Schmid, ; Goldbeck, Trẻ em sông ở co 686 59,9 % CBCL/ Có Nuetzel và Sở noi trú YSR Fegert, 2008 Janssens và | Trẻ em được nhận SDQ, Deboutte, nuôi, trẻ em sống |_ 292 56 % CBCL và Không 2009 ở cơ Sở nội trú YSR Bảng hỏi cấu trúc Bronsard và | Trẻ em sống ở đánh giá oo, 183 48,6 % 1 Có cs., 2011 các cở sở nội trú rôi loạn tâm lý trẻ em Jozefiak và. K2 CBCL, Trẻ em sông ở ; cs., 2016 l oe 541 76,0 % DSM-IV Có các cơ sở nội trú [20] -R 1. Một số nghiên cứu ở nước ngoài về rồi loạn hành vi ở trẻ vị thành niên sống trong cơ sở bảo trợ xã hội Nghiên cứu của Jozefiak và cs. (2016) chỉ ra rằng, tăng động giảm chú ý có tỷ lệ mắc phải cao nhất ở trẻ em với 33,1%; tiếp đến là rối loạn lo âu với 24,4 %; tram cảm có tỷ lệ mac phải là 22,7% va ty lệ này ở ám sợ xã hội là 13,7%.
Một nghiên cứu khác cho thấy, 20% trẻ em có triệu chứng rối loạn hành vi; 12% có dấu hiệu thách thức, chống đối; 11% trẻ em bộc lộ sự thiếu tập trung, tỷ lệ trẻ có dau hiệu lo âu là 18%, tram cảm có ty lệ mắc phải 11% và 4% trẻ có dấu hiệu bị tén thương tâm lý sau sang chấn (Bronsard và cs. Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được các gia đình nhận nuôi hoặc được nuôi dưỡng tại các cơ sở bảo trợ xã hội còn gặp khó khăn học đường. Khoảng 62 % trẻ em trong mẫu khảo sát có ít nhất một khó khăn học đường, điển hình đó là các hành vi bạo lực học đường, từ chối tham gia các hoạt động diễn ra trong trường (Attar-Schwartz, 2009). Những khó khăn tâm lý trên có xu hướng kết hợp, đan xen, quyện vào nhau, biểu hiện bên ngoài của đứa trẻ có thé là những hành vi chống đối, phá phách, vi phạm kỷ luật, bên trong là một sự lo lắng, sợ hãi và buôn rau (Jozefiak và cs.
Bên cạnh đó, theo Thompson và Auslander (2007), hoàn cảnh kinh tế khó khăn, mối quan hệ phức tạp của trẻ với bạn bè trước đó có mối liên hệ với rối loạn hành vi sau khi trẻ được nuôi dưỡng trong các cơ sở bảo trợ xã hội. Như vậy, các nghiên cứu đã chỉ ra, trẻ em được nuôi dưỡng trong cơ sở bảo trợ xã hội có khó khăn tâm lý, trong đó có rối loạn hành vi - van đề mà nghiên cứu đang quan tâm. Trước thực trạng này, một câu hỏi được đặt ra với các nhà nghiên cứu: Điều gì có thể giúp trẻ em đang được nuôi dưỡng trong cơ sở bảo trợ xã hội tránh/ giảm thiêu các khó khăn tâm lý nói chung và roi loạn hành vi nói riêng? 1. Một số nghiên cứu ở nước ngoài về những yếu to gop phan lam tang / giam rồi loạn hành vì ở trẻ vị thành niên sống trong cơ sở bảo trợ xã hội Một số nghiên cứu sau này đã chỉ ra những yếu tố bảo vệ, giúp cho trẻ em và thanh thiếu niên bị ngược đãi phục hồi sức khỏe tâm than, tránh được những khó khăn tâm lý sau khi các em được đưa vào nuôi dưỡng trong các cơ sở bảo trợ xã hội, đó là môi trường sông an toàn, mối quan hệ thân thiện với cán bộ chăm sóc (Drapeau, Saint-Jacques, Lepine, Begin và Bernard, 2007).
Sống trong cơ sở nội trú có đầy đủ trang thiết bị, chế độ dinh dưỡng đảm bảo, các cán bộ chăm sóc được đảo tạo bài bản, hiểu được hoàn cảnh của trẻ giúp cho sự hình thành và phát triển tình cảm gắn bó với mọi người xung quanh, từ đó sự phục hồi sức khỏe diễn ra nhanh hơn (DuMont, Widom và Czaja, 2007). Khi trẻ em và thanh thiếu niên được nuôi dưỡng trong các cơ sở bảo trợ xã hội, các cán bộ chăm sóc, nhân viên công tác xã hội được dao tạo và có kinh nghiệm dé đáp ứng nhu cầu của trẻ, giúp các em tháo gỡ những van đề khó khăn (Kohlenberg và cs. Lòng tự trọng, chiến lược ứng phó với các sự kiện gây căng thang là các yếu tổ mang tính cá nhân, giúp trẻ tránh được những hành vi xâm kích, lo âu (Legault, Anawati & Flynn, 2006). Nghiên cứu của Guibord, Bell, Romano và Rouillard (2011) trên 122 thanh thiếu niên từ 12 — 15 tuổi, được chăm sóc và nuôi dưỡng trong các cơ sở bảo trợ xã hội ở Ontario, Canada chỉ ra rằng: mối quan hệ thân thiện với những cô bảo mẫu giúp thanh thiếu niên giảm triệu chứng trầm cảm.
Họ giúp thanh thiếu niên nhanh chóng thích ứng với môi trường sống mới; giáo đục các em những giá trị và kỹ năng sống giúp các em ứng phó với những khó khăn nảy sinh trong cuộc sống tập thể tại trung tâm. Kết quả nghiên cứu còn khăng định rằng, sự tham gia vào các hoạt động ngoại khóa giúp trẻ phát triển ý thức tự lực và các kỹ năng sống dé đương đầu tốt hơn với những thách thức trong cuộc sống khi các em rời khỏi trung tâm, bước vào cuộc song độc lập.