CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG NHẬN DIỆN VÀ THỂ HIỆN CẢM XÚC CỦA TRẺ 5-6 TUỔI 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về kỹ năng nhận diện và thể hiện cảm xúc của trẻ 5-6 tuổi 1. Nghiên cứu ở nước ngoài Tác giả Camras và Allison (1985) tìm hiểu sự hiểu biết của trẻ mẫu giáo, lớp một và lớp hai về các biểu hiện cảm xúc cho thấy sự hiểu biết và biểu hiện cảm xúc tăng lên theo độ tuổi, cảm xúc hạnh phúc và buồn bã được nhận biết dễ dàng hơn những cảm xúc khác: ngạc nhiên, sợ hãi, tức giận. Cảm xúc về sự ghê tởm được xác định ít chính xác nhất đối với trẻ [27].
Graziano và cộng sự (2007) đã khảo sát “Vai trò của sự điều chỉnh cảm xúc đối với thành công trong học tập của trẻ mẫu giáo”. Kết quả chỉ ra rằng sự điều chỉnh cảm xúc có liên quan tích cực đến báo cáo của giáo viên về sự thành công trong học tập của trẻ em cũng như điểm số cao ở môn toán và khả năng đọc viết sớm [33]. Một nghiên cứu khác của tác giả Trentacosta và cộng sự (2007) cũng có kết quả tương tự, năng lực cảm xúc của trẻ em mẫu giáo như một yếu tố dự báo năng lực học tập của trẻ ở lớp một. Kết quả này làm nổi bật những lợi ích tiềm năng của các chương trình phòng ngừa sớm lấy cảm xúc làm trung tâm và sự cần thiết phải xác định trẻ có vấn đề về chú ý càng sớm càng tốt để ngăn ngừa khó khăn trong học tập [49].
Tác giả Ribordy và cộng sự (2010) nghiên cứu bộ công cụ bằng hình ảnh để nghiên cứu nhận dạng cảm xúc và các chương trình trị liệu tình cảm với trẻ em. Tác giả đã tạo ra 54 hình ảnh đơn giản thể hiện sáu loại cảm xúc: vui, buồn, tức giận, ngạc nhiên, ghê tởm và sợ hãi. Các hình ảnh mô tả các tình huống khơi gợi cảm xúc và được xác định bằng cách cho trẻ 5 đến 6 tuổi chọn một trong ba cảm xúc với điều kiện phù hợp nhất với cảm xúc của nhân vật trong hình ảnh và tính điểm cho phần trăm câu trả lời đúng. Kết quả tác giả giữ lại 5 hình ảnh trong mỗi 7 danh mục cảm xúc được xác định chính xác thường xuyên nhất.
Trong đó hình ảnh với chủ đề cảm xúc “ngạc nhiên” là khó xác định nhất đối với trẻ và hình ảnh chủ đề cảm xúc “vui vẻ” là xác định dễ dàng nhất. Tác giả đề xuất 30 hình ảnh đơn giản thể hiện 6 loại cảm xúc ở nghiên cứu này sẽ thích hợp để sử dụng trong nghiên cứu nhận dạng cảm xúc và các chương trình trị liệu tình cảm với trẻ em [39]. Saltali và cộng sự (2010) nghiên cứu “Ảnh hưởng của chương trình giáo dục tình cảm đối với kỹ năng cảm xúc của trẻ 6 tuổi”, nghiên cứu trên 64 trẻ em độ tuổi mẫu giáo (6 tuổi), trong đó có 32 trẻ thực nghiệm tham gia Chương trình giáo dục cảm xúc dựa trên PATHS (Chiến lược Thúc đẩy Tư duy Thay thế) và 32 trẻ nhóm đối chứng. Dữ liệu được thu thập bằng thang đo Đánh giá kỹ năng cảm xúc của trẻ em (ACES) được phát triển bởi Shultz và Izard.
Kết quả cho thấy rằng Chương trình giáo dục cảm xúc đã làm tăng các kỹ năng cảm xúc của trẻ ở một mức độ đáng kể và có ảnh hưởng lâu dài đến các kỹ năng cảm xúc của trẻ [43]. Bassett và cộng sự (2012) nghiên cứu “Cấu trúc kiến thức cảm xúc của trẻ mẫu giáo”, kết quả của nghiên cứu hỗ trợ cho việc đánh giá kiến thức cảm xúc để dự đoán các hành vi học tập và năng lực xã hội của trẻ em. Những phát hiện này đặc biệt quan trọng đối với giáo dục mầm non về tầm quan trọng về kiến thức cảm xúc của trẻ em, nhấn mạnh các khả năng học tập của một đứa trẻ bị ảnh hưởng rất nhiều bởi kiến thức cảm xúc. Một ứng dụng thực tế kết quả của nghiên cứu này là tái khẳng định sự tập trung của giáo viên vào sự phát triển tình cảm – xã hội của trẻ để đạt được thành công ở trường.
Hơn nữa các nhà giáo dục mầm non vận dụng trong các tình huống mà cảm xúc được khơi gợi một cách thích hợp có thể dạy được trong độ tuổi này và có thể tập trung giảng dạy như vậy vào những cảm xúc tiêu cực và những cảm xúc có thể khác nhau giữa các cá nhân. Hơn nữa, mối quan hệ giữa các khía cạnh này của kiến thức cảm xúc và sự sẵn sàng đi học đã góp phần thêm vào việc tích lũy bằng chứng cho thấy chương trình mầm non tập trung vào kiến thức cảm xúc có nhiểu lợi ích đối với trẻ [26]. 8 Một nghiên cứu của Sauter và cộng sự (2013), “Nhận biết cảm xúc của trẻ từ các tín hiệu giọng nói” tiến hành trên 48 trẻ từ 5 - 10 tuổi được kiểm tra bằng cách sử dụng các nhiệm vụ bắt buộc phải lựa chọn với giọng nói không lời và giọng nói đa cảm thể hiện các trạng thái tích cực, trung tính và tiêu cực khác nhau. Kết quả cho thấy trẻ 5 tuổi đã thành thạo trong việc giải thích một loạt các dấu hiệu cảm xúc từ các tín hiệu giọng nói, hiệu suất được cải thiện theo độ tuổi.
Nghiên cứu cũng kết luận rằng nhiệm vụ nhận biết cảm xúc thính giác này phù hợp với nhiều lứa tuổi trẻ em. Nghiên cứu sử dụng phương pháp thực nghiệm để điều tra yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng nhận biết cảm xúc của trẻ [44]. Sala và cộng sự (2014) nghiên cứu sự phát triển các chiến lược điều chỉnh cảm xúc của 69 trẻ trong độ tuổi từ 3 đến 6 tuổi, kết quả cho thấy có sự khác biệt đáng kể về giới tính và tuổi tác được xác định có liên quan đến chiến lược điều chỉnh cảm xúc. Ngoài ra, kỹ năng ngôn ngữ có lời, ngôn ngữ không lời và khả năng hiểu cảm xúc được phát hiện có liên quan đến việc sử dụng các chiến lược điều chỉnh cảm xúc được quan sát, mặc dù chỉ ở những độ tuổi cụ thể [41].
Maria và cộng sự (2017) nghiên cứu ảnh hưởng giữa kiến thức về cảm xúc và sự chú ý của trẻ. Nhóm nghiên cứu quan sát 576 trẻ từ 4 đến 6 tuổi và phỏng vấn giáo viên của trẻ tại thời điểm T1 (bắt đầu nghiên cứu) và thời điểm T2 (sau 12 tháng) để đánh giá các vấn về chú ý và kiến thức cảm xúc của chúng. Kết quả chỉ ra rằng kiến thức về cảm xúc của trẻ ở T1 đã góp phần giải thích các vấn đề về sự chú ý của chúng ở T2, sau khi khả năng ngôn ngữ và các vấn đề về chú ý của chúng ở T1 đã được kiểm soát. Các vấn đề về chú ý có khả năng cản trở trẻ em tiếp thu kiến thức về cảm xúc của chính mình và của người khác.
Trẻ em ít hiểu biết về cảm xúc có xu hướng gặp khó khăn trong việc thể hiện cảm xúc cũng như giải thích và chia sẻ cảm xúc. Do đó trẻ có thể dành nhiều thời gian hơn để hiểu về chúng và có thể tỏ ra thiếu chú ý [36]. Nhận biết và thấu hiểu cảm xúc là những kỹ năng cần thiết trong giao tiếp phi ngôn ngữ và trong hoạt động xã hội hàng ngày. Nghiên cứu của tác giả 9 Covic và cộng sự (2020) nhằm mục đích so sánh cách trẻ em độ tuổi mẫu giáo (tuổi trung bình là 51,01 ± 9,65 tháng) nhận biết các biểu hiện cảm xúc trên khuôn mặt từ hình ảnh khuôn mặt tĩnh so với các biểu hiện cảm xúc bằng giọng nói từ âm thanh (giọng nói).
Kết quả là trẻ nhận biết cảm xúc khi nhìn vào hình ảnh khuôn mặt tĩnh dễ dàng hơn so với việc diễn giải cảm xúc truyền qua giọng nói đơn thuần; khả năng diễn giải cảm xúc từ cả khuôn mặt và giọng nói tỉ lệ thuận với độ tuổi; dễ dàng xác định cảm xúc “vui” từ biểu hiện khuôn mặt hơn là cảm xúc “tức giận” hoặc “buồn”, trong khi cảm xúc “buồn” có thể dễ dàng nhận ra từ lời nói đơn thuần hơn là chỉ qua hình ảnh trên khuôn mặt; trẻ em gái biểu hiện cảm xúc “buồn” trên khuôn mặt tốt hơn đáng kể so với trẻ trai [28]. Hamaidi và cộng sự (2021) “Quy định cảm xúc và mối liên quan với năng lực xã hội của trẻ em mẫu giáo ở Jordan”. Kết quả nghiên cứu cho thấy những người tham gia có mức độ điều tiết cảm xúc và năng lực xã hội mức trung bình. Có mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa năng lực điều chỉnh cảm xúc của trẻ em và năng lực xã hội, mối tương quan giữa khả năng điều tiết cảm xúc và mỗi năng lực xã hội khác nhau (thích ứng chung, điều chỉnh cảm xúc tổng thể, tương tác xã hội với bạn bè và tương tác xã hội với người lớn) có ý nghĩa thống kê.
Không có sự khác biệt về giới có ý nghĩa thống kê trong mối quan hệ giữa điều chỉnh cảm xúc và năng lực xã hội [34]. Nicolaidou và cộng sự (2022) thực nghiệm trên 20 trẻ mầm non (4-6 tuổi) bởi một ứng dụng trò chơi trên điện thoại di động về nhận dạng cảm xúc và quản lý cơn giận dữ cho trẻ em trước tuổi đi học. Kết quả cho thấy 11/20 trẻ có thể nhớ lại ít nhất một kỹ thuật quản lý cơn giận dữ nhưng chỉ 7/20 trẻ có thể xác định hoặc chứng minh một kỹ thuật có thể áp dụng trong một tình huống căng thẳng trong cuộc sống thực tế. Cần có thêm các lời nhắc nhở hoặc phần thưởng động viên để trẻ em tham gia nhiều hơn một kỹ thuật quản lý cơn giận và tránh hiểu sai.
Ứng dụng trò chơi này có thể là phương pháp hiệu quả để giáo dục cảm xúc cho trẻ em với chi phí hợp lý, có thể tiếp cận và hấp dẫn [37]. 10 Các nghiên cứu của các tác giả nước ngoài cho thấy, kỹ năng nhận diện và thể hiện cảm xúc của trẻ có khả năng dự báo về trí thông minh, thành tích học tập cũng như khả năng thành công trong tương lai; trẻ em ít hiểu biết về cảm xúc có xu hướng gặp khó khăn trong việc thể hiện cảm xúc cũng như giải thích và chia sẻ cảm xúc. Quan trọng hơn, các tác giả cho rằng có thể áp dụng các chương trình giáo dục tăng các kỹ năng cảm xúc của trẻ ở một mức độ đáng kể.