Chương 1 Cơ SỞ LÝ LUẬN VÈ QUẢN LÝ GIÁO DỤC KỸ NĂNG XÃ HỘI CHO HỌC SINH TIÈU HỌC LỚP 1, 2 THÔNG QUA DẠY HỌC CÁC MÔN HQC THEO HƯỚNG TRẢI NGHIỆM 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 1. Các nghiên cửu về giáo dục kỹ năng xã hội ỉ. Những nghiên cứu ở nước ngoài Từ những năm 1990, thuật ngữ “kỹ năng xà hội’1 đã xuất hiện trong một số chương trình hành động của các tồ chức lớn trên thế giới và trong nhiều chương trình giáo dục của nhiều nước trên thế giới.
Các nghiên cứu trên thế giới đều hướng tới tỉm một quan niệm chung về KNXH và GD KNXH, từ đó đưa ra mục tiêu, nội dung giáo dục KNXH. Các tổ chức lớn trên thế giới đi tiên phong trong việc khuyến khích tất cả các quốc gia trên đưa GD KNXH vào chương trình GD của mình. Mục têu của GDKNXH cho thể hệ trẻ toàn cầu được các tổ chức này thống nhất là nâng cao tiềm nãng của con người, đặc biệt là thế hệ trẻ học để có được những hành động nhằm thích ứng và làm chủ cuộc sống, nâng cao chất lượng cuộc sống. Theo tổ chức UNICEF (Quỹ Nhi đồng liên hiệp quốc), nhừng thử thách mà trẻ em và thanh niên phải đối mặt là rất nhiều và đòi hỏi cao hơn là kỹ năng đọc, viết, và tính toán; GD KNXH là tạo ra sự thay đổi hành vi, là khả năng chuyển đổi kiến thức và thái độ thành hành động UNICEF đề nghị hệ thống KNXH gồm ba nhóm kỹ năng được nhìn nhận dưới góc độ tồn tại và phát triền cá nhân bao gồm: Nhóm kỹ năng tự nhận thức và sống với với chính mình (kỹ năng tự nhận thức và đánh giá bản thân; kỹ năng xây dựng mục tiêu cuộc sống; kỹ năng bảo vệ bản thân; ); Nhóm kỹ năng tự nhận thức và sống với người khác (kỳ năng thiết lập quan hệ, kỹ năng hợp tác, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng làm việc nhóm,.); Nhóm kỹ năng ra quyết định và làm việc hiệu quả (kỹ năng phan tích vấn đề, kỹ năng nhận thức thực tế, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng ứng xử, kỹ năng giải quyết vấn đề.) Theo quan niệm của tổ chức UNESCO, hệ thống KNXH bao gồm hai nhóm kỹ năng: Nhóm kỹ năng chung (gồm: kỹ năng nhận thức, kỹ năng đương đầu với 6 cảm xúc, kỹ năng xà hội hay kỹ năng tương tác); Nhóm kỹ năng trong từng vân đê cụ thể (gồm: các vấn đề về giới, phòng chống bạo lực, gia đình và cộng đồng, bảo vệ thiên nhiên và môi trường) Theo quan niệm của tổ chức WHO (Tổ chức Y tế thế giới), KNXH là năng lực tâm lý xã hội đế đáp ứng và đối phó với những yêu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày Cụ thể hơn, nó là khả năng ứng phó một các hiệu quả với những yêu cầu và thách thức của cuộc sống, đó cũng là khả năng một cá nhân duy trì trạng thái khỏe mạnh về tinh thần biểu hiện qua các hành vi tích cực và phù hợp khi tương tác với người khác, với nền văn hóa và môi trường xung quanh; nàng lực tâm lý xã hội có vai trò phát huy sức khoe về thể chất, tinh thần và xã hội Các tổ chức WHO, UNESCO, UNICEF nhìn chung đã thống nhất rằng KNXH là những khả năng hành động mà con người cần rèn luyện để thích ứng và làm chủ cuộc sống hiện tại cũng như tương lai của mình và đã xác định 10 KNXH cơ bản, được xem như cần thiết để giáo dục cho tất cả mọi người là: kỹ năng ra quyết định, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng tư duy phê phán, kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng tư duy sáng tạo, kỹ năng truyền thông có hiệu quả, kỹ năng giao tiếp, kỳ năng tự nhận thức bản thân, kỳ năng thấu cảm, kỹ năng ứng phó với cảm xúc, kỹ năng ứng phó với stress Từ những năm 2000, các quốc gia trên thế giới khi xây dựng chương trình giáo dục cho riêng mình đã nhấn mạnh GDKN và thái độ cho tất cả học sinh các độ tuổi, trong đó có GDKNXH cho học sinh trong nhà trường GDKNXH đã được thực hiện ở hầu hết các nươc trên thế giới Trong diễn đàn thế giới về GD cho mọi người họp tại Senegan (2000) Chương trình hành động Dakar đà đề ra 6 mục tiêu, trong đó mục tiêu 3 nói rằng: “Mồi quốc gia phải đảm hảo cho người học được tiếp cận chương trình giảo dục kỹ năng xã hội phù họp” Còn trong mục tiêu 6 yêu cầu Khỉ đảnh giá chất lượng giảo dục cần phải đánh giá kì năng sống của người học Như vậy học KNXH trở thành quyền của người học và chất lượng GD phải được thề hiện cả trong KNXH của người học cho nên GDKNXH cho người học đang trở thành một nhiệm vụ quan trọng đối với GD các nước Nhu cầu vận dụng KNXH một cách trực tiếp hay gián tiếp được nhấn mạnh trong nhiều khuyến nghị mang 7 tính quốc tế, bao gồm cả trong diễn đàn GD cho mọi người trong việc thực hiện công ước quyền trẻ em; trong hội nghị quốc tế về dân số và phát triển.gần đây nhất là Tuyên bố Cam kết của Tiểu ban Đặc biệt thuộc Liên họp quốc về HIV/AIDS (tháng 6 năm 2001), các nước đó đồng ỷ rằng “Đến 2005 đảm bảo ràng có ít nhất 90% và vào năm 2010 ít nhất có 95% thanh niên và phụ nữ tuổi từ 15 đến 24 có thể tiếp cận thông tin, GD và dịch vụ cần thiết đề phát triển KNXH để giảm nhừng tồn thương do sự lây nhiễm HIV” (Nguồn: Uniceflife skils) Tóm lại, GDKNXH là vấn đề được quan tâm nghiên cứu ngày càng nhiều từ hơn 50 năm qua, từ các tổ chức về văn hóa, khoa học, giáo dục, y tế có tầm cỡ toàn cầu đến các quốc gia, trung tâm nghiên cứu, các tổ chức giáo dục, trường học, từ những nhà nghiên cứu, nhà khoa học Nhìn chung, KNXH được hiểu là những kỹ năng xã hội và tâm lý, là những khả năng hành động mà con người cần rèn luyện đế thích ứng và làm chù cuộc sống hiện tại cũng như tương lai cùa mình GDKNXH được coi như là một nội dung GD quan trọng đối với HS vì nó có ảnh hưởng và tác động tích cực đến quá trinh hình thành nhân cách của HS Trên thế giới, GDKNXH thường được thực hiện bằng các chương trình huấn luyện kỹ năng với những kết quả GD tích cực và có giá trị 1.
Những nghiên cứu ở trong nước Từ những năm 1990, theo xu thế phát triển giáo dục chung của thế giới, thuật ngữ KNXH và GDKNXH bắt đầu được quan tâm nhiều tại Việt nam bởi chính phủ và các bộ, ngành liên quan Năm 1996, chương trình: “giáo dục kỹ năng xã hội đề bào vệ sức khỏe và phòng chống HIV/ AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường” đã giáo dục cho thanh thiếu niên các kỹ nàng: tự nhận thức, giao tiếp, kiên định, xác định giá trị Từ năm 2000, chủ đề GDKNXH cho học sinh được bàn thảo và nghiên cứu ngày càng nhiều Bộ GD-ĐT xác định GDKNXH cho học sinh là một trong những nội dung chính thức của giáo dục phổ thông. Bên cạnh đó, các chương trình GDKNXH được tài trợ xuất hiện ngày càng nhiều, ví dụ như chương trình GDKNXH cho HS qua ngoại khóa theo Dự án VIE 01/2010 do UNFPA tài trợ với nhiều tài liệu hướng dẫn các hoạt động ngoại khóa về giáo dục rất bổ ích. Các hội thảo và hội nghị ờ phạm vi quốc gia đã được tổ chức để bàn về GDKNXH cho 8 HS. Năm 2003 tại Hà Nội, với sự tài trợ của UNESCO, Bộ GD-ĐT đã tô chức hội thảo quốc gia: “Chất lượng giáo dục và kỹ nàng xã hội”.
Tham gia hội thảo này, các nhà giáo dục và các đại biểu đã cùng nhau bàn luận các vấn đề về KNXH, đánh giá chất lượng GDKNXH trong những năm qua, giới thiệu một số mô hình GDKNXH tiêu biểu. Hội thảo đã hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về lý luận và thực tiễn của GDKNXH cho HS Việt Nam. Từ năm học 2007 - 2008, Bộ GD-ĐT đà chính thức phát động phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” và xác định GDKNXH cho HS là một trong năm nội dung của phong trào này trong các trường phố thông giai đoạn 2008 - 2013 trong hầu hết các trường học từ mầm non đến đại học trên phạm vi cả nước Từ đó, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về GDKNXH cho HS được thực hiện Nhiều tác giả đà nghiên cứu cơ sở lý luận của GDKNXH và chỉ ra nội dung cần giáo dục cho học sinh các cấp Các tác giả đã nhấn mạnh GDKNXH cho HS cần được thực hiện chủ yếu thông qua chương trình các môn học, các hoạt động giáo dục của nhà trường và có thế cùng với các chương trình của các dự án do nước ngoài tài trợ. Đinh Thị Thanh Ngọc (2008) đà nghiên cứu nhu cầu học tập kỹ năng xã hội trong nhà trường của học sinh trường trung học phồ thông, nghiên cứu các vấn đề lý luận về KNXH và GDKNXH, tim hiểu thực trạng nhu cầu học tập KNXH của HS và đề xuất một số kiến nghị nhàm nâng cao hiệu quả GDKNXH.
Phan Thanh Vân (2010) nghiên cứu GDKNXH cho học sinh trung học phồ thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp với mục đích nhằm tăng cường và nâng cao hiệu quả GDKNXH cho học sinh. Huỳnh Văn Sơn đã xây dựng cơ sở lý luận về KNXH và GDKNXH cho học sinh phổ thông các cấp, từ năm 2009 đến nay. Nhiều ấn phẩm về GDKNXH cho HS đã được xuất bản. Và vấn đề GDKNXH cho người học đã được đề cập trong kế hoạch hành động quốc gia GD cho mọi người (2003-2015) đối với nhóm mục tiêu 4 “Giáo dục thường xuyên”.
GDKNXH cũng được phản ánh phần nào trong mục tiêu đối mới GD phổ thông ở các bậc học. Khái niệm KNXH thực sự được hiểu với nội hàm đầy đủ và đa dạng sau hội thảo “Chất lượng GDKNXH” do UNESCO tài trợ được tổ chức tháng 10 năm 2003 9 tại Hà Nội. Từ đó, những người làm công tác GD ở Việt Nam đã hiểu đầy đủ hơn về KNXH và trách nhiệm phải GDKNXH cho người học. Vì vậy, KNXH và việc GDKNXH cho thanh thiểu niên nhận được sự quan tâm đặc biệt của nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam trong thời gian gần đây với những công trinh nghiên cứu được triển khai ờ các cấp.
Một trong những người đầu tiên có những nghiên cứu mang tính hệ thống về KNXH và GDKNXH ở Việt Nam là tác giả Nguyễn Thanh Bình cùng cộng sự.