CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN KỸNĂNG GIAO TIẾP CHO TRẺ KHUYẾT TẬT TRÍ TUỆ 4-5 TUỔI 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 1. Tổng quan về kĩ năng giao tiếp ở trẻ khuyết tật trí tuệ 1. Trong nước Trong lĩnh vực giao tiếp ở Việt Nam, công cụ đánh giá và thang đo không được phát triển nhiều.
Do đó, các KNGTT của trẻ KTTT thường được đánh giá bằng các trắc nghiệm nước ngoài đã được Việt hoá. Nhiều thang đo phổ biến trên thế giới đã được áp dụng tại Việt Nam, ví dụ như Small Steps (quyển 3) dựa trên chương trình Macquarria cho học sinh kém phát triển nhận thức, và Thang đo hành vi thích ứng Vineland II (2005), đưa ra kết quả về các kĩ năng giao tiếp như nhận thức, biểu đạt và hành động. Một số tác giả đã nghiên cứu các KNGT của học sinh KTTT trong các môi trường chuyên biệt. Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Quỳnh Anh và các cộng sự, khiếm khuyết về KNGT là một trong những khiếm khuyết phổ biến của trẻ KTTT.
Học sinh khuyết tật trí tuệ tại các trường chuyên biệt miền Trung thường gặp nhiều khó khăn về KNGT, bao gồm cả các lĩnh vực tiếp nhận, thể hiện và đọc viết. Tác giả Đinh Nguyễn Trang Thu (2017) nghiên cứu về KNGT ở trẻ KTTT và kết luận rằng, các học sinh KTTT ở bậc tiểu học thường có các đặc điểm sau đây: các KNGT của trẻ KTTT đều ở mức độ trung bình; các KNGT có sự liên kết chặt chẽ với mức độ khiếm khuyết, chứ không phụ thuộc vào giới tính của trẻ KTTT; các em có thế mạnh về kĩ năng nghe, kĩ năng sử dụng các yếu tố phi ngôn ngữ và KNGT với cá nhân/cộng đồng. Tuy nhiên, các em thường gặp hạn chế về kĩ năng sử dụng ngôn ngữ viết, kĩ năng kiểm soát và điều khiển hành vi giao tiếp, cũng như kĩ năng điều khiển cảm xúc bản thân. Trên thế giới Nghiên cứu về vấn đề giao tiếp của trẻ em đã được quan tâm từ rất sớm trên toàn thế giới, đồng thời với sự ra đời của ngành tâm lý học trẻ em vào đầu thế kỷ XX.
Tại Xô Viết, các nhà giáo dục học tập trung nghiên cứu về vấn đề 5 giao tiếp của trẻ em trong độ tuổi từ 0-6, bao gồm đặc điểm giao tiếp của trẻ, quá trình phát triển giao tiếp của trẻ, và mối quan hệ giữa giao tiếp với các chức năng tâm lý khác của nhân cách như động cơ ngôn ngữ. Các nghiên cứu này tập trung vào các vấn đề phương pháp luận và đo lường giao tiếp của trẻ bằng các trắc nghiệm và trắc đạc xã hội. Nhiều nhà nghiên cứu tiêubiểu đã đưa ra các nghiên cứu về giao tiếp của trẻ nhỏ trên toàn thế giới. Tại Xô Viết, nhà tâm lý học G.Spits (1968), và Bianka Zazzo (1990) là những nhà nghiên cứu tiêu biểu.
Các nghiên cứu về giao tiếp của trẻ nhỏ chủ yếu tập trung vào trẻ ở lứa tuổi mẫu giáo, với các hướng nghiên cứu như sự phát triển giao tiếp ở trẻ mẫu giáo của M.chikhiepva (1975) với sự phát triển ngôn ngữ của trẻ em trước tuổi đi học, I.Panko (1985) với giao tiếp sư phạm trong giáo dục trước tuổi học. Ở Mỹ và các nước phương Tây, nhiều nhà tâm lý học nghiên cứuvề vấn đề giao tiếp của trẻ em, như H.Wallon (người Pháp) đã đưa ra nghiên cứu về giao tiếp của trẻ em thông qua "đối thoại qua cơ bắp", Bowlby và Ainswrth (1970) đã nghiên cứu sự gắn bó mẹ-con, và N.Spitz đã nghiên cứu tác động và sự ảnh hưởng của mẹ đến tâm lý của trẻ. Suy giảm chức năng xã hội là một đặc điểm liên quan đến khuyết tật phát triển và chẩn đoán chậm phát triển trí tuệ, cũng như của nhiều khuyết tật phát triển khác. Báo cáo của Hội đồng nghiên cứu quốc gia về chậm phát triển trí tuệ và các yêu cầu đủ điều kiện vì lợi ích an sinh xã hội cho thấy đánh giá kỹ năng xã hội là một ưu tiên quan trọng.
Tuy nhiên, các nghiên cứu cụ thể về phát triển kỹ năng giao tiếp và KNGT cho trẻ KTTT ở lứa tuổi mầm non vẫn còn hạn chế. Tổng quan nghiên cứu về biện pháp phát triển kỹ năng giao tiếp chotrẻ khuyết tật trí tuệ. Trong nước Trong nghiên cứu của Nguyễn Hà Ly (2008) về "Xây dựng và sử dụng một số trò chơi nhằm hình thành phát triển kĩ năng xã hội cho trẻ chậm phát triển trí tuệ trong lớp chuyên biệt", tác giả đã khẳng định rằng việc sử dụng trò chơi 6 trong phát triển KNGT cho trẻ KTTT đã giúp các học sinh thích thú và hào hứng tham gia vào bài học mới. Từ đó, việc phát triển kỹ năng xã hội cũng như luyện tập các KNGT đã được cải thiện so với giờ học bình thường.
Năm 2014, trong công trình nghiên cứu của Đỗ Thị Thảo về "Biện pháp giáo dục kĩ năng thiết lập mối quan hệ xã hội cho trẻ khuyết tật trí tuệ nhẹ 4-5 tuổi trongmôi trường giáo dục hoà nhập", tác giả đã tìm hiểu thực trạng về mức độ phát triển của kỹ năng thiết lập mối quan hệ xã hội ở trẻ KTTT nhẹ trong độ tuổi 4-5 tuổi. Kết quả cho thấy kỹ năng xã hội ở nhóm trẻ này còn yếu, đặc biệtlà kỹ năng giao tiếp với các bạn cùng nhóm và kỹ năng chia sẻ đồ dùng. Từ thực tế này, tác giả đã đề xuất 3 nhóm biện pháp giáo dục để giúp trẻ phát triển kỹ năng thiết lập các mối quan hệ xã hội tốt hơn và giúp trẻ hoà nhập xã hội trong môi trường giáo dục hoà nhập. Trên thế giới Trong lĩnh vực nghiên cứu về trẻ khuyết tật trí tuệ (KTTT), những nghiên cứu về vai trò của môi trường giáo dục và kỹ năng giao tiếp (KNGT) đối với sự phát triển của trẻ KTTT đang được quan tâm.
Theo nhóm tác giả Raihil Mahyuddin và Habibah Elias, môi trường giáo dục tốt có vai trò quan trọng trong việc tạo ra sự tương tác tốt giữa trẻ và các bạn trong lớp, cũng như giữa trẻ với thầy cô giáo. Tác giả Steven Gutstin cho rằng phát triển KNGT cho trẻ cần phải xây dựng môi trường giao tiếp tốt và phát triển mối quan hệ xã hội giúp trẻ hiểu về thế giới xung quanh. David Warden và Donal Christie cũng nhấn mạnh vai trò của giáo dục đúnghướng từ gia đình đến trường học trong việc phát triển KNGT cho trẻ. Tara Winterton đưa ra các cách thức tác động trong môi trường giáo dục nhằm hỗ trợ trẻ có khó khăn trong giao tiếp, và nhóm tác giả Abbeduto & Rosenberg (1993) cho rằng KNGT có mối liên hệ chặt chẽ với sự phát triển các chức năng tâm lí ở trẻ KTTT.
Về nghiên cứu về vai trò của KNGT trong sự phát triển của trẻ KTTT, nhóm tác giả Karoline Gooden và Jacqui Kearns (2013) cho rằng KNGT là nền tảng giúp trẻ khám phá thế giới xung quanh và hoà nhập vào cuộc sống. Các tác giả Beisler, Frank, Gooden Caroline và Owen Hargie đưa ra các KNGT cơ bản 7 như kỹ năng hiểu và bày tỏ quan điểm, kỹ năng biểu đạt cảm xúc và kỹ năng chia sẻ thông tin, và nhiều nghiên cứu khác cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của kỹ năng giao tiếp với sự phát triển của trẻ KTTT. Trong lĩnh vực này, đề tài nghiên cứu về phát triển KNGT cho trẻ KTTT 4-5 tuổi sẽ góp phần quan trọng trong việc nuôi dưỡng và giáo dục nâng cao chất lượng sống cho trẻ. Các khái niệm cơ bản của đề tài 1.
Trẻ khuyết tật trí tuệ 1. Khái niệm Khái niệm KTTT theo Sổ tay chẩn đoán và thống kê những rối nhiễu tâm thần (DSM). Đây là khái niệm KTTT được sử dụng rộng rãi trên thế giới và tại Việt Nam. Theo bảng phân loại DSM V (2013): KTTT là một rối loạn diễn ra trong suốt quá trình phát triển, bao gồm sự thiếu hụt cả về trí tuệ và chức năng thích ứng về khái niệm, xã hội và các lĩnh vực thực hành.
Theo AAMR – Hiệp hội chậm phát triển tâm thần Mỹ (The American Association of Metal Retardation) cho rằng: KTTT là một dạng tật có đặc điểm là bị hạn chế đáng kể trong việc thực hiện chức năng trí tuệ và các kỹ năng thích nghi thực tế, thích nghi xã hội, kỹ năng nhận thức. Phân loại trẻ khuyết tật trí tuệ DSM-IV sử dụng chỉ số trí tuệ làm tiêu chỉ để phân loại KTTT. Có bốn mức độ KTTT là: - KTTT nhẹ: chỉ số trí tuệ tử 50-55 tới xấp xỉ 70. - KTTT trung bình: chỉ số trí tuệ từ 35-40 tới 50-55.
- KTTT nặng: chỉ số trí tuệ từ 20-25 tới 35-40. - KTTT rất nặng: chỉ số trí tuệ dưới 20 hoặc 25. AAMR sử dụng tiêu chí thích ứng để phân loại mức KTTT, tương ứng với bốn mức hỗ trợ. Theo cố bác sĩ Nguyễn Khắc Viện, dùng phương pháp đo trí tuệ để phân loại mức độ KTTT ta có bốn loại: - Chỉ số trí tuệ 70-80 là KTTT nhẹ: 8 - Chỉ số trí tuệ 50-70 là KTTT vừa - Chỉ số trí tuệ 30-50 là KTTT nặng - Chi số trí tuệ dưới 30 là KTTT rất nặng 1.
Khái niệm kỹ năng giao tiếp 1. Kỹ năng * Khái niệm: Kỹ năng là khả năng sử dụng tri thức và các kỹ xảo của mình một cách có mục đích và sáng tạo trong quá trình của hoạt động thực tiễn. Khả năng này là khả năng tự tạo của con người.P Dakharop đã dựa vào các bước tiến hành của một pha giao tiếp cho rằng kỹ năng giao tiếp gồm có kỹ năng sau: - Kỹ năng thiết lập các mối quan hệ trong giao tiếp - Kỹ năng cân bằng nhu cầu của chủ thể và đối tượng giao tiếp - Kỹ năng lắng nghe và biết cách lắng nghe đối tượng giao tiếp - Kỹ năng tự chủ cảm xúc và hành vi 1. Giao tiếp Khái niệm: Giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý tạo nên giữa hai hay nhiều người với nhau, chứa đựng một nội dung xã hội – lịch sử nhất định, có chức năng tác động, hỗ trợ lẫn nhau: thông báo, điều khiển, nhận thức, hành động và tình cảm.
nhằm thực hiện mục đích nhất định của một hoạt động nhất định. Phân loại: - Giao tiếp nội tâm - Giao tiếp ứng xử - Giao tiếp theo nhóm nhỏ - Giao tiếp cộng đồng - Giao tiếp tập trung - Giao tiếp phi ngôn ngữ - Giao tiếp có lời 1.